Vị ấy ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất (paṭhamaṁ jhānaṁ), một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh (vivekajaṁ pītisukhaṁ), có tầm (savitakkaṁ), có tứ (savicāraṁ). Khi ấy, dục tưởng (kāmasaññā) trước kia của vị ấy diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh (vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā) có mặt vào lúc đó; và lúc đó vị ấy trở thành người có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh. Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây là sự tu tập," Thế Tôn nói.
Vị ấy nhờ rời bỏ ham muốn và các pháp không thiện, chứng và trú Thiền-na thứ nhất (paṭhamaṁ jhānaṁ), một trạng thái hân hoan và an vui nhờ sự rời bỏ sinh ra (vivekajaṁ pītisukhaṁ), có sự khởi tạo ý nghĩ và duy trì quan sát (có tầm có tứ/savitakkaṁ savicāraṁ). Khi ấy, sự ham muốn trong Nhận thức về thực tại (kāmasaññā) của vị ấy diệt đi. Một Nhận thức về thực tại vi tế chân thật về hân hoan và an vui (hỷ lạc) do rời bỏ ham muốn được sinh ra (vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā); và lúc đó vị ấy có Nhận thức về thực tại mới vi tế chân thật về hân hoan và an vui do sự rời bỏ ham muốn sanh. Như vậy, do sự tu tập mà một Nhận thức về thực tại sinh ra, do sự tu tập mà một Nhận thức về thực tại diệt đi. Đây là sự tu tập," Thế Tôn nói.
phiền não (kilesa) / ô nhiễm
Upakkilesa: Tùy phiền não/Cấu uế (các vết nhơ nhỏ/phụ). Kilesa-kāma: Sự ham muốn thuộc về nội tâm (phân biệt với Vatthu-kāma - vật dục). Kilesa-parinibbāna: Niết-bàn phiền não (sự tắt ngấm của các uế nhiễm - giai đoạn chứng A-la-hán).
- 10 Kilesa-10 kiểu ô nhiễm (Thập phiền não/Thập cấu uế) Lobha (Tham) Dosa (Sân) Moha (Si) Māna (Mạn) Diṭṭhi (Tà kiến) Vicikicchā (Nghi) Thīna (Hôn trầm - lười biếng/ tâm co rút) Uddhacca (Trạo cử - phóng dật/ tâm ra ngoài) Ahirika (Vô tàm - không biết hổ thẹn) Anottappa (Vô quý - không biết sợ tội)
ly/ cách ly
- Rời bỏ, tách xa Sự lìa xa về khoảng cách (vật lý)
ái/ taṇhā / thèm khát
Taṇhā nghĩa gốc là “khát”, “cơn khát”, “sự khát khao”.
Tham ái (rāga)/ đắm nhiễm
Rāga thường đi với: Lobha (tham) Dosa (sân) Moha (si)
dục (cchanda)/ mong muốn; ý muốn; ý nguyện
- Trong 5 Triền cái (Nīvaraṇa - Chướng ngại): Nó là Kāma-cchanda (mong muốn hưởng thụ giác quan). -> Cần đoạn trừ.
- Trong 4 Như ý túc (Iddhipāda - Sức mạnh): Nó là yếu tố đầu tiên (Dục/Nguyện). -> Cần phát triển.
dục (kāma)/ sự dễ chịu từ giác quan;
Sự dễ chịu (đến từ giác quan)/ hoặc Thú vui giác quan Cảm giác "dễ chịu" sinh ra từ các giác quan. Ví dụ:
Vivicceva kāmehi -> "Cách ly khỏi các sự dễ chịu từ giác quan" (thay vì "Ly dục").
Kāma-sukha -> "An vui do sự dễ chịu từ giác quan mang lại".
dục giới / cõi dục [Thuật ngữ vũ trụ học] Giữ nguyên từ Hán-Việt "Dục giới" hoặc dịch là "Cõi dục" vì đây là thuật ngữ phân loại thế giới đã quá phổ biến và gọn gàng, khó thay thế bằng từ thuần Việt mà không bị dài dòng (như "Thế giới của các loài hưởng thụ giác quan"). Ví dụ: Kāma-bhava -> Sự hiện hữu trong Cõi dục.
