Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Perils of Offenses

AN 4.243 Schism in the Saṅgha Saṁghabhedakasutta

At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Well, Ānanda, has that disciplinary issue been settled yet?”

“How could it be, sir? Venerable Anuruddha’s protégé Bāhiya remains entirely committed to creating a schism in the Saṅgha. But Anuruddha doesn’t think to say a single word about it.”

"But Ānanda, since when has Anuruddha been involved in disciplinary issues in the midst of the Saṅgha? Shouldn’t you, together with Sāriputta and Moggallāna, settle all disciplinary issues that come up?

A bad monk sees four reasons to relish schism in the Saṅgha. What four? Take an unethical monk, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved. He thinks: ‘Suppose the monks know that I’m a bad monk … If they’re in harmony, they’ll expel me, but if they’re divided they won’t.’ A bad monk sees this as the first reason to relish schism in the Saṅgha.

Furthermore, a bad monk has wrong view, he’s attached to an extremist view. He thinks: ‘Suppose the monks know that I have wrong view … If they’re in harmony they’ll expel me, but if they’re divided they won’t.’ A bad monk sees this as the second reason to relish schism in the Saṅgha.

Furthermore, a bad monk has wrong livelihood and earns a living by wrong livelihood. He thinks: ‘Suppose the monks know that I have wrong livelihood … If they’re in harmony they’ll expel me, but if they’re divided they won’t.’ A bad monk sees this as the third reason to relish schism in the Saṅgha.

Furthermore, a bad monk desires material things, honor, and admiration. He thinks: ‘Suppose the monks know that I desire material things, honor, and admiration. If they’re in harmony they won’t honor, respect, revere, or venerate me, but if they’re divided they will.’ A bad monk sees this as the fourth reason to relish schism in the Saṅgha.

A bad monk sees these four reasons to relish schism in the Saṅgha."

XXV. Phẩm Sợ Hãi Phạm Tội

(I) (241) Phạm Tội (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:

− Này Ananda, sự tranh chấp ấy đã được chấm dứt chưa?

− Từ đâu, bạch Thế Tôn, sự tranh chấp ấy sẽ chấm dứt được? Bàhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha hoàn toàn đứng về phía hòa hợp tăng. Do vậy, Tôn giả Anuruddha nghĩ rằng không nên nói một lời nào.

− Này Ananda, có khi nào Anuruddha lại can thiệp vào những vấn đề tranh chấp giữa chúng Tăng? Phải chăng, này Ananda, khi nào có vấn đề tranh chấp gì khởi lên, chính hai Thầy Sàriputta và Moggallàna làm chấm dứt tất cả tranh chấp ấy?

2. Này Ananda, do thấy bốn lợi ích này, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo, do theo ác giới, theo ác pháp không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn, không hành Phạm hạnh nhưng tự xưng là hành Phạm hạnh, nội tâm mục nát, đầy ứ dục vọng, một đống rác dơ bẩn. Vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết ta là ác giới, theo ác pháp, không thanh tịnh … một đống rác dơ bẩn; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ nhất này, ác Tỷ-kheo thích thú với pháp hòa hợp Tăng.

3. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo có tà kiến, thành tựu với chấp thủ biên kiến, vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết ta là có ác tri kiến, chấp thủ tri kiến; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ hai này, ác Tỷ-kheo thích thú với pháp hòa hợp Tăng.

4. Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết ta có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ ba này, ác Tỷ-kheo thích thú với pháp hòa hợp Tăng.

5. Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị kinh miệt; Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết ta là tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị kinh miệt; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ tư này, ác Tỷ-kheo thích thú với pháp hòa hợp Tăng.

Do thấy bốn lợi ích này, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.

AN 4.244 Perils of Offenses Āpattibhayasutta

"Mendicants, there are these four perils of offenses. What four?

Suppose they were to arrest a bandit, a criminal and present him to the king, saying: ‘Your Majesty, this is a bandit, a criminal. May Your Majesty punish them!’ The king would say: ‘Go, my men, and tie this man’s arms tightly behind his back with a strong rope. Shave his head and march him from street to street and square to square to the beating of a harsh drum. Then take him out the south gate and there, to the south of the city, chop off his head.’ The king’s men would do as they were told. Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, a capital offense. There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, a capital offense.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding expulsion offenses. It can be expected that if they haven’t committed an expulsion offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.

Suppose a man was to put on a black cloth, mess up his hair, and put a club on his shoulder. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of clubbing. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of clubbing. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of clubbing.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding suspension offenses. It can be expected that if they haven’t committed a suspension offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.

Suppose a man was to put on a black cloth, mess up his hair, and put a sack of ashes on his shoulder. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding confessable offenses. It can be expected that if they haven’t committed a confessable offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.

Suppose a man was to put on a black cloth and mess up his hair. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of criticism. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of criticism. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of criticism.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding acknowledgable offenses. It can be expected that if they haven’t committed an acknowledgeable offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.

These are the four perils of offenses."

(II) (242) Phạm Tội (2)

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn sợ hãi phạm tội này. Thế nào là bốn?

