Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter at Wares Village

AN 4.1 Understood Anubuddhasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Vajjis at Wares Village. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

“Mendicants, due to not understanding and not penetrating four things, both you and I have wandered and transmigrated for such a very long time. What four? Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom. These noble ethics, immersion, wisdom, and freedom have been understood and comprehended. Craving for continued existence has been cut off; the conduit to rebirth is ended; now there’ll be no more future lives.”

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Ethics, immersion, and wisdom,
and the supreme freedom:
these things have been understood
by Gotama the renowned.

And so the Buddha, having insight,
explained this teaching to the mendicants.
The teacher made an end of suffering,
seeing clearly, he is fully quenched."

I. Phẩm Bhandagana

(I) (1) Giác Ngộ

Như vậy, tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajji, tại làng Bhanda. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

2.- Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập bốn pháp, như vậy phải chạy dài, luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy! Thế nào là bốn?

3. Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới, như vậy phải chạy dài, phải luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy. Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập Thánh định, … Thánh tuệ, … Thánh giải thoát, như vậy phải chạy dài, phải luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy.

4. Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh giới này được giác ngộ, được thể nhập; Thánh tuệ được giác ngộ, được thể nhập; Thánh định được giác ngộ, được thể nhập; Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập; hữu ái được chặt đứt, dây cột của hữu được đoạn tận, nay không còn tái sanh.

5.-Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ sau khi nói vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:

Giới, Thiền định, Trí tuệ
Với giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng
Giác ngộ những pháp này
Ðức Phật thắng tri chúng
Thuyết pháp cho Tỷ-kheo
Ðạo sư đoạn tận khổ
Bậc Tuệ nhãn tịch tịnh.

AN 4.2 Fallen Papatitasutta

"Someone without four things is said to have ‘fallen from this teaching and training’. What four? Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom. Someone without these four things is said to have ‘fallen from this teaching and training’.

Someone with four things is said to be ‘secure in this teaching and training’. What four? Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom. Someone with these four things is said to be ‘secure in this teaching and training’.

They fall, collapsed and fallen;
greedy, they return.
The work is done, the joyful is enjoyed,
happiness is found through happiness."

(II) (2) Rời Khỏi

1.- Người không thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này. Thế nào là bốn?

Không thành tựu Thánh giới, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này. Không thành tựu Thánh Thiền định, này các Tỷ-kheo, … không thành tựu Thánh Trí tuệ, này các Tỷ-kheo … không thành tựu Thánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này.

Không thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này.

2. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này. Thế nào là bốn?

3. Thành tựu Thánh giới, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này. Thành tựu Thánh định, này các Tỷ-kheo, … thành tựu Thánh Trí tuệ, này các Tỷ-kheo … thành tựu Thánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này.

Sau khi chết họ rơi
Bị rơi họ tham ái
Do vậy họ trở lại
Một lần nữa tái sanh
Ðã làm việc phải làm
Ðã thích việc đáng thích
Người ấy được an lạc
Do an lạc đưa đến

AN 4.3 Broken (1st) Paṭhamakhatasutta

"When a foolish, incompetent untrue person has four qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness. What four? Without examining or scrutinizing, they praise those deserving of criticism, and they criticize those deserving of praise. They arouse faith in things that are dubious, and they don’t arouse faith in things that are inspiring. When a foolish, incompetent untrue person has these four qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness.

When an astute, competent true person has four qualities they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit. What four? After examining and scrutinizing, they criticize those deserving of criticism, and they praise those deserving of praise. They don’t arouse faith in things that are dubious, and they do arouse faith in things that are inspiring. When an astute, competent true person has these four qualities they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit.

When you praise someone worthy of criticism,
or criticize someone worthy of praise,
you choose bad luck with your own mouth:
you’ll never find happiness that way.

Bad luck at dice is a trivial thing,
if all you lose is your money
and all you own, even yourself.
What’s really terrible luck
is to hate the holy ones.