(1)"hưởng thụ giác quan" nghĩa là "sự dễ chịu do giác quan mang lại" từ trung tính, không mang ý tiêu cực; Ví dụ: Kāma-cchanda -> mong muốn các hưởng thụ giác quan (kāmehi).
(2)"ham muốn" nghĩa là sự "ham muốn" của tâm lý về các sự dễ chịu do giác quan mang lại mang ý nghĩa tiêu cực Ví dụ: kilesa-kāma -> "Tâm ô nhiễm vì sự ham muốn các hưởng thụ giác quan"
Các từ ghép
- dục ái (Kāma-taṇhā)/ thèm khát ham muốn
- dục ái (Kāma-rāga)/ đắm nhiễm ham muốn
- dục tham (Kāma-cchanda) / ham muốn "hưởng thụ giác quan"
- cõi dục (Kāma-bhava) / cõi thụ hưởng giác quan
- vật dục (vatthu-kāma) / đối tượng thụ hưởng giác quan
- dục phiền não (Kilesa-kāma) / phiên
tham (cchanda) / mong muốn; ước mong
kiết sử (samyojana)/ xiềng xích
ly dục / Vivicceva pītisukhaṁ / Rời bỏ ham muốn
Chủ động rời xa (về khoảng cách) các nguồn dẫn đến ham muốn. Ví dụ: Vị ấy ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất
ly bất thiện pháp/ Vivicca akusalehi dhammehi / Rời bỏ các pháp không thiện
Ví dụ: Rời bỏ các pháp không thiện
dục công đức (dục trưởng dưỡng) / kāmaguṇā / Ham Muốn
- Ví dụ: có năm nguồn của ham muốn (kāmaguṇā) này:
- Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Hỷ /Pīti/ hân hoan
Sự mừng vui, hân hoan, phơi phới.
Lạc / Sukha/ an vui
Sự an lạc, hạnh phúc, dễ chịu.
Hỷ lạc /Pītisukha/ hân hoan và an vui
Cả 2 trạng thái trên, có lẽ là trạng thái tích cực nhất mà người ta cảm nhận được (khả lạc, khả ái)
tầm / vitakka / hướng sự quan sát
Hiểu là hướng/khởi động ý nghĩ về một điều gì đó; khởi tạo ý định; sự định hướng chú ý
Ví dụ: "Trước phải tư duy (vitakketvā) và quán sát (vicāretvā), sau mới thốt ra lời nói (vācaṃ bhindati). Do đó, tầm và tứ là khẩu hành (vacī-saṅkhāra)." (MN 44) Có thể các nhà sư dùng não trái nên nghĩ bằng ngôn ngữ ?
tứ / vicāra / duy trì sự quan sát
Hiểu là duy trì sự chú ý, có những nội dung "không tầm, có tứ" vậy có thể hiểu là "im lặng quan sát" bất cứ điều gì xảy ra trong đầu.
có tầm có tứ / Tạo Ý Nghĩ Và Duy Trì Quan Sát
Việc tập trung suy nghĩ vào một mục tiêu và duy trì quan sát nó là một năng lực của não; khi não trái bị tổn thương việc tập trung suy nghĩ về một vấn đề là không thể
không tầm có tứ / Không Tạo Ý Nghĩ Và Im Lặng Quan Sát
không tầm không tứ / Không Tạo Ý Nghĩ Và Không Quan Sát
cảm nhận / thọ
Từ "Thọ" được định nghĩa khá rõ đó là 3 cảm nhận "dễ chịu", "khó chịu", "không khó chịu, không dễ chịu" hay trung tính, mang tính chất "bản năng sinh học" hơn là nhận thức lý trí. Nó là bước trước khi nhận ra cảm giác cao cấp hơn, ví dụ: ta thấy "nóng" thì trước đó tín hiệu thần kinh đã thấy "cảm giác khó chịu" và sau đó chi tiết hơn thì là "nóng". Nên dịch là cảm nhận là "cảm giác nhận vào".
