Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Overflowing Merit

AN 4.51 Overflowing Merit Paṭhamapuññābhisandasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness. What four?

When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of heart while using a robe, the overflowing of merit for the donor is limitless …

When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of heart while eating almsfood, the overflowing of merit for the donor is limitless …

When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of heart while using lodgings, the overflowing of merit for the donor is limitless …

When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of heart while using medicines and supplies for the sick, the overflowing of merit for the donor is limitless …

These are the four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.

When a noble disciple has these four kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to grasp how much merit they have by saying that this is the extent of their overflowing merit … that leads to happiness. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.

It’s like trying to grasp how much water is in the ocean. It’s not easy to say how many gallons, how many hundreds, thousands, hundreds of thousands of gallons there are. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of water.

In the same way, when a noble disciple has these four kinds of overflowing merit it’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.

Hosts of people use the rivers,
and though the rivers are many,
all reach the great deep, the boundless ocean,
the cruel sea that’s home to precious gems.

In the same way, when a person gives
>food, drink, and clothes;
and they’re a giver of beds, seats, and mats—
the streams of merit reach that astute person,
as the rivers bring their waters to the sea."

VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước

(I) (51) Phẩm Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (1)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi

2. - Có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai…

… Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ trú xứ của ai… hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

2. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước”; vì rằng cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì nắm lấy một số lượng phước thiện và nói rằng: “có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, đem đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng.

Biển lớn không hạn lượng,
Hồ lớn nhiều sợ hãi,
Là kho tàng cất giữ,
Vô số lượng châu báu,
Cũng là chỗ trú ẩn,
Vô số các loại cá,
Là chỗ các sóng lớn,
Quy tụ chảy ra biển,
Cũng vậy người bố thí,
Ðồ ăn và đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Chỗ ngồi và thảm nệm,
Bậc Hiền thí như vậy,
Phước đức ùa chảy đến,
Như sông dẫn dòng nước,
Ùa chảy vào bể cả.

AN 4.52 Overflowing Merit (2nd) Dutiyapuññābhisandasutta

"Mendicants, there are these four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness. What four?

It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is the first kind of overflowing merit …

Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ This is the second kind of overflowing merit …

Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, sincere, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individuals. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.’ This is the third kind of overflowing merit …

Furthermore, a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This is the fourth kind of overflowing merit …

These are the four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.

Whoever has faith in the Realized One,
unwavering and well grounded;
whose ethical conduct is good,
praised and loved by the noble ones;

who has confidence in the Saṅgha,
and correct view:
they’re said to be prosperous,
their life is not in vain.

So let the wise devote themselves
to faith, ethical behavior,
confidence, and insight into the teaching,
remembering the instructions of the Buddhas."

(II) (52) Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện… hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Phật; bậc Thế Tôn ấy là bậc ng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn… Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ nhất… hạnh phúc an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ hai… hạnh phúc, an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. ng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ ba… hạnh phúc, an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với những giới, được bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ tư… hạnh phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Ai tin giới, hiền thiện,
Bậc Thánh khen, mến chuộng.
Ai tịnh tín chúng Tăng,
Với cái nhìn chánh trực,
Người ấy được họ gọi,
Không phải là người nghèo.
Ðời sống người như vậy,
Không phải đời trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thắng pháp,
Bậc trí chú tâm niệm,
Lời dạy của chư Phật.

AN 4.53 Living Together (1st) Paṭhamasaṁvāsasutta

At one time the Buddha was traveling along the road between Madhurā and Verañjā, as were several householders, both women and men. The Buddha left the road and sat at the root of a tree, where the householders saw him.

They went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to them:

"Householders, there are four ways of living together. What four?

  1. A male zombie living with a female zombie;

  2. a male zombie living with a goddess;

  3. a god living with a female zombie;

  4. a god living with a goddess.

And how does a male zombie live with a female zombie? It’s when the husband kills living creatures, steals, commits sexual misconduct, lies, and consumes beer, wine, and liquor intoxicants. He’s unethical, of bad character, living at home with his heart full of the stain of stinginess, abusing and insulting ascetics and brahmins. And the wife is also … unethical, of bad character … That’s how a male zombie lives with a female zombie.

