Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on a Warrior

AN 3.133 A Warrior Yodhājīvasutta

"Mendicants, a warrior with three factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned as a factor of kingship. What three? He’s a long-distance shooter, a marksman, one who shatters large objects. A warrior with these three factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned as a factor of kingship.

In the same way, a mendicant with three factors is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world. What three? They’re a long-distance shooter, a marksman, and one who shatters large objects.

And how is a mendicant a long-distance shooter? It’s when a mendicant truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of feeling at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all feeling—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of perception at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all perception—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of choices at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all choices—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near, all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how a mendicant is a long-distance shooter.

And how is a mendicant a marksman? It’s when a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. That’s how a mendicant is a marksman.

And how does a mendicant shatter large objects? It’s when a mendicant shatters the great mass of ignorance. That’s how a mendicant shatters large objects.

A mendicant with these three qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world."

XIV. Phẩm Kẻ Chiến Sĩ

131.- Kẻ Chiến Sĩ

1. - Ðầy đủ ba đức tánh, này các Tỷ-kheo, một kẻ chiến sĩ xứng đáng cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẽ chiến sĩ là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng và đâm thủng được vật lớn. Ðầy đủ ba đức tánh này, này các Tỷ-kheo, một kẻ chiến sĩ xứng đáng cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba đức tánh, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là kẻ bắn xa, bắn như chớp nhoáng và đâm thủng được vật to lớn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có cảm thọ gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả cảm thọ, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có tưởng gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả tưởng, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có các hành gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả các hành, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả các thức, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là khổ”, như thật tuệ tri: “Ðây là khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn. Ðầy đủ ba đức tánh này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 3.134 Assemblies Parisāsutta

“Mendicants, there are these three assemblies. What three? An assembly educated in fancy talk, an assembly educated in questioning, and an assembly educated to the fullest extent. These are the three assemblies.”

132 .- Hội Chúng

− Này các Tỷ-kheo, có ba hội chúng này. Thế nào là ba?

Hội chúng điêu luyện về khoa trương, hội chúng điêu luyện về chất vấn, hội chúng điêu luyện về tùy theo sở thích. Này các Tỷ-kheo, có ba hội chúng này.

AN 3.135 A Friend Mittasutta

“Mendicants, you should associate with a friend who has three factors. What three? They give what is hard to give, they do what is hard to do, and they bear what is hard to bear. You should associate with a friend who has these three factors.”

133.- Bạn

− Này các Tỷ-kheo, có đầy đủ ba đức tánh, một người bạn cần được thân cận. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cho điều khó cho, làm điều khó làm, nhẫn điều khó nhẫn. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba đức tánh, một người bạn cần được thân cận.

AN 3.136 Arising Uppādāsutta

"Mendicants, whether Realized Ones arise or not, this law of nature persists, this regularity of natural principles, this invariance of natural principles: all conditions are impermanent. A Realized One understands this and comprehends it, then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it: ‘All conditions are impermanent.’

Whether Realized Ones arise or not, this law of nature persists, this regularity of natural principles, this invariance of natural principles: all conditions are suffering. A Realized One understands this and comprehends it, then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it: ‘All conditions are suffering.’

Whether Realized Ones arise or not, this law of nature persists, this regularity of natural principles, this invariance of natural principles: all things are not-self. A Realized One understands this and comprehends it, then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it: ‘All things are not-self.’"

134.- Xuất Hiện

1. - Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là vô thường”. Vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ, sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là vô thường”.

2. Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là khổ”. Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ, sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là khổ”.

3. Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các pháp là vô ngã”. Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các pháp là vô ngã”.

AN 3.137 A Hair Blanket Kesakambalasutta

"Mendicants, a hair blanket is said to be the worst kind of woven cloth. It’s cold in the cold, hot in the heat, ugly, smelly, and unpleasant to touch. In the same way, the teaching of the bamboo-staffed ascetic is said to be the worst of all the doctrines of the various ascetics and brahmins.

The bamboo-staffed ascetic, that silly man, has this doctrine and view: ‘There is no power in deeds, action, or energy.’

Now, all the perfected ones, the fully awakened Buddhas who lived in the past taught the efficacy of deeds, action, and energy. But the bamboo-staffed ascetic opposes them by saying: ‘There is no power in deeds, action, or energy.’

All the perfected ones, the fully awakened Buddhas who will live in the future will teach the efficacy of deeds, action, and energy. But the bamboo-staffed ascetic opposes them by saying: ‘There is no power in deeds, action, or energy.’

I too, the perfected one, the fully awakened Buddha in the present, teach the efficacy of deeds, action, and energy. But the bamboo-staffed ascetic opposes me by saying: ‘There is no power in deeds, action, or energy.’