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho nhà vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, đây là người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt lại về phía sau. Cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía nam”. Những người của vua, lấy dây thật chắc trói cánh tay nó thật chặt lại về phía sau, cạo trọc đầu, dắt nó đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam. Tại đấy, có một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu. Vì rằng những người của vua lấy dây thật chắc trói cánh tay nó thật chặt lại về phía sau, cạo trọc đầu, dắt nó đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam. Chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp, tội ba-la-di được chờ đợi như sau về vị ấy: Nếu không phạm tội, thời không rơi vào tội ba-la-di; nếu đã phạm tội, thời sẽ như pháp sám hối pháp ba-la-di.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang trên vai một cái hèo và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Vì rằng, người ấy đã mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang trên vai một cái hèo và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp tăng tàn, được chờ đợi như sau về vị ấy: “Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào tội tăng tàn. Nếu đã phạm tội thời sẽ như pháp phát lộ tội tăng tàn”.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang theo trên vai một bị đồ ăn và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Vì rằng người ấy đã mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang theo trên vai một bị đồ ăn và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp pàcittiyà ba-dật-đề, được chờ đợi như sau về vị ấy: “Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào tội pàcittiyà. Nếu phạm tội thời sẽ như pháp phát lộ tội pàcittiyà”.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Vì rằng người này mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị phê bình”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp pàtidesaniya (cần phải phát lộ) được chờ đợi như sau: Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào phạm tội pàtidesaniya. Nếu phạm tội thời sẽ như pháp sám hối, pháp pàtidesaniya.

Này các Tỷ-kheo, có bốn sợ hãi phạm tội này.

AN 4.245 The Benefits of Training Sikkhānisaṁsasutta

"Mendicants, this spiritual life is lived with training as its benefit, with wisdom as its overseer, with freedom as its core, and with mindfulness as its ruler.

And how is training its benefit? Firstly, I laid down for my disciples the training that deals with supplementary regulations in order to inspire confidence in those without it and to increase confidence in those who have it. They undertake whatever supplementary regulations I have laid down, keeping them intact, impeccable, spotless, and unmarred.

Furthermore, I laid down for my disciples the training that deals with the fundamentals of the spiritual life in order to rightly end suffering in every way. They undertake whatever training that deals with the fundamentals of the spiritual life I have laid down, keeping it intact, impeccable, spotless, and unmarred. That’s how training is its benefit.

And how is wisdom its overseer? I taught the Dhamma to my disciples in order to rightly end suffering in every way. They examine with wisdom any teachings I taught them. That’s how wisdom is its overseer.

And how is freedom its core? I taught the Dhamma to my disciples in order to rightly end suffering in every way. They experience through freedom any teachings I taught them. That’s how freedom is its core.

And how is mindfulness its ruler? Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll fulfill the training dealing with supplementary regulations, or support with wisdom in every situation the training dealing with supplementary regulations I’ve already fulfilled.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll fulfill the training dealing with the fundamentals of the spiritual life, or support with wisdom in every situation the training dealing with the fundamentals of the spiritual life I’ve already fulfilled.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll examine with wisdom the teaching that I haven’t yet examined, or support with wisdom in every situation the teaching I’ve already examined.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll experience through freedom the teaching that I haven’t yet experienced, or support with wisdom in every situation the teaching I’ve already experienced.’ That’s how mindfulness is its ruler.

‘This spiritual life is lived with training as its benefit, with wisdom as its overseer, with freedom as its core, and with mindfulness as its ruler.’ That’s what I said, and this is why I said it."

(III) (243) Lợi ích Học Tập

1. - Phạm hạnh này được sống, được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lợi ích học tập?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được ta chế đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin, để những ai có lòng tin, được tăng trưởng lòng tin. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được ta chế đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của học tập.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ vô thượng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được trí tuệ quán sát một cách đồng đẳng.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trí tuệ vô thượng.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát kiên cố?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được khéo cảm xúc với giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là giải thoát kiên cố.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm tăng thượng?

Với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp sở hành Phạm hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp sở hành Phạm hạnh được đầy đủ, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ quán sát đồng đẳng với trí tuệ pháp chưa được đồng đẳng quán sát; hay nếu pháp đã được đồng đẳng quán sát, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ cảm xúc với giải thoát, pháp chưa được cảm xúc; hay nếu pháp đã được cảm xúc, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú”. Như vậy này các Tỷ-kheo, là niệm tăng thượng.

Phạm hạnh này được sống, này các Tỷ-kheo, để được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng. Như vậy được nói đến, do duyên này được nói đến như vậy.

AN 4.246 Lying Postures Seyyāsutta

"Mendicants, there are these four ways of lying down. What four? The ways a corpse, a pleasure seeker, a lion, and a Realized One lie down.

And how does a corpse lie down? Corpses usually lie flat on their backs. This is called the way a corpse lies down.

And how does a pleasure seeker lie down? Pleasure seekers usually lie down on their left side. This is called the way a pleasure seeker lies down.

