Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Practice

AN 4.161 In Brief Saṁkhittasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

These are the four ways of practice."

XVII. Phẩm Ðạo Hạnh

(I) (161) Tóm Tằt

− Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

Này các Tỷ-kheo, cố bốn đạo hành này.

AN 4.162 In Detail Vitthārasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

And what’s the painful practice with slow insight? It’s when someone is ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They often feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. These five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they only slowly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the painful practice with slow insight.

And what’s the painful practice with swift insight? It’s when someone is ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They often feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. And these five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they swiftly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the painful practice with swift insight.

And what’s pleasant practice with slow insight? It’s when someone is not ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They rarely feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. These five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they only slowly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the pleasant practice with slow insight.

And what’s the pleasant practice with swift insight? It’s when someone is not ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They rarely feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. These five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they swiftly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the pleasant practice with swift insight.

These are the four ways of practice."

(II) (162) Với Chi Tiết

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

2.-Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí chậm? Ở đây, có người bản tánh tham dục rất cường thịnh, luôn luôn cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân rất cường thịnh, luôn luôn cảm thọ khổ ưu do sân hận sanh; bản tánh si rất cường thịnh, luôn luôn cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất mềm yếu, tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu người ấy đạt được Vô gián định một cách chậm chạp để đoạn diệt các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí chậm.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí nhanh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bản tánh tham dục rất cường thịnh … luôn luôn cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra hết sức dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này hết sức dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách mau chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí nhanh.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí chậm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bản tánh tham dục không có cường thịnh … thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh … bản tánh sân không có cường thịnh … bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất mềm yếu, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu, người ấy đạt được Vô gián định một cách chậm chạp để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí chậm.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí nhanh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.

AN 4.163 Ugly Asubhasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

And what’s the painful practice with slow insight? It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions, and has well established the perception of their own death. They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. But these five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they only slowly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the painful practice with slow insight.

And what’s the painful practice with swift insight? It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions, and has well established the perception of their own death. They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. And these five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they swiftly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the painful practice with swift insight.

And what’s the pleasant practice with slow insight? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, personally experiencing the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ Giving up pleasure and pain, and ending former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. But these five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they only slowly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the pleasant practice with slow insight.

And what’s the pleasant practice with swift insight? It’s when a mendicant … enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption … They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. And these five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of this, they swiftly attain the conditions for ending the defilements in the present life. This is called the pleasant practice with swift insight.

These are the four ways of practice."

(III) (163) Bất Tịnh

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn? Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

2.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí chậm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực, tàm lực, quý lực, tấn lực, tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện ra rất mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất mềm yếu, đạt được Vô gián định một cách chậm chạp để đoạn diệt các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí chậm.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí nhanh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào, chứng được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí nhanh.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí chậm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng và trú Thiền thứ nhất; làm cho tịnh chỉ tầm và tứ … chứng và trú Thiền thứ hai; ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba … xả lạc, xả khổ, chấm dứt khổ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn mềm yếu này, đạt được Vô gián định một cách chậm chạp để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí chậm.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí nhanh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng và trú Thiền thứ nhất … chứng và trú Thiền thứ hai … chứng và trú Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư … Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực này, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn mềm rất dồi dào này, vị ấy chứng được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.

AN 4.164 Patient (1st) Paṭhamakhamasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four? Impatient practice, patient practice, taming practice, and calming practice.

And what’s the impatient practice? It’s when someone abuses, annoys, or argues with you, and you abuse, annoy, or argue right back at them. This is called the impatient practice.

And what’s the patient practice? It’s when someone abuses, annoys, or argues with you, and you don’t abuse, annoy, or argue back at them. This is called the patient practice.

And what’s the taming practice? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving restraint over it. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving restraint over it. This is called the taming practice.

And what’s the calming practice? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, get rid of them, calm them, eliminate them, and obliterate them. This is called the calming practice.

These are the four ways of practice."