And how does a male zombie live with a goddess? It’s when the husband … is unethical, of bad character … But the wife doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume beer, wine, and liquor intoxicants. She’s ethical, of good character, living at home with her heart rid of the stain of stinginess, not abusing and insulting ascetics and brahmins. That’s how a male zombie lives with a goddess.

And how does a god live with a female zombie? It’s when the husband … is ethical, of good character … But the wife … is unethical, of bad character … That’s how a god lives with a female zombie.

And how does a god live with a goddess? It’s when the husband … is ethical, of good character … And the wife is also … ethical, of good character … That’s how a god lives with a goddess.

These are the four ways of living together.

When both are unethical,
miserly and abusive,
then wife and husband
live together as zombies.

When the husband is unethical,
miserly and abusive,
but the wife is ethical,
bountiful, rid of stinginess,
she’s a goddess living
with a zombie for a husband.

When the husband is ethical,
bountiful, rid of stinginess,
but the wife is unethical,
miserly and abusive,
she’s a zombie living
with a god for a husband.

When both are faithful and bountiful,
disciplined, living righteously,
then wife and husband
say nice things to each other.

They get all the things they need,
so they live at ease.
Their enemies are downhearted,
when both are equal in ethics.

Having practiced the teaching here,
both equal in precepts and observances,
they delight in the heavenly realm,
enjoying all the pleasures they desire."

(III) (53) Sống Chung (1)

1. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Và nhiều nam gia chủ và nữ gia chủ cũng đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới một gốc cây, trên chỗ đã được sửa soạn. Các nam gia chủ và nữ gia chủ thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ đang ngồi một bên:

2. - Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?

Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chúng với Thiên nữ. Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.

3. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.

4. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này gia chủ, người chồng sát sanh… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.

5. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?

Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Như vậy, này các Gia chủ là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.

6. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-lamôn, và người vợ cũng là người không sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Gia chủ, có bốn loại chung sống này.

Cả hai là ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Cặp vợ và chồng ấy,
Ðê tiện sống đê tiện.
Chồng là người ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Như vậy vợ Thiên nữ
Sống với chồng đê tiện.
Chồng là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Vợ là đê tiện nữ,
Chúng sống chồng, Thiên nam.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng.
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành.
Ở đây sống theo pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều cầu mong.

AN 4.54 Living Together (2nd) Dutiyasaṁvāsasutta

"Mendicants, there are four ways of living together. What four?

  1. A male zombie living with a female zombie;

  2. a male zombie living with a goddess;

  3. a god living with a female zombie;

  4. a god living with a goddess.

And how does a male zombie live with a female zombie? It’s when the husband kills living creatures, steals, commits sexual misconduct; he uses speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; and he’s covetous, malicious, and has wrong view. He’s unethical, of bad character, living at home with his heart full of the stain of stinginess, abusing and insulting ascetics and brahmins. And the wife is also … unethical, of bad character … That’s how a male zombie lives with a female zombie.

And how does a male zombie live with a goddess? It’s when the husband … is unethical, of bad character … But the wife doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. She doesn’t use speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical. And she’s contented, kind-hearted, with right view. She’s ethical, of good character, living at home with her heart rid of the stain of stinginess, not abusing and insulting ascetics and brahmins. That’s how a male zombie lives with a goddess.

And how does a god live with a female zombie? It’s when the husband … is ethical, of good character … But the wife … is unethical, of bad character … That’s how a god lives with a female zombie.

And how does a god live with a goddess? It’s when the husband … is ethical, of good character … And the wife is also … ethical, of good character … That’s how a god lives with a goddess.

These are the four ways of living together." …

(IV) (54) Sống Chung (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?

Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chung với Thiên nữ. Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chồng là người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân tâm, tà kiến, ác giới, ác tánh, sống trong gia đình với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân tâm, tà kiến, ác giới, ác tánh, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam chung sống với đê tiện nữ.

3. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh… nhiếc mắng, chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham, không có sân tâm, chánh kiến, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm vị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.

4. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.

5. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-lamôn; và người vợ cũng là người không sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này.

