Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter with King Muṇḍa

AN 5.41 Getting Rich Ādiyasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Householder, there are these five reasons to get rich. What five?

Firstly, with his legitimate wealth—earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow—a noble disciple makes himself happy and pleased, keeping himself properly happy. He makes his mother and father happy … He makes his children, partners, bondservants, workers, and staff happy … This is the first reason to get rich.

Furthermore, with his legitimate wealth he makes his friends and colleagues happy … This is the second reason to get rich.

Furthermore, with his legitimate wealth he protects himself against losses from such things as fire, water, kings, bandits, or unloved heirs. He keeps himself safe. This is the third reason to get rich.

Furthermore, with his legitimate wealth he makes five spirit-offerings: to relatives, guests, ancestors, king, and deities. This is the fourth reason to get rich.

Furthermore, with his legitimate wealth he establishes an uplifting religious donation for ascetics and brahmins—those who refrain from intoxication and negligence, are settled in patience and sweetness, and who tame, calm, and extinguish themselves—that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven. This is the fifth reason to get rich.

These are the five reasons to get rich.

Now if the riches a noble disciple gets for these five reasons run out, he thinks: ‘So, the riches I have obtained for these reasons are running out.’ And so he has no regrets.

But if the riches a noble disciple gets for these five reasons increase, he thinks: ‘So, the riches I have obtained for these reasons are increasing.’ And so he has no regrets in both cases.

'I’ve enjoyed my wealth,
>supporting those who depend on me;
I’ve overcome losses;
I’ve given uplifting religious donations;
and made the five spirit-offerings.
I have looked after the ethical and
disciplined spiritual practitioners.

I’ve achieved the purpose
for which an astute lay person
wishes to gain wealth.
I don’t regret what I’ve done.’

A mortal person who recollects this
stands firm in the teaching of the noble ones.
They’re praised in this life by the astute,
and they depart to rejoice in heaven."

V. Phẩm Vua Munda

(I) (41) Trở Thành Giàu

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng tài sản.

3. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

4. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mổ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Các tai họa từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an toàn cho vị ấy. Ðây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

5. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Ðây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

6. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự mình, đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới chư Thiên, được quả dị thục, đưa đến cõi trời. Ðây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản.

7. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ tử gầy dựng tài sản với năm lý do này, khi tài sản đi đến hoại diệt, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do để gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến hoại diệt”, vị ấy không có hối hận. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ gầy dựng tài sản với năm lý do này, nếu tài sản ấy đi đến tăng trưởng, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến tăng trưởng”. Như vậy, cả hai phương diện, vị ấy không có hối hận.

Tài sản được thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa.
Là cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Dành cho bậc trì giới
Bậc tự điều, Phạm hạnh.
Mục đích gì bậc Trí,
Trú nhà, cầu tài sản,
Mục đích ấy ta đạt,
Ðược làm không hối hận.
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên Thánh pháp,
Ðời này được tán thán,
Ðời sau được hoan hỉ,
Trên cảnh giới chư Thiên.

AN 5.42 A True Person Sappurisasutta

"Mendicants, a true person is born in a family for the benefit, welfare, and happiness of the people. For the benefit, welfare, and happiness of mother and father; children and partners; bondservants, workers, and staff; friends and colleagues; and ascetics and brahmins.

It’s like a great rain cloud, which nourishes all the crops for the benefit, welfare, and happiness of the people. In the same way, a true person is born in a family for the benefit, welfare, and happiness of the people. …

The gods protect one who is guarded by principle,
who uses their wealth for the welfare of the many.
One who is learned,
>with precepts and observances intact,
and steady in principle, doesn’t lose their reputation.

Firm in principle, accomplished in ethical conduct,
truthful, conscientious;
like a pendant of Black Plum River gold,
who is worthy to criticize them?
Even the gods praise them,
and by the Divinity, too, they’re praised."

(II) (42) Bậc Chân Nhân

1. - Bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.

2. Này các Tỷ-kheo, ví như trận mưa lớn đem lại các mùa gặt được nhiều chín muồi, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân sanh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.

Vì hạnh phúc nhiều người,
Hãy gầy dựng tài sản,
Chư Thiên bảo vệ người
Biết bảo vệ đúng pháp,
Tiếng tốt không từ bỏ,
Người được học, nghe nhiều,
Ðầy đủ các cấm giới,
An trú trên Chánh pháp.
Ai có thể chỉ trích,
Bậc trú pháp, trì giới,
Bậc nói thật, tàm quý,
Như trang sức vàng ròng?
Chư Thiên khen người ấy,
Phạm Thiên cũng tán thán.