thức/ viññāṇa/ Nhận Biết Vô Thức
Khả năng phân biệt các đối tượng ở mức sơ khởi, trước khi có cảm nhận nguyên thủy "dễ chịu, khó chịu, trung tính (thọ)" nên có thể nói nó là gọi là "Khả năng nhận biết sơ khởi của não"
"Do duyên mắt và các hình sắc, nhãn thức khởi sinh; sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc; do duyên xúc nên có thọ;"(MN 148.8) Theo cách phân chia này, viññāṇa là sự kiện tiếp xúc giữa hình ảnh và mắt trước khi khi cảm nhận (thọ) vậy có thê hình dung: viññāṇa (trong ngữ cảnh giác quan) là bước phân giải tín hiệu đầu vào sau đó với đến cảm nhận(thọ) sau đó nhận thức thực tại(tưởng/mối quan hệ)
Giác quan Não/ ý căn
"Ý" (Mano) là giác quan, ngang hàng với Mắt, Tai, Mũi, v.v. là cửa ngõ để tạo thông tin. Đối tượng của Mano là Pháp (đối tượng của mắt là hình ảnh). Nên có thể dự đoán là 'cửa ngõ' của các đối tượng suy nghĩ (Pháp), tương ứng với vị trí của não. Bước xa hơn sau Não Căn là Nhận Biết(thức/Viññāṇa), Nhận Thức Thực Tại (tưởng/Saññā), Nghi Nhớ (niệm/Sati)
Cái biết của Não / manoviññāṇa/ ý thức
Xem công thức : "Do duyên mắt và các hình sắc, nhãn thức khởi sinh; sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc; do duyên xúc nên có thọ;" Ở đây 'nhãn thức' là nguồn của Thọ(dễ chịu/khó chịu)-> nên có thể nói nó chính là 'cái biết sơ khai': trước khi ta biết hình ảnh đó là gì (não cao cấp nhận biết) thì nó đã có thể gây ra sự dễ chịu/khó chịu. (MN 148.8)
Tương tự cho giác quan Não : "Do duyên ý và các pháp, ý thức khởi sinh; sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc; do duyên xúc nên có thọ;" có thể viết lại như này "Do duyên Não với các pháp, cái biết của não khởi sinh"
tưởng / Nhận Thức
Ví dụ
- "sắc tưởng" -> "Nhận thức về vật chất"
- dị tưởng -> Nhận thức về sự khác biệt giữa các vật
Trong một số đoạn phù hợp với "Mô Hình về Thực Tại" tức là khả năng não xây dựng môt hình hóa thực tại nhận được qua giác quan và xây đựng nên một mô hình. Trong não của mỗi người đều xây dựng nên một thực tại dựa vào 6 giác quan, nhưng thực tại của mỗi người đều khác nhau phụ thuộc vào giác quan và tính cách riêng,
không vô biên xứ / Ākāsānañcāyatana / cõi Không Gian là Vô Tận(1)
Ākāsa: Không gian, bầu trời. Ananta: Vô tận, không biên giới (Endless). Āyatana: Xứ, cơ sở, phạm vi hoạt động (Base/Realm).
thức vô biên xứ / Viññāṇañcāyatana / cõi Nhận Biết Là Vô Tận(2)
Viññāṇañ = Nhận biết vô thức.
Dự đoán: Nhận Biết nhận biết chính nó và quá trình này kéo dài vô tận (nhận biết về nhận biết) Viññāṇa: Thức, sự nhận biết, ý thức (Consciousness), sự nhận biết. Ananta: Vô tận.
vô sở hữu xứ / Ākiñcaññāyatana/ cõi Không Có Vật Gì(3)
Kiñcana: Một chút gì đó, vật chướng ngại, sự dính mắc. A-kiñcana: Không có gì cả (Nothingness). N'atthi kiñci: Không có vật gì hiện hữu.
phi tưởng phi phi tưởng xứ / Nevasaññānāsaññāyatana/ trạng thái không phải "Đang Nhận Thức Về Thực Tại"; cũng không phải "Mất Nhận Thức Về Thực Tại"
Trạng thái không thể gọi là đang nhận thức, nhưng cũng không phải là mất nhận thức.
Neva: Không phải (Neither). Saññā: Nhận Thức Về Thực Tại (Perception). Na: Và không (Nor). Asaññā: Không Nhận Thức Về Thực Tại (Non-perception).
hành / hoạt động
Chữ hành mang ý nghĩa có người đứng sau, chữ sankara có nghĩa trung tính, đó là cho dù hành động đó có chủ ý hay không cũng có kết quả
hữu vi / saṅkhata / do điều kiện hợp thành
- Saṃ (cùng nhau, hội tụ) + Kar (làm, tạo tác) + đuôi quá khứ phân từ -ta.