For more than two quinquadecillion years,
and another five quattuordecillion years,
a slanderer of noble ones goes to hell,
having aimed bad words and thoughts at them."

(III) (3) Mất Gốc (1)

− Tán thán, không tán thán, tín nhiệm, không tín nhiệm.

1. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là bốn?

Không có suy xét, không có cứu xét, tán thán người không đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, không tán thán người đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ không đáng tín nhiệm; Không có suy xét, không có cứu xét, bất tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.

2. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là bốn?

Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, không tán thán những người không đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tán thán những người đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ đáng tín nhiệm; sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều phước đức.

Ai khen người đáng chê
Ai chê người đáng khen
Kẻ ấy với miệng lưỡi
Chứa chấp điều bất hạnh
Do vì bất hạnh ấy
Không tìm được an lạc
Nhỏ nhen không đáng kể
Là loại bất hạnh này
Bất hạnh do cờ bạc
Phá hoại các tài sản
Lớn hơn, lớn hơn nhiều
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người
Và cả với riêng mình
Những ai với ác ý
Ðối với bậc Thiện thệ
Trải qua một trămngàn
Thời Nirabbudà
Và cộng ba mươi sáu
Với năm Abbudà
Bị sanh vào địa ngục
Trong suốt thời gian ấy
Nếu mắng nhiếc bậc Thánh
Với lời, ý, nguyện ác.

AN 4.4 Broken (2nd) Dutiyakhatasutta

"When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward four people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness. What four? Mother … father … a Realized One … and a disciple of a Realized One. When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward these four people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness.

When an astute, competent true person acts rightly toward four people they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit. What four? Mother … father … a Realized One … and a disciple of a Realized One. When an astute, competent true person acts rightly toward these four people they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit.

A person who does wrong
by their mother or father,
or a Realized One, a Buddha,
or one of their disciples,
creates much wickedness.

Because of their unprincipled conduct
toward their parents,
they’re criticized in this life by the astute,
and they depart to be reborn in a place of loss.

A person who does right
by their mother and father,
or a Realized One, a Buddha,
or one of their disciples,
creates much merit.

Because of their principled conduct
toward their parents,
they’re praised in this life by the astute,
and they depart to rejoice in heaven."

(IV) (4) Mất Gốc (2)

1.- Do tà hạnh trong bốn sự, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nhiều điều vô phước. Thế nào là tà hạnh trong bốn sự?

Tà hạnh đối với mẹ, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh … tạo nên nhiều điều vô phước. Tà hạnh đối với cha, này các Tỷ-kheo, … Tà hạnh đối với Như Lai, này các Tỷ-kheo,… Tà hạnh đối với đệ tử của Như Lai, này các Tỷ-kheo…, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân … và tạo nên nhiều điều vô phước. Tà hạnh trong bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, … tạo nên nhiều điều vô phước.

2. Chánh hạnh trong bốn sự này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự không như người mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là chánh hạnh trong bốn sự?

Chánh hạnh đối với mẹ, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh … tạo nhiều phước đức. Chánh hạnh đối với cha, này các Tỷ-kheo, … Chánh hạnh đối với Như Lai, này các Tỷ kheo… Chánh hạnh đối với đệ tử Như Lai, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự không như người mất gốc … tạo nhiều phước đức. Chánh hạnh trong bốn sự này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, … tạo nhiều phước đức.

Ðối với mẹ và cha
Ai hành xử tà vạy
Với Như Lai Chánh Giác
Hay với đệ tử Ngài
Người xử sự như vậy
Tạo nhiều điều vô phước
Những ai có ác hạnh
Ðối với mẹ và cha
Ðời này, bậc trí trách
Ðời sau sanh đọa xứ
Ðối với mẹ và cha
Ai hành xử chơn chánh
Với Như Lai Chánh Giác
Hay với đệ tử Ngài
Người xử sự như vậy
Tạo nhiều điều phước đức
Những ai có chánh hạnh
Ðối với mẹ và cha
Ðời này, bậc trí khen
Ðời sau hưởng Thiên giới

AN 4.5 With the Stream Anusotasutta

"These four people are found in the world. What four? A person who goes with the stream; a person who goes against the stream; a steadfast person; and a brahmin who has crossed over and stands on the far shore.