It’s like a trap set at the mouth of a river, which would bring harm, suffering, calamity, and disaster for many fish. In the same way that futile man the bamboo-staffed ascetic is a trap for humans, it seems to me. He has come into the world for the harm, suffering, calamity, and disaster of many beings."

135.- Mền Bằng Tóc.

1. - Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tất cả loại vải được dệt, mền được dệt bằng tóc được xem là hạ liệt nhất. Mền được dệt bằng tóc, này các Tỷ-kheo, khi trời lạnh thì lạnh, khi trời nóng thì nóng, xấu xí, có mùi hôi, xúc chạm khó chịu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các chủ thuyết của các Sa-môn ngoại đạo tuyên bố, chủ thuyết của Makkhali được xem là hèn hạ nhất. Này các Tỷ-kheo, Makkhali, kẻ ngu si có thuyết như sau; có kiến như sau :”Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn”.

2. Này các Tỷ-kheo, những ai là các vị A-la-hán trong thời quá khứ, các vị Chánh Ðẳng Giác, các bậc Thế Tôn; các vị ấy đều chủ trương có nghiệp, đều chủ trương có nghiệp quả, đều chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại tất cả: “Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn”.

3. Này các Tỷ-kheo, những ai là các vị A-la-hán trong thời vị lai, các vị Chánh Ðẳng Giác, các bậc Thế Tôn; các vị ấy đều chủ trương có nghiệp, đều chủ trương có nghiệp quả, đều chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại tất cả: “Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn”.

Còn Ta, này các Tỷ-kheo, nay là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cũng chủ trương có nghiệp, chủ trương có nghiệp quả, chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại tất cả: “Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn”. 5. Ví như, này các Tỷ-kheo, tại cửa sông, có người đặt một cái sập bẫy cá đem đến bất hạnh, đau khổ, tổn hại, nguy hại cho các loại cá. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Makkhali, kẻ ngu si xuất hiện ở đời như cái bẫy sập người, đem lại bất hạnh, đau khổ, tổn hại, nguy hại cho nhiều loài hữu tình.

AN 3.138 Accomplishment Sampadāsutta

“Mendicants, there are three accomplishments. What three? Accomplishment in faith, ethics, and wisdom. These are the three accomplishments.”

AN 3.139 Growth Vuddhisutta

“Mendicants, there are three kinds of growth. What three? Growth in faith, ethics, and wisdom. These are the three kinds of growth.”

136.- Thành Tựu Tăng Trưởng

− Này các Tỷ-kheo, có ba sự thành tựu này. Thế nào là ba?

Thành tựu về tín, thành tựu về giới, thành tựu về tuệ. Này các Tỷ-kheo, các pháp này là ba sự thành tựu.

Này các Tỷ-kheo, có ba sự tăng trưởng. Thế nào là ba?

Tăng trưởng về tín, tăng trưởng về giới, tăng trưởng về tuệ. Này các Tỷ-kheo, ba pháp này là ba tăng trưởng.

AN 3.140 A Wild Colt Assakhaḷuṅkasutta

“Mendicants, I will teach you about three wild colts and three wild people. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"What are the three wild colts? One wild colt is fast, but not beautiful or well proportioned. Another wild colt is fast and beautiful, but not well proportioned. While another wild colt is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three wild colts.

And what are the three wild people? One wild person is fast, but not beautiful or well proportioned. Another wild person is fast and beautiful, but not well proportioned. While another wild person is fast, beautiful, and well proportioned.

And how is a wild person fast, but not beautiful or well proportioned? It’s when a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. This is how they’re fast, I say. But when asked a question about the teaching or training, they falter without answering. This is how they’re not beautiful, I say. And they don’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re not well proportioned, I say. This is how a wild person is fast, but not beautiful or well proportioned.

And how is a wild person fast and beautiful, but not well proportioned? It’s when a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. This is how they’re fast, I say. When asked a question about the teaching or training, they answer without faltering. This is how they’re beautiful, I say. But they don’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re not well proportioned, I say. This is how a wild person is fast and beautiful, but not well proportioned.

And how is a wild person fast, beautiful, and well proportioned? It’s when a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. This is how they’re fast, I say. When asked a question about the teaching or training, they answer without faltering. This is how they’re beautiful, I say. They receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re well proportioned, I say. This is how a wild person is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three wild people."

137.- Ngựa Chưa Ðược Ðiều Phục

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về ba loại ngựa chưa được điều phục và Ta sẽ giảng về ba hạng người chưa được điều phục. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa chưa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối: bề cao, chu vi, bề ngoài. Nhưng ở đây, này các Tỷ kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, và cân đối. Ba loại này, này các Tỷ-kheo, là ba loại ngựa chưa được điều phục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba hạng người chưa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Nhưng ở đây, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, và cân đối. Ba loại này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người chưa được điều phục.

2. Thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy lại ngập ngừng không có trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không có nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chưa có điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối.