(IV) (164) Kham Nhẫn (1)

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưởi mắng lại kẻ đã chưởi mắng, sân hận lại với kẻ đã sân hận, gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng, không sân hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành nhiếp phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn, sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là đạo hành an tịnh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu, không có chấp nhận sân tầm khởi lên … không có chấp nhận hại tầm khởi lên … không có chấp nhận các pháp ác bất thiện tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.

AN 4.165 Patience (2nd) Dutiyakhamasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four? Impatient practice, patient practice, taming practice, and calming practice.

And what’s the impatient practice? It’s when someone cannot endure cold, heat, hunger, and thirst. They cannot endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They cannot endure rude and unwelcome criticism. And they cannot put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. This is called the impatient practice.

And what’s the patient practice? It’s when someone endures cold, heat, hunger, and thirst. They endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They endure rude and unwelcome criticism. And they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. This is called the patient practice.

And what’s the taming practice? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. … When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving restraint over it. This is called the taming practice.

And what’s the calming practice? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, get rid of them, calm them, eliminate them, and obliterate them. This is called the calming practice.

These are the four ways of practice."

(V) (165) Kham Nhẫn (2)

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không thể chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người kham nhẫn lạnh, nóng … chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành nhiếp phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung … (như kinh 164.4). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành an tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm khởi lên … (như kinh 164.5) … Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.

AN 4.166 Both Ubhayasutta

"Mendicants, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

Of these, the painful practice with slow insight is said to be inferior in both ways: because it’s painful and because it’s slow. This practice is said to be inferior in both ways.

The painful practice with swift insight is said to be inferior because it’s painful.

The pleasant practice with slow insight is said to be inferior because it’s slow.

The pleasant practice with swift insight is said to be superior in both ways: because it’s pleasant, and because it’s swift. This practice is said to be superior in both ways.

These are the four ways of practice."

(VI) (166) Với Các Chi Tiết

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn? Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo hành này khổ, thắng trí chậm. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này về cả hai phương diện gọi là hạ liệt. Vì đạo hành này là khổ, do duyên này, đạo hành được gọi là hạ liệt. Vì đạo hành này thắng trí chậm, do duyên này, đạo hành được gọi là hạ liệt. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này về cả hai phương diện gọi là hạ liệt.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo hành này là khổ, thắng trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này do đau khổ nên gọi là hạ liệt. 4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo hành này là lạc, thắng trí chậm. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này do chậm nên gọi là hạ liệt.

5. Tại đây, này các Tỷ-kheo, đạo hành này lạc, thắng trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này cả hai phương diện, được gọi là thù thắng. Ðạo hành này lạc, do duyên này, đạo hành được gọi là thù thắng. Ðạo hành này nhanh chóng, do duyên này, đạo hành được gọi là thù thắng. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này cả hai phương diện, được gọi là thù thắng.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.

AN 4.167 Moggallāna’s Practice Mahāmoggallānasutta

Then Venerable Sāriputta went up to Venerable Mahāmoggallāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Sāriputta sat down to one side and said to Mahāmoggallāna:

"Reverend Moggallāna, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

These are the four ways of practice. Which one of these four ways of practice did you rely on to free your mind from defilements by not grasping?"

“Reverend Sāriputta … I relied on the painful practice with swift insight to free my mind from defilements by not grasping.”

(VII) (167) Sàriputta Và Moggallàna

1. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Tôn giả Moggallàna, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Moggallàna:

− Này Hiền giả Moggallàna, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

Này Hiền giả, có bốn đạo hành này.

2. Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả, đạo hành nào do đi đến đạo hành này, tâm của Hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?

− Này Hiền giả Sàriputta, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh. Này Hiền giả, có bốn đạo hành này. Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả, đạo hành này khổ, thắng trí nhanh. Do đi đến đạo hành này, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

AN 4.168 Sāriputta’s Practice Sāriputtasutta

Then Venerable Mahāmoggallāna went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Mahāmoggallāna sat down to one side, and said to Sāriputta:

"Reverend Sāriputta, there are four ways of practice. What four?

