Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Walking

AN 4.11 Walking Carasutta

"Mendicants, suppose a mendicant has a sensual, malicious, or cruel thought while walking. They tolerate it and don’t give it up, get rid of it, eliminate it, and obliterate it. Such a mendicant is said to be ‘not keen or prudent, always lazy, and lacking energy’ when walking.

Suppose a mendicant has a sensual, malicious, or cruel thought while standing … sitting … or when lying down while awake. They tolerate it and don’t give it up, get rid of it, eliminate it, and obliterate it. Such a mendicant is said to be ‘not keen or prudent, always lazy, and lacking energy’ when lying down while awake.

Suppose a mendicant has a sensual, malicious, or cruel thought while walking. They don’t tolerate it, but give it up, get rid of it, eliminate it, and obliterate it. Such a mendicant is said to be ‘keen and prudent, always energetic and determined’ when walking.

Suppose a mendicant has a sensual, malicious, or cruel thought while standing … sitting … or when lying down while awake. They don’t tolerate it, but give it up, get rid of it, eliminate it, and obliterate it. Such a mendicant is said to be ‘keen and prudent, always energetic and determined’ when lying down while awake."

Whether walking or standing,
sitting or lying down,
if you think a bad thought
to do with the domestic life,

you’re on the wrong path,
lost among things that delude.
Such a mendicant is incapable
of experiencing the highest awakening.

But one who, whether standing or walking,
sitting or lying down,
has calmed their thoughts,
loving peace of mind;
such a mendicant is capable
of experiencing the highest awakening."

II. Phẩm Hành

I. (11) Hành.

1.- Này các Tỷ-kheo, Nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.

2. Này các Tỷ-kheo, Nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng. Nếu khi đi khi đứng
Khi ngồi hay khi nằm
Khởi lên ác tầm tư
Liên hệ đến gia đình
Thực hành theo ác đạo
Mờ ám bởi si mê
Vị Tỷ-kheo như vậy
Không chứng Vô thượng giác
Ai khi đi khi đứng
Khi ngồi hay khi nằm
Ðiều phục được tâm tư
Yêu thích tầm chỉ định
Vị Tỷ-kheo như vậy
Chứng được Vô thượng giác\

AN 4.12 Ethics Sīlasutta

"Mendicants, live by the ethical precepts and the monastic code. Live restrained in the monastic code, conducting yourselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you’ve undertaken. When you’ve done this, what more is there to do?

Suppose a mendicant has got rid of desire and ill will while walking, and has given up dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed in samādhi. Such a mendicant is said to be ‘keen and prudent, always energetic and determined’ when walking.

Suppose a mendicant has got rid of desire and ill will while standing … sitting … and when lying down while awake, and has given up dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed in samādhi. Such a mendicant is said to be ‘keen and prudent, always energetic and determined’ when lying down while awake.

Carefully walking, carefully standing,
carefully sitting, carefully lying;
a mendicant carefully bends their limbs,
and carefully extends them.

Above, below, all round,
as far as the earth extends;
they scrutinize the rise and fall
of phenomena such as the aggregates.

Training in what leads to serenity of heart,
always staying mindful;
they call such a mendicant
‘always determined’."

(II) (12) Chế Ngự

− Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha. Hãy sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Ðã sống sống đầy đủ giới, này các Tỳ kheo, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, đã được chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha, sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, còn có gì cần phải làm thêm nữa?

Nếu Tỷ-kheo trong khi đi, tham, sân, si được từ bỏ, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được từ bỏ, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu các Tỷ-kheo khi đang đi có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.

Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng, … nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi … nếu Tỷ-kheo trong khi nằm thức, tham, sân, si được từ bỏ … hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuống nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu các Tỷ-kheo khi đang thức có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.

Ði đứng biết tự chế
Ngồi nằm biết tự chế
Tỷ-kheo biết tự chế
Khi co tay, duỗi tay
Phía trên, ngang cùng khắp
Xa cho đến cùng tột
Bất cứ sanh thú nào
Ở tại thế giới này
Khéo quán sát sanh diệt
Của tất cả pháp uẩn
Tâm chỉ tịnh chánh hạnh
Thường xuyên chuyên học tập
Liên tục, hằng siêng năng
Tỷ-kheo được gọi vậy.\

AN 4.13 Effort Padhānasutta

"Mendicants, there are these four right efforts. What four?

A mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise.

They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up.

They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise.

They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fulfilled by development.

These are the four right efforts.