And who is the person who goes with the stream? It’s a person who takes part in sensual pleasures and does bad deeds. This is called a person who goes with the stream.

And who is the person who goes against the stream? It’s a person who doesn’t take part in sensual pleasures or do bad deeds. They live the full and pure spiritual life in pain and sadness, weeping, with tearful faces. This is called a person who goes against the stream.

And who is the steadfast person? It’s a person who, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. This is called a steadfast person.

And who is a brahmin who has crossed over and stands on the far shore? It’s a person who realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. This is called a brahmin who has crossed over and stands on the far shore.

These are the four people found in the world.

All those people with unbridled sensuality,
not free of lust, enjoying sensual pleasures in this life:
again and again, they return to birth and old age;
those who go with the stream are sunk in craving.

So the attentive in this life,
with mindfulness established,
don’t take part in sensual pleasures and bad deeds.
In pain they’d give up sensual pleasures:
they call that person
‘one who goes against the stream’.

Someone who’s given up five corruptions,
a perfect trainee, not liable to decline,
who’s mastered their mind,
with faculties immersed in samādhi,
that’s called ‘a steadfast person’.

The sage who has comprehended all things,
high and low,
cleared them and ended them, so they are no more;
they’ve completed the spiritual journey,
and gone to the end of the world,
they’re called ‘one who has gone beyond’."

(V) (5) Thuận Dòng

1.- Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, hiện hữu có mặt ở đời. Thế nào là bốn? Hạng người đi thuận dòng, hạng người đi nghịch dòng, hạng người tự đứng lại, vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ biên kia, đứng trên đất liền.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đi thuận dòng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thọ hưởng các dục và làm các nghiệp ác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người đi thuận dòng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đi ngược dòng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không thọ hưởng các dục, không làm ác nghiệp, với khổ, với ưu, nước mắt đầy mặt, khóc than, sống Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người đi ngược dòng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự đứng lại?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người do diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời ấy nữa. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người tự đứng lại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bên bờ kia, đứng trên đất liền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền.

Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

Những ai sống ở đời
Không chế ngự các dục
Không từ bỏ ly tham
Thọ hưởng các dục vọng
Họ đi đến sanh già
Ðến rồi lại đến nữa
Bị khát ái trói buộc
Họ đi thuận dòng đời

Do vậy bậc có trí
Ở đời, trú chánh niệm
Không thọ hưởng các dục
Không hành trì điều ác
Dầu chịu sự khổ đau
Từ bỏ các dục vọng
Họ được gọi hạng người
Ði ngược lại dòng đời.\

Những ai quyết đoạn tận
Năm phiền não kiết sử
Bậc hữu học viên mãn
Không còn bị thối thất
Ðạt được tâm điều phục
Các căn được định tĩnh
Vị ấy được gọi là
Người đã tự đứng lại
Ðối các pháp thắng liệt
Vị ấy được giác tri
Ðã được quét, quạt sạch
Các pháp được chấm dứt
Vị ấy bậc trí giả
Phạm hạnh được thành tựu
Ðược tên gọi danh xưng
Bậc đã đi đến nơi
Chỗ tận cùng thế giới
Bậc đã đến bờ kia.

AN 4.6 A Little Learning Appassutasutta

"Mendicants, these four people are found in the world. What four? A person may have:

  1. Little learning and not get the point of learning.

  2. Little learning but get the point of learning.

  3. Much learning but not get the point of learning.

  4. Much learning and get the point of learning.

And how has a person learned little and not got the point of learning? It’s when a person has learned little of the statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. And with the little they’ve learned, they understand neither the meaning nor the teaching, nor do they practice in line with the teaching. That’s how a person has learned little and not got the point of learning.