  1. Painful practice with slow insight,

  2. painful practice with swift insight,

  3. pleasant practice with slow insight, and

  4. pleasant practice with swift insight.

These are the four ways of practice. Which one of these four ways of practice did you rely on to free your mind from defilements by not grasping?"

“Reverend Moggallāna … I relied on the pleasant practice with swift insight to free my mind from defilements by not grasping.”

(VIII) (168) Moggallàna và Sàriputta

1. Tôn giả Moggallàna đi đến Tôn giả Sàriputta … Ngồi xuống một bên, Tôn giả Moggallàna nói với Tôn giả Sàriputta:

− Này Hiền giả Sàriputta, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn? … Này Hiền giả, có bốn đạo hành này.

2. Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả, đạo hành nào do đi đến đạo hành này, tâm của Hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?

− Này Hiền giả Moggallàna, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?

Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.

Này Hiền giả, trong bốn đạo hành này, đạo hành này lạc, thắng trí nhanh. Do đi đến đạo hành này, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

AN 4.169 Extra Effort Sasaṅkhārasutta

"Mendicants, these four people are found in the world. What four?

  1. One person is fully extinguished in this very life by making extra effort.

  2. One person is fully extinguished when the body breaks up by making extra effort.

  3. One person is fully extinguished in this very life without making extra effort.

  4. One person is fully extinguished when the body breaks up without making extra effort.

And how is a person fully extinguished in this very life by making extra effort? It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions, and has well established the perception of their own death. They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. And these five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of the strength of the five faculties, they are fully extinguished in this very life by making extra effort. That’s how a person is fully extinguished in this very life by making extra effort.

How is a person fully extinguished when the body breaks up by making extra effort? It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions, and has well established the perception of their own death. They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. But these five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of the weakness of the five faculties, they are fully extinguished when the body breaks up by making extra effort. That’s how a person is fully extinguished when the body breaks up by making extra effort.

And how is a person fully extinguished in this very life without making extra effort? It’s when a mendicant … enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption … They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. And these five faculties manifest in them strongly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of the strength of the five faculties, they are fully extinguished in this very life without making extra effort. That’s how a person is fully extinguished in this very life without making extra effort.

And how is a person fully extinguished when the body breaks up without making extra effort? It’s when a mendicant … enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption … They rely on these five powers of a trainee: faith, conscience, prudence, energy, and wisdom. But these five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. Because of the weakness of the five faculties, they are fully extinguished when the body breaks up without making extra effort. That’s how a person is fully extinguished when the body breaks up without making extra effort.

These are the four people found in the world."

(IX) (169) Với Một Vài Nỗ Lực

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào, ngay trong hiện tại, chứng được Hữu hành Niết-bàn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân … với tưởng chết, khéo an trú trên nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra mềm yếu, khi thân hoại mạng chung, vị ấy chứng được Hữu hành Niết-bàn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng được Vô hành Niết-bàn.

Như vậy này các Tỷ kheo, Có hạng người ngay trong hiện tại chứng được vô hành Niết Bàn.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niếtbàn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này khởi lên mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu, vị ấy khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.170 In Conjunction Yuganaddhasutta

So I have heard. At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. There Ānanda addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Ānanda said this:

"Reverends, all of the monks and nuns who declare in my presence that they have attained perfection, did so by one or other of four paths.

What four?

Take a mendicant who develops serenity before discernment. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

Another mendicant develops discernment before serenity. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

Another mendicant develops serenity and discernment in conjunction. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

Another mendicant’s mind is seized by restlessness to realize the teaching. But there comes a time when their mind is stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. The path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

All of the monks and nuns who declare in my presence that they have attained perfection, did so by one or other of these four paths."

(X) (170) Gắn Liền Cột Chặt

1. Một thời, Tôn giả Ananda sống ở Kosàmbi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda gọi các Tỷ-kheo:

− Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này. Thế nào là bốn?

2. Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

3. Lại nữa, này chư Hiền, vị Tỷ-kheo tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

4. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

5. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn.

Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. Này chư Hiền, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.