By rightly striving,
>they’ve crushed Māra’s sovereignty;
unattached, they’ve gone beyond
>the peril of birth and death.
Contented and unstirred,
>they’ve vanquished Māra and his mount;
now they’ve gone beyond all Namuci’s forces,
>they’re happy."

(III) (13) Chánh Cần

− Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được diệt trừ, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; này các Tỷ-kheo, đây là bốn chánh cần.

Với các pháp chánh cần
Chúng chinh phục Ma giới
Không dính chúng vượt qua
Sợ hãi về sanh tử
Hoan hỷ ly dục vọng
Chúng thắng Ma, Ma quân
Mọi lực namuci
Chúng thoát ly an lạc.\

AN 4.14 Restraint Saṁvarasutta

"Mendicants, there are these four efforts. What four? The efforts to restrain, to give up, to develop, and to preserve.

And what, mendicants, is the effort to restrain? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. This is called the effort to restrain.

And what, mendicants, is the effort to give up? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that’s arisen, but gives it up, gets rid of it, eliminates it, and obliterates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, get rid of them, eliminate them, and obliterate them. This is called the effort to give up.

And what, mendicants, is the effort to develop? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. This is called the effort to develop.

And what, mendicants, is the effort to preserve? It’s when a mendicant preserves a meditation subject that’s a fine basis of immersion: the perception of a skeleton, a worm-infested corpse, a livid corpse, a split open corpse, or a bloated corpse. This is called the effort to preserve.

These are the four efforts.

Restraint and giving up,
development and preservation:
these are the four efforts
taught by the kinsman of the Sun.
Any mendicant who keenly applies these
may attain the ending of suffering."

(IV) (14) Chế Ngự

− Này các Tỷ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên vì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thâm cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên … không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, có bốn này tinh cần này. Chế ngự và đoạn tận
Tu tập và hộ trì
Bốn loại tinh cần này
Ðược bà con mặt trời
Tuyên bố và thuyết giảng
Ở đời vị Tỷ-kheo
Nhiệt tình đối với chúng
Ðạt được diệt khổ tận\

AN 4.15 Regarded as Foremost Paññattisutta

"Mendicants, these four are regarded as foremost. What four? The foremost in size of incarnation is Rāhu, lord of titans. The foremost pleasure seeker is King Mandhātā. The foremost in sovereignty is Māra the Wicked. In this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—a Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha is said to be the best. These are the four regarded as foremost.

Rāhu is foremost in size of incarnation,
Mandhātā in enjoying sensual pleasures,
Māra in sovereignty,
shining with power and glory.

Above, below, all round,
as far as the earth extends;
in all the world with its gods,
the Buddha is declared foremost."

(V) (15) Thi Thiết

− Này các Tỷ-kheo, có bốn thi thiết tối thượng này. Thế nào là bốn?

Tối thượng trong những kẻ có tự ngã, này các Tỷ-kheo, tức là Ràhu, A-tu-la vương. Tối thượng trong các vị thọ hưởng các dục, này các Tỷ-kheo, tức là vua Mandhàtà. Tối thượng trong các vị có quyền lực tối thắng, này các Tỷ-kheo, tức là ác Ma. Trong thế giới chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, cùng với các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, này các Tỷ-kheo, Như Lai được gọi là tối thượng, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Này các Tỷ-kheo, có bốn sự thi thiết tối thượng này.

Ràhù là tối thượng
Trong các vị tự ngã
Mandhàtà tối thượng
Trong các vị hưởng dục
Màrà là tối thượng
Giữa những bậc uy quyền
Với thần túc danh xưng
Vị ấy được chói sáng
Phía trên, ngang phía dưới
Khắp sanh thú ở đời
Trong thế giới chư Thiên
Phật được gọi tối thượng.\

AN 4.16 Subtlety Sokhummasutta

"Mendicants, there are these four kinds of subtlety. What four?

A mendicant has ultimate subtlety of form. They don’t see any other subtlety of form that’s better or finer than that, nor do they aim for it.

A mendicant has ultimate subtlety of feeling. They don’t see any other subtlety of feeling that’s better or finer than that, nor do they aim for it.

A mendicant has ultimate subtlety of perception. They don’t see any other subtlety of perception that’s better or finer than that, nor do they aim for it.

A mendicant has ultimate subtlety of choices. They don’t see any other subtlety of choices that’s better or finer than that, nor do they aim for it.

These are the four kinds of subtlety.

Knowing the subtlety of form,
the cause of feelings,
where perception comes from,
and where it ends;
and knowing choices as other,
as suffering and as not-self,

that mendicant sees rightly,
peaceful, in love with the state of peace.
They bear their final body,
having vanquished Māra and his mount."