And how does a lion lie down? The lion, king of beasts, lies down on the right side, placing one foot on top of the other, with his tail tucked between his thighs. When he wakes, he lifts his front quarters and checks his hind quarters. If he sees that any part of his body is disordered or displaced, he is displeased. But if he sees that no part of his body is disordered or displaced, he is pleased. This is called the way a lion lies down.

And how does a Realized One lie down? It’s when a Realized One, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. This is called the way a Realized One lies down.

These are the four ways of lying down."

(IV) (244) Cách Nằm

− Này các Tỷ-kheo, có bốn cách nằm này. Thế nào là bốn?

Cách nằm của ngạ quỷ, cách nằm của kẻ hưởng thọ dục vọng, cách nằm của con sư tử, cách nằm của Như Lai. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách nằm của ngạ quỷ?

Này các Tỷ-kheo, phần lớn các ngạ quỷ nằm ngửa. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cách nằm của ngạ quỷ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách nằm của người hưởng thọ các dục vọng?

Và này các Tỷ-kheo, phần lớn người hưởng thọ các dục vọng nằm phía bên trái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cách nằm của kẻ hưởng thọ các dục vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách nằm của con sư tử?

Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, nằm về phía hông bên mặt, hai chân gác lên nhau và cuộn cái đuôi vào giữa hai bắp vế; khi thức dậy, nó duỗi ra phía thân trước, rồi nó ngó lui ra phía thân sau. Này các Tỷ-kheo, nếu con sư tử, vua các loài thú, thấy thân phần nào đặt sai chỗ hay lộn xộn, thời này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, không được hoan hỷ. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu con sư tử, vua các loài thú, thấy thân phần nào không đặt sai chỗ hay lộn xộn, thời này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, được hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây là cách nằm con sư tử.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách nằm của Như Lai?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, đây là cách nằm của Như Lai. Này các Tỷ-kheo, có bốn cách nằm này.

AN 4.247 Worthy of a Monument Thūpārahasutta

“Mendicants, these four are worthy of a monument. What four? A Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha; an Independent Buddha; a disciple of a Realized One; and a wheel-turning monarch. These four are worthy of a monument.”

(V) (245) Xứng Ðáng Ðược Dựng Tháp

− Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này xứng được để được dựng tháp. Thế nào là bốn?

Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xứng đáng được dựng tháp; vị Ðộc Giác Phật xứng đáng được dựng tháp; đệ tử của Như Lai xứng đáng được dựng tháp; Chuyển Luân Vương xứng đáng được dựng tháp.

Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, xứng đáng được dựng tháp.

AN 4.248 The Growth of Wisdom Paññāvuddhisutta

“Mendicants, these four things lead to the growth of wisdom. What four? Associating with true persons, listening to the true teaching, rational application of mind, and practicing in line with the teaching. These four things lead to the growth of wisdom.”

(VI) (246) Trí Tuệ Tăng Trưởng

1.- Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến trí tuệ tăng trưởng. Thế nào là bốn?

Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp.

Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến trí tuệ tăng trưởng.

AN 4.249 Very Helpful Bahukārasutta

“Mendicants, these four things are very helpful to a human being. What four? Associating with true persons, listening to the true teaching, rational application of mind, and practicing in line with the teaching. These four things are very helpful to a human being.”

2. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, giúp ích nhiều cho vị sanh ra làm người. Thế nào là bốn?

Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp.

Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, giúp ích nhiều cho vị sanh ra làm người.

AN 4.250 Expressions (1st) Paṭhamavohārasutta

“Mendicants, there are these four ignoble expressions. What four? Saying you’ve seen, heard, thought, or known something, but you haven’t. These are the four ignoble expressions.”

(VII) (247) Cách Thức Nói (1)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết phi Thánh này. Thế nào là bốn? − Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không cảm giác nói cảm giác, không thức tri nói thức tri.

Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết phi Thánh này.

AN 4.251 Expressions (2nd) Dutiyavohārasutta

“Mendicants, there are these four noble expressions. What four? Saying you haven’t seen, heard, thought, or known something, and you haven’t. These are the four noble expressions.”

(VIII) (248) Cách Thức Nói (2)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết bậc Thánh này. Thế nào là bốn?

− Không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không cảm giác nói không cảm giác, không thức tri nói không thức tri.

Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết bậc Thánh này.

AN 4.252 Expressions (3rd) Tatiyavohārasutta

“Mendicants, there are these four ignoble expressions. What four? Saying you haven’t seen, heard, thought, or known something, and you have. These are the four ignoble expressions.”

(IX) (149) Cách Thức Nói (3)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết phi Thánh này. Thế nào là bốn?

− Thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, cảm giác nói không cảm giác, tưởng tri nói không tưởng tri.

Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết phi Thánh này.

AN 4.253 Expressions (4th) Catutthavohārasutta

“Mendicants, there are these four noble expressions. What four? Saying you’ve seen, heard, thought, or known something, and you have. These are the four noble expressions.”

(X) (250) Cách Thúc Nói (4)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết bậc Thánh này. Thế nào là bốn?

− Thấy nói thấy, nghe nói nghe, cảm giác nói cảm giác, thức tri nói thức tri.

Này các Tỷ-kheo, có bốn ngôn thuyết bậc Thánh này.