And how has a person learned little but has got the point of learning? It’s when a person has learned little of the statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. But with the little they’ve learned, they understand the meaning and the teaching, and they practice in line with the teaching. That’s how a person has learned little but has got the point of learning.

And how has a person learned much but hasn’t got the point of learning? It’s when a person has learned much of the statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. But even though they’ve learned much, they understand neither the meaning nor the teaching, nor do they practice in line with the teaching. That’s how a person has learned much but hasn’t got the point of learning.

And how has a person learned much and has got the point of learning? It’s when a person has learned much of the statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. And with the large amount they’ve learned, they understand the meaning and the teaching, and they practice in line with the teaching. That’s how a person has learned much and has got the point of learning.

These are the four people found in the world.

If you don’t learn much,
and aren’t steady in ethics,
they’ll criticize you on both counts,
for your ethics and your learning.

If you don’t learn much,
and you are steady in ethics,
they’ll praise your ethical conduct,
since your learning has succeeded.

If you learn much,
but aren’t steady in ethics,
they’ll criticize your ethical conduct,
for your learning hasn’t succeeded.

If you learn much,
and you are steady in ethics,
they’ll praise you on both counts,
for your ethics and your learning.

A wise disciple of the Buddha
who is learned and has memorized the teachings;
like a pendant of Black Plum River gold,
who is worthy to criticize them?
Even the gods praise them,
and by the Divinity, too, they’re praised."

(VI) (6) Học Hỏi Ít.

1.- Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe ít, điều đã được nghe được khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp đúng pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe được khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Nếu là người nghe ít
Không định tĩnh trong giới
Họ chỉ trích người ấy,
Cả hai, giới và nghe\

Nếu là người nghe ít
Nhưng khéo định trong giới
Họ khen về giới đức
Về nghe không đầy đủ\

Nếu là người nghe nhiều
Không định tĩnh trong giới
Họ chỉ trích người ấy,
Về nghe được đầy đủ\

Nếu là người nghe nhiều
Lại khéo định trong giới
Họ tán thán người ấy
Cả hai, giới và nghe\

Phật đệ tử nghe nhiều
Trì pháp, có trí tuệ
Như vàng cõi diêm phủ
Ai có thể chỉ trích?
Chư thiên khen vị ấy
Phạm thiên cũng ngợi khen

AN 4.7 Beautification Sobhanasutta

"Mendicants, these four who are competent, educated, assured, and learned, who have memorized the teachings and practice in line with the teachings, beautify the Saṅgha. What four? A monk, a nun, a layman, and a laywoman.

These four who are competent, educated, assured, and learned, who have memorized the teachings and practice in line with the teachings, beautify the Saṅgha.

Whoever is competent and assured,
learned, a memorizer of the teachings,
who lives in line with the teachings—
such a person is said to beautify the Saṅgha.

A monk accomplished in ethics,
and a learned nun,
a faithful layman,
and a faithful laywoman, too:
these beautify the Saṅgha,
they are the beautifiers of the Saṅgha."

(VI I) (7) Chói Sáng Tăng Chúng

− Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn? Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, …, nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng.

Ai là người thông minh
Là người không sợ hãi
Lại là người nghe nhiều
Và cũng hạng trì pháp
Ðối với chánh diệu pháp
Thực hành pháp tùy pháp
Người như vậy được gọi
Vị chói sáng tăng chúng
Vị Tỷ-kheo đủ giới
Tỷ-kheo-ni nghe nhiều
Bậc cư sĩ tín nam
Bậc cư sĩ tín nữ
Họ chói sáng Tăng chúng
Là ánh sáng Tăng chúng

AN 4.8 Self-assured Vesārajjasutta

"Mendicants, a Realized One has four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. What four?

