Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Intention

AN 4.171 Intention Cetanāsutta

"Mendicants, as long as there’s a body, the intention that gives rise to bodily action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a voice, the intention that gives rise to verbal action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a mind, the intention that gives rise to mental action causes pleasure and pain to arise in oneself. But these only apply when conditioned by ignorance.

By oneself one makes the choice that gives rise to bodily, verbal, and mental action, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself. Or else others make the choice … One consciously makes the choice … Or else one unconsciously makes the choice …

Ignorance is included in all these things. But when ignorance fades away and ceases with nothing left over, there is no body and no voice and no mind, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself. There is no field, no ground, no scope, and no basis, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself.

XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở

(I) (171) Với Tư Tâm Sở

− Này các Tỷ-kheo, khi nào có hành động về thân, do nhân thân tư tâm sở, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi nào có hành động về lời, do nhân tư tâm sở về lời, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi nào có hành động về ý, do nhân ý tư tâm sở, khởi lên lạc khổ nội tâm. Hay là do vô minh …

2. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm thân hành, do duyên này, khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm thân hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

3. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm khẩu hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

4. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm ý hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

5. Này các Tỷ-kheo, trong những pháp này, có vô minh tháp tùng. Do sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn của vô minh, thân hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy; khẩu hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy; ý hành không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Thửa ruộng không có, căn cứ không có, xứ không có, duyên sự không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

Mendicants, there are four kinds of reincarnation in a life-form. What four?

  1. There is reincarnation in a life-form where one’s own intention is effective, not that of others.

  2. There is reincarnation in a life-form where the intention of others is effective, not one’s own.

  3. There is reincarnation in a life-form where both one’s own and others’ intentions are effective.

  4. There is reincarnation in a life-form where neither one’s own nor others’ intentions are effective.

These are the four kinds of reincarnation in a life-form."

When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha:

“Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Take the case of the reincarnation in a life-form where one’s own intention is effective, not that of others. Those sentient beings pass away from that realm due to their own intention. Take the case of the reincarnation in a life-form where the intention of others is effective, not one’s own. Those sentient beings pass away from that realm due to the intention of others. Take the case of the reincarnation in a life-form where both one’s own and others’ intentions are effective. Those sentient beings pass away from that realm due to both their own and others’ intentions. But sir, in the case of the reincarnation in a life-form where neither one’s own nor others’ intentions are effective, what kind of gods does this refer to?”

“Sāriputta, it refers to the gods reborn in the dimension of neither perception nor non-perception.”

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings pass away from that realm as returners who come back to this place, while others are non-returners who don’t come back?”

"Sāriputta, take a person who hasn’t given up the lower fetters. In this very life they enter and abide in the dimension of neither perception nor non-perception. They enjoy it and like it and find it satisfying. If they abide in that, are committed to it, and meditate on it often without losing it, when they die they’re reborn in the company of the gods of the dimension of neither perception nor non-perception. When they pass away from there, they’re a returner, who comes back to this place.

Sāriputta, take a person who has given up the lower fetters. In this very life they enter and abide in the dimension of neither perception nor non-perception. They enjoy it and like it and find it satisfying. If they abide in that, are committed to it, and meditate on it often without losing it, when they die they’re reborn in the company of the gods of the dimension of neither perception nor non-perception. When they pass away from there, they’re a non-returner, not coming back to this place.

This is the cause, this is the reason why some sentient beings pass away from that realm as returners who come back to this place, while others are non-returners who don’t come back."

(II) (172) Ðược Ngã Tánh

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh. Thế nào là bốn?

Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải tư tâm sở của mình. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không hoạt động.

Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh.

2. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Do nhân ngã tư tâm sở, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải ngã tư tâm sở. Do nhân tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Do nhân ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung, từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động.

3. Trong trường hợp ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động, thời hạng chư Thiên nào cần được xem là trong trường hợp này?

− Này Sàriputta, hạng chư Thiên đi đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được xem là trong trường hợp ấy.

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở lui lại, đã trở lui lại trong trạng thái này? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở không lui lại, không trở lui lại trong trạng thái này?

4. - Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử chưa đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái), đã trở lui lại, đã trở lui lại trạng thái này.

5. Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái) ấy, nhưng không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.

Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung, từ bỏ thân ấy … đã không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.

AN 4.172 Sāriputta’s Attainment of Textual Analysis Vibhattisutta

There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:

"Reverends, I realized the textual analysis of the meaning—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. In many ways I explain, teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal it. Whoever has any doubt or uncertainty, let them ask me, I will answer. Our teacher is present, he who is so very skilled in our teachings.

I realized the textual analysis of the text—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. …

I realized the textual analysis of terminology—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. …

I realized the textual analysis of eloquence—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. In many ways I explain, teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal it. If anyone has any doubt or uncertainty, let them ask me, I will answer. Our teacher is present, he who is so very skilled in our teachings."