AN 5.43 Likable Iṭṭhasutta

Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Householder, these five things, which are likable, desirable, and agreeable are hard to get in the world. What five? Long life, beauty, happiness, fame, and heaven. These are the five things, which are likable, desirable, and agreeable, but hard to get in the world.

And I say that these five things are not got by praying or wishing for them. If they were, who would lack them?

A noble disciple who wants to live long ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to long life. For by practicing that way they gain long life as a god or a human being.

A noble disciple who wants to be beautiful ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to beauty. For by practicing that way they gain beauty as a god or a human being.

A noble disciple who wants to be happy ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to happiness. For by practicing that way they gain happiness as a god or a human being.

A noble disciple who wants to be famous ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to fame. For by practicing that way they gain fame as a god or a human being.

A noble disciple who wants to go to heaven ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to heaven. For by practicing that way they gain heaven, they are one who gains the heavens.

For one who desires a continuous flow
of exceptional delights—
long life, beauty, fame and reputation,
heaven, and birth in an eminent family—

the astute praise diligence
in making merit.
Being diligent, an astute person
secures both benefits:

the benefit in this life,
and in lives to come.
An attentive one, comprehending the meaning,
is called ‘astute’."

(III) (43) Khả Lạc

1. Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Có năm pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?

Tuổi thọ khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; dung sắc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; an lạc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; tiếng đồn tốt khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; cõi trời khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.

Này Gia chủ, năm pháp này, khả lạc, khả ý khó tìm được ở đời. Này Gia chủ, năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, Ta tuyên bố không phải do nhân cầu xin, không phải do nhân ước vọng mà có được. 3. Này Gia chủ, nếu năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ai ở đời này lại héo mòn vì một lẽ gì? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng, không có thể do cầu xin thọ mạng hay tán thán để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường dẫn đến thọ mạng. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến thọ mạng, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được thọ mạng, vị ấy nhận lãnh được thọ mạng hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.

4. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc, không có thể do cầu xin dung sắc hay tán thán để làm nhân đem lại dung sắc. Vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc cần phải thực hành con đường dẫn đến dung sắc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến dung sắc, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được dung sắc, vị ấy nhận lãnh được dung sắc hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.

5. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có an lạc, không có thể do cầu xin an lạc hay tán thán để làm nhân đem đến an lạc. Vị Thánh đệ tử muốn có an lạc cần phải thực hành con đường dẫn đến an lạc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến an lạc, sự thực hành ấy đưa đến vị ấy nhận lãnh được an lạc, vị ấy nhận lãnh được an lạc hoặc chư Thiên, hoặc loài Người.

6. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt, không có thể do cầu xin tiếng tốt hay tán thán để làm nhân đem đến tiếng tốt. Vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt cần phải thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt, vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt hoặc chư Thiên, hoặc loài Người

7. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có được Thiên giới, không có do cầu xin Thiên giới hay tán thán để làm nhân đem đến Thiên giới. Vị thánh đệ tử muốn có Thiên giới cần phải thực hành con đường dẫn đến Thiên giới. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến Thiên giới, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được Thiên giới, vị ấy nhận lãnh được Thiên giới.

Thọ mạng và dung sắc,
Tiếng tốt và danh vọng,
Thiên giới và quý tộc,
Ðược người đời ngày đêm,
Luôn luôn và rộng mở,
Cầu xin và cầu nguyện.
Còn bậc Hiền tán thán,
Không phóng dật phước hành,
Bậc Hiền không phóng dật,
Chứng được hai lợi ích,
Lợi ích ngay hiện tại,
Và lợi ích đời sau,
Vị nào thực hiện được,
Lợi ích và mục đích,
Vị ấy đáng được gọi,
Bậc Trí giả, Hiền giả.

AN 5.44 Agreeable Manāpadāyīsutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Ugga of Vesālī, where he sat on the seat spread out.

Then Ugga went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘The giver of the agreeable gets the agreeable.’ My sal flower porridge is agreeable: may the Buddha please accept it from me out of sympathy.” So the Buddha accepted it out of sympathy.

“Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘The giver of the agreeable gets the agreeable.’ My pork with jujube is agreeable: may the Buddha please accept it from me out of sympathy.” So the Buddha accepted it out of sympathy.

“… My fried vegetable stalks are agreeable: may the Buddha please accept them from me out of sympathy.” So the Buddha accepted them out of sympathy.

“… My boiled fine rice with the dark grains picked out, served with many soups and sauces is agreeable: may the Buddha please accept it from me out of sympathy.” So the Buddha accepted it out of sympathy.