I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘You claim to be a fully awakened Buddha, but you don’t understand these things.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.

I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘You claim to have ended all defilements, but you still have these defilements.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.

I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘The acts that you say are obstructions are not really obstructions for the one who performs them.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.

I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘Though you teach that this teaching leads to the goal of the complete ending of suffering, it doesn’t lead there for one who practices it.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.

A Realized One has these four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.

The various grounds for criticism
that ascetics and brahmins rely on
vanish on reaching a Realized One,
assured, gone beyond grounds for criticism.

He rolls forth the Wheel of Dhamma
as a consummate one,
complete, sympathetic for all living creatures.
Sentient beings revere him,
first among gods and humans,
who has gone beyond rebirth."

(VIII ) (8) Vô Sở Úy

− Có bốn vô sở úy của Như Lai, này các Tỷ-kheo, do thành tựu bốn vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển pháp luân. Thế nào là bốn?

Ngài tự nhận là Chánh Ðẳng Giác, nhưng những pháp này không được Ngài Chánh Ðẳng Giác. Ở đấy, nếu có Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Như Lai tự nhận là Ngài đã đoạn trừ các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ. Ở đấy, nếu có vị Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Các pháp Như Lai nói là các chướng ngại pháp, ai có thọ dụng chúng không đủ có chướng ngại gì. Ở đấy, nếu có Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Pháp và mục đích mà Như Lai tuyên bố, không được Người chơn chánh thực hành đoạn diệt khổ đau. Ở đấy, nếu có vị Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này.

Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Bốn pháp không sợ hãi này của Như Lai, này các Tỷ-kheo, do thành tựu bốn vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển pháp luân.

Các loại luận đàm này,
Ðược y chỉ rộng rãi
Sa-môn, Bà-la-môn,
Nương tựa, y chỉ họ
Khi họ đến Như Lai
Họ không còn tồn tại
Các luận đàm được nói
Họ run sợ, sợ hãi
Ai chinh phục tất cả
Chuyển vận được Pháp luân
Vì lòng thương tất cả
Mọi chúng sanh hữu tình
Với những bậc như vậy
Tối thắng giữa Thiên nhân
Mọi chúng sanh đảnh lễ
Bậc vượt quan sanh hữu.

AN 4.9 The Arising of Craving Taṇhuppādasutta

"Mendicants, there are four things that give rise to craving in a mendicant. What four? For the sake of robes, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state.

These are the four things that give rise to craving in a mendicant.

Craving is a person’s partner
as they transmigrate on this long journey.
They go from this state to another,
but don’t escape transmigration.

Knowing this drawback—
that craving is the cause of suffering—
rid of craving, free of grasping,
a mendicant would wander mindful."

(IX) (9) Khát Ái

− Có bốn ái sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, khi nào ái sanh, có thể sanh khởi nơi vị Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

Do nhận y áo, này các Tỷ-kheo, ái khi khởi lên, khởi lên nơi vị Tỷ-kheo, hay do nhận đồ ăn khất thực … hay do nhận sàng tọa … hay do nhận đây là hữu, đây là phi hữu, ái khi khởi lên, khởi lên vị Tỷ-kheo.

Bốn ái sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, khi nào ái sanh, có thể sanh khởi nơi vị Tỷ-kheo.

Người có ái làm bạn
Sẽ luân chuyển dài dài
Khi hiện hữu chỗ này
Khi hiện hữu chỗ khác
Người ấy không dừng được
Sự luận chuyển tái sanh
Rõ biết nguy hại này
Chính ái sanh đau khổ
Tỷ-kheo từ bỏ ái
Không nắm giữ chấp thủ
An trú, không thất niệm
Vị ấy sống xuất gia.

AN 4.10 Yokes Yogasutta

"Mendicants, there are these four yokes. What four? The yokes of sensual pleasures, future lives, views, and ignorance.

And what is the yoke of sensual pleasures? It’s when you don’t truly understand sensual pleasures’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for sensual pleasures linger on inside. This is called the yoke of sensual pleasures. Such is the yoke of sensual pleasures.