Cả hai là ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Cặp vợ và chồng ấy,
Ðê tiện sống đê tiện,
Chồng là người ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Như vậy vợ Thiên nữ
Sống với chồng đê tiện.
Chồng là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Còn người vợ ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là đê tiện nữ,
Chung sống chồng, Thiên nam.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều cầu mong.

AN 4.55 Equality (1st) Paṭhamasamajīvīsutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile Hill, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood.

Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Nakula’s father, where he sat on the seat spread out.

Then the householder Nakula’s father and the housewife Nakula’s mother went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Nakula’s father said to the Buddha, “Sir, ever since we were both young, and Nakula’s mother was given to me in marriage, I can’t recall betraying her even in thought, still less in deed. We want to see each other in both this life and the next.”

Then Nakula’s mother said to the Buddha, “Sir, ever since we were both young, and I was given in marriage to Nakula’s father, I can’t recall betraying him even in thought, still less in deed. We want to see each other in both this life and the next.”

"Householders, if wife and husband want to see each other in both this life and the next, they should be equals in faith, ethics, generosity, and wisdom.

When both are faithful and bountiful,
disciplined, living righteously,
then wife and husband
say nice things to each other.

They get all the things they need,
so they live at ease.
Their enemies are downhearted,
when both are equal in ethics.

Having practiced the teaching here,
both equal in precepts and observances,
they delight in the heavenly realm,
enjoying all the pleasures they desire."

(V) (55) Xứng Ðôi (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:

2. - Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

− Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.

Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu.

AN 4.56 Equality (2nd) Dutiyasamajīvīsutta

“Mendicants, if wife and husband want to see each other in both this life and the next, they should be equals in faith, ethics, generosity, and wisdom. …”

(VI) (56) Xứng Ðôi (2)

(Kinh này giống như kinh trước, nhưng chỉ bắt đầu với lời của Thế Tôn dạy và nói cho các Tỷ-kheo).

AN 4.57 Suppavāsā Suppavāsāsutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Pajjanika.

Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Suppavāsā the Koliyan, where he sat on the seat spread out. Then Suppavāsā served and satisfied the Buddha with her own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, she sat down to one side. The Buddha said to her:

"Suppavāsā, when a noble disciple gives food, she gives the recipients four things. What four? Long life, beauty, happiness, and strength. Giving long life, she has long life as a god or human. Giving beauty, she has beauty as a god or human. Giving happiness, she has happiness as a god or human. Giving strength, she has strength as a god or human. When a noble disciple gives food, she gives the recipients these four things.

When she gives well-prepared food,
pure, fine, and full of flavor,
that offering—given to the sincere,
who have good conduct, and are big-hearted—
joins merit to merit. It’s very fruitful,
and is praised by those who know the world.

Those who recall such sacrifices,
live in the world full of inspiration.
They’ve driven out the stain of stinginess,
>root and all,
blameless, they go to a heavenly place."

(VII) (57) Suppavàsà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koli tại thị trấn của dân chúng Koli tên là Sajjanela. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi đến trú xứ của Suppavàsà, người dân Koli, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Suppavàsà người dân Koli, sau khi tự tay mời Thế Tôn dùng cho đến thỏa mãn các món ăn loại cứng và loại mềm, rồi Suppavàsà, thuộc dân tộc Koli, sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Suppavàsà, người dân Koli, đang ngồi một bên:

2. - Các Thánh nữ đệ tử khi bố thí đồ ăn, này Suppavàsà, bố thí bốn sự cho những người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho an lạc, người cho được chia phần an lạc, hoặc thuộc cõi Trời, hoặc thuộc cõi Người. Sau khi cho sức mạnh, người cho được chia phần sức mạnh, thuộc cõi Trời, hay cõi Người. Này Suppavàsà, khi Thánh nữ đệ tử bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự này cho những người nhận.

Cho đồ ăn khéo làm,
Sạch, thù diệu, vị ngon,
Nàng với sự cúng dường,
Bố thí vị chánh trực,
Những vị sống chánh hạnh,
Là những bậc đại hành,
Với đức gặt công đức,
Lại được quả to lớn,
Bậc hiểu biết thế gian,
Có lời tán thán nàng,
ức niệm tế đàn vậy,
Họ dạo quanh thế giới,
Với tâm tư hoan hỷ
Nhiếp phục gốc xan tham,
Không bị ai chỉ trích,
Chứng đạt được cõi Trời.