3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy trả lời là không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy không có nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chưa có điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối.

4. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy liền trả lời không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy có nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chưa có điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người chưa có cân đối.

AN 3.141 Excellent Horses Assaparassasutta

“Mendicants, I will teach you the three excellent horses and the three excellent people. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"What are the three excellent horses? One excellent horse is fast, but not beautiful or well proportioned. Another excellent horse is fast and beautiful, but not well proportioned. While another excellent horse is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three excellent horses.

"What are the three excellent people? One excellent person is fast, but not beautiful or well proportioned. Another excellent person is fast and beautiful, but not well proportioned. While another excellent person is fast, beautiful, and well proportioned.

And how is an excellent person fast, but not beautiful or well proportioned? It’s when a mendicant, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. This is how they’re fast, I say. But when asked a question about the teaching or training, they falter without answering. This is how they’re not beautiful, I say. And they don’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re not well proportioned, I say. This is how an excellent person is fast, but not beautiful or well proportioned.

And how is an excellent person fast and beautiful, but not well proportioned? It’s when a mendicant, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. This is how they’re fast, I say. When asked a question about the teaching or training, they answer without faltering. This is how they’re beautiful, I say. But they don’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re not well proportioned, I say. This is how an excellent person is fast and beautiful, but not well proportioned.

And how is an excellent person fast, beautiful, and well proportioned? It’s when a mendicant, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. This is how they’re fast, I say. When asked a question about the teaching or training, they answer without faltering. This is how they’re beautiful, I say. They receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re well proportioned, I say. This is how an excellent person is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three excellent people."

138.- Ngựa Ðược Ðiều Phục

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về ba loại ngựa được điều phục và Ta sẽ giảng về ba hạng người chưa được điều phục. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, và cân đối. Ba loại này, này các Tỷ-kheo, là ba loại ngựa được điều phục.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba hạng người được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, và cân đối. Ba loại này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người chưa được điều phục.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người được điều phục, có tốc lực, người không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời ấy nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy ngập ngừng, vị ấy không có trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời ấy nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy trả lời không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời ấy nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp thắng luật, vị ấy trả lời không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối.

Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người được điều phục.

AN 3.142 The Thoroughbred Assājānīyasutta

“Mendicants, I will teach you the three fine thoroughbred horses, and the three fine thoroughbred people. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"What are the three fine thoroughbred horses? One fine thoroughbred horse … is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three fine thoroughbred horses.

And what are the three fine thoroughbred people? One fine thoroughbred person … is fast, beautiful, and well proportioned.

And how is a fine thoroughbred person … fast, beautiful, and well proportioned? It’s when a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. This is how they’re fast, I say. When asked a question about the teaching or training, they answer without faltering. This is how they’re beautiful, I say. They receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is how they’re well proportioned, I say. This is how a fine thoroughbred person is fast, beautiful, and well proportioned.

These are the three fine thoroughbred people."

139. Các Loại Ngựa Thuần Thục.

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng về ba loại ngựa hiền thiện, thuần thục, ba hạng người hiền thiện, thuần thục. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa hiền thiện, thuần thục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thuần thục, có loại ngựa hiền thiện, thuần thục có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa hiền thiện, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những loại này, này các Tỷ-kheo, là ba loại ngựa hiền thiện, thuần thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba hạng người hiền thiện, thuần thục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người hiền thiện, thuần thục.

2. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp và thắng luật, vị ấy ngập ngừng không trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thần thục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. 3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp và thắng luật, vị ấy liền trả lời không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối.

4. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thuần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp và thắng luật, vị ấy trả lời không ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện, thần thục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người hiền thiện, thuần thục.

AN 3.143 At the Peacocks’ Feeding Ground (1st) Paṭhamamoranivāpasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, at the monastery of the wanderers in the peacocks’ feeding ground. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, a mendicant with three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans. What three? The entire spectrum of an adept’s ethics, immersion, and wisdom.

A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans."

140- Morannivàpa

1. Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha tại Moranivàpa. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

− Ðầy đủ ba pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đạt đến tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba? Với vô học giới uẩn, với vô học định uẩn, với vô học tuệ uẩn, đầy đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.

AN 3.144 At the Peacocks’ Feeding Ground (2nd) Dutiyamoranivāpasutta

"Mendicants, a mendicant who has three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans. What three? A demonstration of psychic power, a demonstration of revealing, and a demonstration of instruction.

A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans."

2. Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?

Với thần biến thần thông, với ký thuyết thần thông, với giáo giới thần thông; đầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người

AN 3.145 At the Peacocks’ Feeding Ground (3rd) Tatiyamoranivāpasutta

"Mendicants, a mendicant who has three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans. What three? Right view, right knowledge, and right freedom.

A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are the best among gods and humans."

3. Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba? Với chánh tri kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát, đầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.