And what is the yoke of future lives? It’s when you don’t truly understand future lives’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for continued existence linger on inside. This is called the yoke of future lives. Such are the yokes of sensual pleasures and future lives.

And what is the yoke of views? It’s when you don’t truly understand views’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for views linger on inside. This is called the yoke of views. Such are the yokes of sensual pleasures, future lives, and views.

And what is the yoke of ignorance? It’s when you don’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape, so ignorance and unknowing of the six fields of contact linger on inside. This is called the yoke of ignorance. Such are the yokes of sensual pleasures, future lives, views, and ignorance. These are bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s why someone yoked to them is called: ‘one who has not found sanctuary from the yoke’.

These are the four yokes.

There are these four kinds of unyoking. What four? Unyoking from sensual pleasures, future lives, views, and ignorance.

And what is unyoking from sensual pleasures? It’s when you truly understand sensual pleasures’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for sensual pleasures don’t linger on inside. This is called unyoking from sensual pleasures. Such is unyoking from sensual pleasures.

And what is unyoking from future lives? It’s when you truly understand future lives’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for continued existence don’t linger on inside. This is called unyoking from future lives. Such is unyoking from sensual pleasures and future lives.

And what is unyoking from views? It’s when you truly understand views’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for views don’t linger on inside. This is called unyoking from views. Such is unyoking from sensual pleasures, future lives, and views.

And what is unyoking from ignorance? It’s when you truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape, so ignorance and unknowing of the six fields of contact don’t linger on inside. This is called unyoking from ignorance. Such is unyoking from sensual pleasures, future lives, views, and ignorance. These are bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s why someone unyoked from them is called: ‘one who has found sanctuary from the yoke’.

These are the four kinds of unyoking.

Yoked to both sensual pleasures
and the desire to be reborn in a future life;
yoked also to views,
and governed by ignorance,

sentient beings continue to transmigrate,
with ongoing birth and death.
But those who fully understand sensual pleasures,
and the yoke to all future lives;

with the yoke of views eradicated,
and ignorance dispelled,
unyoked from all yokes,
truly those sages have slipped their yoke."

(X) (10) Các Ách

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn ách này. Thế nào là bốn? Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là dục ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục ách.

Và thế nào là hữu ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu, nên hữu tham, hữu hỷ, hữu luyến, hữu đam mê, hữu khát, hữu não, hữu chấp thủ, hữu ái trong các hữu xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu ách.

Và thế nào là kiến ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kiến ách.

Và thế nào là vô minh ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như không thật quán tri sự tập khởi … sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh ách.

Ðây là dục ách, hữu ách, kiến ách và vô minh ách.

Bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là không an ổn khỏi các ách. Này các Tỷ-kheo, có bốn ách này.

2. Này các Tỷ-kheo, có bốn ách ly này. Thế nào là bốn? Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ly dục ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly dục ách.

Và thế nào là ly hữu ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các hữu. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các hữu, nên hữu tham, hữu hỷ, hữu luyến, hữu đam mê, hữu khát, hữu não, hữu chấp thủ, hữu ái trong các hữu không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly hữu ách.

Và thế nào là ly kiến ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly kiến ách.

Và thế nào là ly vô minh ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như thật quán tri sự tập khởi … sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly vô minh ách.

Ðây là ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách.

Không bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là an ổn khỏi các ách. Này các Tỷ-kheo, có bốn ly ách này.

Bị trói buộc cả hai
Dục ách và hữu ách
Bị trói buộc kiến ách
Với vô minh thượng phủ
Chúng sanh bị luân chuyển
Ði đến sanh và chết
Những ai liễu tri dục
Và toàn bộ hữu ách
Nhổ vất bỏ kiến ách
Và từ bỏ vô minh
Ly hệ tất cả ách
Họ vượt khỏi các ách