AN 4.58 Sudatta Sudattasutta

Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Householder, when a noble disciple gives food, they give the recipients four things. What four? Long life, beauty, happiness, and strength. Giving long life, they have long life as a god or human. … Giving beauty … happiness … strength … When a noble disciple gives food, they give the recipients these four things.

Carefully giving food at the right time,
to those who are disciplined,
>eating only what others give,
you provide them with four things:
long life, beauty, happiness, and strength.

A person who gives long life, beauty,
happiness, and strength,
has long life and fame
wherever they’re reborn."

(VIII) (58) Sudatta

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, bậc Thánh đệ tử bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự cho người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho an lạc, người cho được chia phần an lạc, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho sức mạnh, người cho được chia phần sức mạnh, thuộc chư Thiên hay loài Người. Này Gia chủ, người Thánh đệ tử bố thí món ăn, bố thí bốn sự này cho những người nhận.

Những ai khéo chế ngự,
Sống nhờ người bố thí,
Ai tùy thời, nhiệt thành,
Bố thí đồ ăn uống,
Ðem lại cho các vị,
Bốn sự kiện như sau,
Cho thọ mạng, dung sắc,
Cho an lạc, sức mạnh,
Vị bố thí thọ mạng,
Vị bố thí sức mạnh,
Người bố thí sức mạnh,
Thọ mạng dài, danh xưng,
Dầu sanh tại chỗ nào.

AN 4.59 Food Bhojanasutta

“Mendicants, when a donor gives food, they give the recipients four things. What four? Long life, beauty, happiness, and strength. …”

(IX) (59) Các Ðồ Ăn

1. - Người bố thí đồ ăn, này các Tỷ-kheo, bố thí bốn sự cho người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho dung sắc… cho an lạc… Sau khi cho sức mạnh, được chia phần sức mạnh, thuộc chư Thiên hay loài Người.

Này các Tỷ-kheo, người bố thí các món ăn, bố thí bốn sự này cho người nhận.

Những ai khéo chế ngự,
Sống bố thí người khác,
Ai tùy thời nhiệt thành,
Bố thí đồ ăn uống,
Ðem lại cho các vị,
Bốn sự kiện như sau,
Cho thọ mạng, dung sắc,
Cho an lạc, sức mạnh,
Vị bố thí thọ mạng,
Vị bố thí dung sắc,
Người bố thí an lạc,
Người bố thí sức mạnh,
Thọ mạng dài, danh xưng,
Dầu sanh tại chỗ nào.

AN 4.60 Lay Practice Gihisāmīcisutta

Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Householder, when a noble disciple does four things they are practicing appropriately for a layperson, which brings fame and leads to heaven. What four? It’s when a noble disciple serves the mendicant Saṅgha with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. When a noble disciple does these four things they are practicing appropriately for a layperson, which brings fame and leads to heaven.

Those who are astute practice the way
that’s appropriate for laypeople.
They provide those who are ethical
and rightly comported with robes,

almsfood, lodgings,
and supplies for the sick.
Their merit always grows
by day and by night.
They pass on to a place in heaven,
having done excellent deeds."

(X) (60) Bổn Phận Người Gia Chủ

Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

− Thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử hộ trì chúng Tỷ-kheo, hộ trì chúng Tỷ-kheo với y, hộ trì chúng Tỷ-kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỷ-kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỷ-kheo với dược phẩm trị bệnh.

Thành tựu với bốn pháp này, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời.

Bậc Hiền trí thực hiện,
Con đường thật xứng đáng,
Của người làm gia chủ,
Hộ trì bậc có giới,
Bậc sở hành chơn chánh,
Hộ trì với y áo,
Với đồ ăn khất thực,
Sàng tọa, thuốc trị bệnh,
Công đức họ tăng trưởng,
Thường hằng, ngày lẫn đêm,
Do làm nghiệp hiền thiện,
Ði đến cảnh chư Thiên