- Nghĩa đen: "Được làm ra do sự kết hợp", "được tạo tác", "được cấu thành", "bị điều kiện hóa". Trong tiếng Anh thường dịch là: Conditioned, Compounded, Fabricated.
"Cái gì được làm ra (kataṃ), được tư duy (sañcetayitaṃ), cái ấy là vô thường..." Một vật được gọi là Saṅkhata vì nó không thể tự nhiên sinh ra, nó phải đợi các Duyên (Paccaya) hội tụ đủ thì mới xuất hiện. Khi các duyên tan rã thì nó diệt.
vô vi / asaṅkhata / không do điều hợp thành
duyên / Paccaya / duyên hay "điều kiện"
Nghĩa đen: "Cái mà sự vật dựa vào để diễn ra", "chỗ nương tựa", hoặc "nền tảng".
tác ý / "suy nghĩ đến" hoặc "suy nghĩ về"
không định / Suññatā-samādhi / định trong tính không
Suññatā: xuất phát từ tính từ Suñña (trống rỗng, không có). Nó ám chỉ trạng thái "tánh không" MN.121
tướng (Nimitta)/ "hình tướng" hay "điểm bám (của tâm)"
- dấu hiệu
- đặc trưng
- điểm bám của tâm (cái mà tâm nắm lấy để sinh tham, sân) Khi nhìn sự vật như đối tượng ở ngoài (ví dụ "tướng hiểu là 'hình dáng' của vật thể, là một thứ gì đó hiển nhiên") thì dịch và hiểu kinh rất khó, nhưng nếu dịch theo kiểu hiểu đó là cách hoạt động của trí não (ví dụ "tướng là "hình dáng", là do não tư tạo ra để nhận diện đối tượng") thì mọi thứ trở nên dễ dàng hơn.
vô tướng / không chạy theo hình tướng
vô tướng tâm định/ Định trong trạng thái tâm không chạy theo hình tướng
vô tướng tâm giải thoát / Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng
trạng thái giải thoát của tâm khi tâm không còn bám vào điểm bám nào
vô lượng(appamāṇa) / không giới hạn
từ (Mettā) / yêu thương
mitta = bạn, thân hữu Nghĩa gốc: tâm thiện chí, mong điều lành cho chúng sinh
bi (Karuṇā) / xúc động
karu- = rung động, xót xa trước khổ Nghĩa gốc: tâm xúc động trước khổ đau của kẻ khác
hỉ (Muditā) / cùng vui
mud = vui, hoan hỷ Nghĩa gốc: niềm vui không ganh tị trước hạnh phúc của người khác
xả (Upekkhā)/ quân bình
upa (gần) + ikkhati (nhìn) → “nhìn gần, nhìn kỹ” Nghĩa gốc: quân bình, bình thản
niệm / "quan sát và ghi nhớ"
hữu / cõi tồn tại
như lý tác ý / nghĩ đến tận gốc rễ
yoniso manasikāra
- Yoni: Nghĩa đen là "tử cung" (dạ con), nơi sinh sản, hoặc "nguồn gốc", "cội rễ", "căn nguyên".
- so (hậu tố): Biến cách của từ, mang nghĩa hướng về, đi sâu vào, hoặc "theo cách thức".
- Manasikāra: Ghép từ Manas (tâm/ý) + Kāra (làm/tạo tác). Nghĩa là hành động của tâm, sự chú ý, hay sự để tâm.
PAṬIGHA
có nhiều chỗ áp dụng từ tâm lý đến vật chất, có lẽ nó giống với từ "rắn" trong tiếng việt (rắn mặt=khó dạy, rắn chắc = sự rắn chắc của kim loại)
Paṭigha-anusaya: Tùy miên sân/hiềm hận (xu hướng tiềm tàng phản ứng lại cảm giác khổ). Paṭigha-saññā: Tưởng đối ngại (nhận thức về sự va chạm vật lý/giác quan - xuất hiện trong định nghĩa về Không Vô Biên Xứ). Paṭigha-samphassa: Có sự xúc chạm đối kháng (xúc chạm qua 5 giác quan vật lý). Sappatigha-rūpa: Sắc hữu đối (vật chất có tính chướng ngại, va chạm - như mắt, tai, mũi...). Appatigha: Vô đối ngại (không có sự va chạm).