(III) (173) Phân Tích

Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:

− Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

AN 4.173 With Mahākoṭṭhita Mahākoṭṭhikasutta

Then Venerable Mahākoṭṭhita went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Mahākoṭṭhita sat down to one side, and said to Sāriputta:

“Reverend, when the six fields of contact have faded away and ceased with nothing left over, does something else still exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else both still exist and no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else neither still exist nor no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Reverend, when asked whether—when the six fields of contact have faded away and ceased with nothing left over—something else still exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else both still exists and no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else neither still exists nor no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. How then should we see the meaning of this statement?”

“If you say that, ‘When the six fields of contact have faded away and ceased with nothing left over, something else still exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else both still exists and no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else neither still exists nor no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. The scope of proliferation extends as far as the scope of the six fields of contact. The scope of the six fields of contact extends as far as the scope of proliferation. When the six fields of contact fade away and cease with nothing left over, proliferation stops and is stilled.”

(IV) (174) Kotthita

1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón thăm hỏi … ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì khác nữa? − Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

2.- Thưa Hiền giả, khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Sau khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả, như thế nào cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?

3.- “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, không có cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa !”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. Thưa Hiền giả, cho đến khi nào có sự đi đến sáu xúc xứ, cho đến khi ấy có sự đi đến hý luận. Cho đến khi nào có sự đi đến hý luận, cho đến khi ấy có sự đi đến sáu xúc xứ. Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, hý luận được đoạn diệt, hý luận được chỉ tịnh.

AN 4.174 With Ānanda Ānandasutta

Then Venerable Ānanda went up to Venerable Mahākoṭṭhita, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Ānanda sat down to one side, and said to Mahākoṭṭhita:

“Reverend, when these six fields of contact have faded away and ceased with nothing left over, does something else exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else both still exist and no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Does something else neither still exist nor no longer exist?”

“Don’t put it like that, reverend.”

“Reverend, when asked these questions, you say ‘don’t put it like that’. … How then should we see the meaning of this statement?”

“If you say that ‘when the six fields of contact have faded away and ceased with nothing left over, something else exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else both still exists and no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. If you say that ‘something else neither still exists nor no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. The scope of proliferation extends as far as the scope of the six fields of contact. The scope of the six fields of contact extends as far as the scope of proliferation. When the six fields of contact fade away and cease with nothing left over, proliferation stops and is stilled.”

4. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Mahàkotthita, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahàkotthita những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahàkotthita:

− Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, có phải còn có vật gì khác?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

… (giống như đoạn trước, khi Sàriputta trả lời cho Mahàkotthita … cho đến… “hý luận được chỉ tịnh”).

AN 4.175 With Upavāṇa Upavāṇasutta

Then Venerable Upavāna went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Upavāna sat down to one side, and said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, do you become a terminator because of knowledge?”

“That’s not it, reverend.”

“Do you become a terminator because of conduct?”

“That’s not it, reverend.”

“Do you become a terminator because of both knowledge and conduct?”

“That’s not it, reverend.”

“Do you become a terminator for some reason other than knowledge and conduct?”

“That’s not it, reverend.”

“Reverend Sāriputta, when asked whether you become a terminator because of knowledge or conduct or knowledge and conduct, or for some other reason, you say ‘that’s not it’. How then do you become a terminator?”

“Reverend, if you became a terminator because of knowledge, then even someone who still has fuel for grasping could be a terminator. If you became a terminator because of conduct, then even someone who still has fuel for grasping could be a terminator. If you became a terminator because of both knowledge and conduct, then even someone who still has fuel for grasping could be a terminator. If you became a terminator for some reason other than knowledge and conduct, then even an ordinary person could be a terminator. For an ordinary person lacks knowledge and conduct. Reverend, someone lacking good conduct does not know and see things as they are. Someone accomplished in good conduct knows and sees things as they are. Knowing and seeing things as they are, one is a terminator.”

(V) (175) Upavàna

1. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta … ngồi xuống một bên.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả. − Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

2. - Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. … Như thế nào, thưa Tôn giả, (cần phải hiểu) có người chấm dứt (đau khổ)?

3.- Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời một người phàm phu có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả, người phàm phu nhưng do có minh và hạnh, hạnh không có đầy đủ, không như thật thấy và biết, nhưng như thật thấy và biết, là người chấm dứt (đau khổ).

AN 4.176 Aspiration Āyācanasutta

"Mendicants, a faithful monk would rightly aspire: ‘May I be like Sāriputta and Moggallāna!’ These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.

A faithful nun would rightly aspire: ‘May I be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā!’ These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.

A faithful layman would rightly aspire: ‘May I be like the householder Citta and Hatthaka of Ãḷavī!’ These are a standard and a measure for my male lay disciples, that is, the householder Citta and Hatthaka of Ãḷavī.

A faithful laywoman would rightly aspire: ‘May I be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother!’ These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother."

(VI) (176) Mong Cầu

1.- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sàriputta, Moggallàna”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta, Moggallàna.

2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.

3. Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta, và Hatthaka người Alavì”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Alavì.

4. Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà”. Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.

AN 4.177 With Rāhula Rāhulasutta

Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Rāhula, the interior earth element and the exterior earth element are just the earth element. This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the earth element, detaching the mind from the earth element.

The interior water element and the exterior water element are just the water element. This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the water element, detaching the mind from the water element.

The interior fire element and the exterior fire element are just the fire element. This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the fire element, detaching the mind from the fire element.

The interior air element and the exterior air element are just the air element. This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the air element, detaching the mind from the air element.

When a mendicant sees these four elements as neither self nor belonging to self, they’re called a mendicant who has cut off craving, untied the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering."

(VII) (177) Rahula

1. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:

− Này Ràhula, phàm có nội địa giới gì, phàm có ngoại địa giới gì, đều là địa giới này. Cần phải như thật thấy địa giới ấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do thấy như thật (địa giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán địa giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.

2-4. Này Ràhula, phàm có nội thủy giới gì, phàm có ngoại thủy giới gì, đều là thủy giới này…, phàm có nội hỏa giới gì, phàm có ngoại hỏa giới gì, đều là hỏa giới này…, phàm có nội phong giới gì, phàm có ngoại phong giới gì, đều là phong giới này. Cần phải như thật thấy phong giới ấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do thấy như thật (phong giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán phong giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.

5. Khi nào, này Ràhula, Tỷ-kheo đối với bốn giới này, không có tùy quán là tự ngã hay thuộc ngã sở, này Ràhula, vị này được gọi là Tỷ-kheo đã cắt dứt ái, đã giải tỏa các kiết sử, đã chơn chánh minh quán kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.

AN 4.178 Billabong Jambālīsutta

"Mendicants, these four people are found in the world. What four?

Take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality. Suppose a person were to grab a branch with a glue-smeared hand. Their hand would stick, hold, and bind to it. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality.

Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality. Suppose a person were to grab a branch with a clean hand. Their hand wouldn’t stick, hold, or bind to it. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality.

Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to smash ignorance. Suppose there was a billabong that had been stagnant for many years. And someone was to close off the inlets and open up the drains, and the heavens didn’t provide enough rain. You wouldn’t expect that billabong to break its banks. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a certain peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to smash ignorance.

Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to smash ignorance. Suppose there was a billabong that had been stagnant for many years. And someone was to open up the inlets and close off the drains, and the heavens provided plenty of rain. You would expect that billabong to break its banks. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a certain peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to smash ignorance.

These are the four people found in the world."

(VIII) (178) Hồ Nước Ở Làng

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, ; do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại .

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.179 Extinguishment Nibbānasutta

Then Venerable Ānanda went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Ānanda sat down to one side, and said to Sāriputta:

“What is the cause, Reverend Sāriputta, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life?”

“Reverend Ānanda, it’s because some sentient beings don’t really understand which perceptions make things worse, which keep things steady, which lead to distinction, and which lead to penetration. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.”

“What is the cause, Reverend Sāriputta, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”

“Reverend Ānanda, it’s because some sentient beings truly understand which perceptions make things worse, which keep things steady, which lead to distinction, and which lead to penetration. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life.”

(IX) (179) Niết Bàn

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta. sau khi đến … ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:

− Do nhân dì, thưa Hiền giả Sàriputta, do duyên gì ở đây, lại có một số chúng sanh ngay trong hiện tại không có chứng nhập Niết-bàn?

− Ở đây, này Hiền giả Ananda, chúng sanh không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thối đọa”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào an trú”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thù thắng”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thể nhập”. Này Hiền giả Ananda, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại, không chứng nhập Niết-bàn.

2. - Thưa Hiền giả Sàriputta, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại chứng nhập được Niết-bàn?

− Ở đây, này Hiền giả Ananda, chúng sanh như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thối đọa”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào an trú”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thù thắng”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thể nhập”. Do nhân này, do duyên này,Này Hiền giả Ananda, ở đây có các chúng sanh ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn.

AN 4.180 The Four Great References Mahāpadesasutta

At one time the Buddha was staying near the city of Bhoga, at the Ānanda Tree-shrine.

There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied.

The Buddha said this: “Mendicants, I will teach you the four great references. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, what are the four great references?

Take a mendicant who says: ‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that mendicant.’ And so you should reject it.

Take another mendicant who says: ‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by that mendicant.’ You should remember it. This is the first great reference.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders. I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that Saṅgha.’ And so you should reject it.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders. I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by that Saṅgha.’ You should remember it. This is the second great reference.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by those senior mendicants.’ And so you should reject it.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants: this is the teaching, this is the monastic law, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by those senior mendicants.’ You should remember it. This is the third great reference.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that senior mendicant.’ And so you should reject it.

Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor dismiss that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by that senior mendicant.’ You should remember it. This is the fourth great reference.

These are the four great references."

(X) (180) Căn Cứ Ðịa

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp”. Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.

6. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng. 7. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và ếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.

8. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tươngxứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

9. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.