(VI) (16).- Trí Tế Nhị

− Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng … thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.

Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưu tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.\

AN 4.17 Prejudice (1st) Paṭhamaagatisutta

"Mendicants, there are these four ways of making prejudiced decisions. What four? Making decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. These are the four ways of making prejudiced decisions.

If you act against the teaching
out of favoritism, hostility, cowardice, or stupidity,
your fame fades away,
like the moon in the waning fortnight."

(VI) (17) Sanh Thú Không Nên Ði

− Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú này không nên đi mà đi. Thế nào là bốn?

Ði đến sanh thú vì dục, đi đến sanh thú vì sân, đi đến sanh thú vì si, đi đến sanh thú vì sợ hãi. Có bốn sanh thú không nên đi mà đi này.

Dắt dẫn bởi dục sân
Bới sợ hãi si mê
Ai vượt qua chánh pháp
Thời danh xưng người ấy
Bị tổn hại hư hại
Như trăng trong thời tối.\

AN 4.18 Prejudice (2nd) Dutiyaagatisutta

"Mendicants, there are these four ways of making unprejudiced decisions. What four? Making decisions unprejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. These are the four ways of making unprejudiced decisions.

If you don’t act against the teaching
out of favoritism, hostility, cowardice, and stupidity,
your fame swells,
like the moon in the waxing fortnight."

(VIII) (18) Sanh Thú Nên Ði

− Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú này nên đi mà đi. Thế nào là bốn?

Không vì dục đi đến sanh thú, không vì sân đi đến sanh thú, không vì si đi đến sanh thú, không vì sợ hãi đi đến sanh thú. Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú nên đi mà đi này.

Dắt dẫn bởi dục sân
Bởi sợ hãi si mê
Ai không vượt chánh pháp
Thời danh xưng người ấy
Ðược đầy đủ vuông tròn
Như trăng trong thời sáng\

AN 4.19 Prejudice (3rd) Tatiyaagatisutta

"Mendicants, there are these four ways of making prejudiced decisions. What four? Making decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. These are the four ways of making prejudiced decisions.

There are these four ways of making unprejudiced decisions. What four? Making decisions unprejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. These are the four ways of making unprejudiced decisions.

If you act against the teaching
out of favoritism, hostility, cowardice, or stupidity,
your fame fades away,
like the moon in the waning fortnight.

If you don’t act against the teaching
out of favoritism, hostility, cowardice, and stupidity,
your fame swells,
like the moon in the waxing fortnight."

(IX) (19) Không Nên Ði

(Kinh này là kinh 17 và kinh 18 hợp lại).\

AN 4.20 A Meal Designator Bhattuddesakasutta

"Mendicants, a meal designator who has four qualities is cast down to hell. What four? They make decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. A meal designator who has these four qualities is cast down to hell.

A meal designator who has four qualities is raised up to heaven. What four? They make decisions unprejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. A meal designator who has these four qualities is raised up to heaven.

All those people with unbridled sensuality,
unprincipled, with no respect for principle,
led astray
>by favoritism, hostility, stupidity, or cowardice,
are called ‘an assembly of the dregs’:

that’s what was said by the ascetic who knows.
And so those praiseworthy true persons,
standing on principle, doing nothing wrong,
not led astray
>by favoritism, hostility, stupidity, or cowardice,
are called ‘an assembly of the cream’:
that’s what was said by the ascetic who knows."

(X) (20) Người Ðầu Bếp

− Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục. Thế nào là bốn?

Ði đến sanh thú vì dục, đi đến sanh thú vì sân, đi đến sanh thú vì si, đi đến sanh thú vì sợ hãi. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục.

− Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là bốn? Không vì dục đi đến sanh thú, không vì sân đi đến sanh thú, không vì si đi đến sanh thú, không vì sợ hãi đi đến sanh thú. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.

Những ai đối với dục
Hạng người không chế ngự
Là hạng người phi pháp
Tôn trọng điều phi pháp
Họ đi bị dắt dẫn
Bởi dục sân, sợ hãi
Làm uế nhiễm hội chúng
Họ được gọi như vậy
Như vậy họ được gọi
Bởi Sa-môn hiểu biết
Do vậy bậc Chân nhân
Các bậc đáng tán thán
Họ trú vào Chánh pháp
Họ không làm điều ác
Họ đi, không bị dẫn
Bởi dục, sân, sợ hãi
Tinh hoa của hội chúng
Họ được gọi nva
Như vậy họ được gọi
Bởi Sa-môn hiểu biết\