“… My cloths imported from Kāsi are agreeable: may the Buddha please accept them from me out of sympathy.” So the Buddha accepted them out of sympathy.

“… My couch spread with woolen covers—shag-piled or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends is agreeable. But, sir, I know that this is not proper for the Buddha. However, this plank of sandalwood is worth over a thousand dollars. May the Buddha please accept it from me out of sympathy.” So the Buddha accepted it out of sympathy.

And then the Buddha rejoiced with Ugga with these verses of appreciation:

"The giver of the agreeable gets the agreeable,
enthusiastically giving clothing, bedding,
food and drink, and various requisites
to those of sincere conduct.

Knowing the perfected ones to be like a field
for what’s given, offered and not held back,
a true person gives what’s hard to give:
the giver of the agreeable gets the agreeable."

And then the Buddha, having rejoiced with Ugga with these verses of appreciation, got up from his seat and left.

Then after some time Ugga passed away, and was reborn in a host of mind-made gods. At that time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Then, late at night, the glorious god Ugga, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to him, “Ugga, I trust it is all you wished?”

“Sir, it is indeed just as I wished.” Then the Buddha addressed Ugga in verse:

"The giver of the agreeable gets the agreeable,
the giver of the foremost gets the foremost,
the giver of the excellent gets the excellent,
the giver of the best gets the best.

A person who gives the foremost,
the excellent, the best:
they’re long-lived and famous
wherever they’re reborn."

(VI) (44) Cho Các Vật Khả Ái

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn: 2. - Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thuê bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:

Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Ðối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Ðược ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Ðược từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý.\

Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:

− Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?

− Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.

Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:

Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh.

AN 5.45 Overflowing Merit Puññābhisandasutta

"Mendicants, there are these five kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.

What five? When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of heart while using a robe … almsfood … lodging … bed and chair … medicines and supplies for the sick, the overflowing of merit for the donor is limitless …

These are the five kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness, and are conducive to heaven, ripening in happiness, and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.

When a noble disciple has these five kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to grasp how much merit they have by saying that this is the extent of their overflowing merit … that leads to happiness. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.

It’s like trying to grasp how much water is in the ocean. It’s not easy to say: ‘This is how many gallons, how many hundreds, thousands, hundreds of thousands of gallons there are.’ It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of water.

In the same way, when a noble disciple has these five kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to grasp how much merit they have: ‘This is how much this overflowing merit … leads to happiness.’ It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.

Hosts of people use the rivers,
and though the rivers are many,
all reach the great deep, the boundless ocean,
the cruel sea that’s home to precious gems.

So too, when a person gives food, drink, and clothes;
and they’re a giver of beds, seats, and mats—
the streams of merit reach that astute person,
as the rivers bring their waters to the sea."

(V) (45) Phước Ðiền

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc di thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạng phúc, an lạc. Thế nào là năm?

2. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc di thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạng phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai…

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ tinh xá của ai… hưởng thọ giường ghế của ai… hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

3. Và này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”. Vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số, vô lượng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước.” Vì rằng cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện. món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi Trời, đưa đến khả lạc. khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”. Vì rằng cả khối thiện lớn được xem là vô số, vô lượng.

Biển lớn không hạn lượng,

Hồ lớn nhiều sợ hãi,
Là kho tàng cất giữ,
Vô số lượng châu báu,
Cũng là chỗ trú ẩn;
Vô số các loại cá,
Là chỗ các sông lớn.
Quy tựu chảy ra biển.
Cũng vậy người bố thí,
Ðồ ăn và đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Chỗ ngồi và thảm nệm,
Bậc Hiền thí như vậy,
Phước đức ùa chạy đến,
Như sông dẫn dòng nước,
Ùa chảy vào biển cả.

AN 5.46 Success Sampadāsutta

“Mendicants, there are five accomplishments. What five? Accomplishment in faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. These are the five accomplishments.”

(VI) (46) Cụ Túc

− Này các Tỷ-kheo, có năm cụ túc này. Thế nào là năm? Tín cụ túc, giới cụ túc, văn cụ túc, thí cụ túc, tuệ cụ túc.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm cụ túc.

AN 5.47 Wealth Dhanasutta

"Mendicants, there are these five kinds of wealth. What five? The wealth of faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.

And what is the wealth of faith? It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is called the wealth of faith.

And what is the wealth of ethics? It’s when a noble disciple doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume beer, wine, and liquor intoxicants. This is called the wealth of ethics.

And what is the wealth of learning? It’s when a noble disciple is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically. This is called the wealth of learning.

And what is the wealth of generosity? It’s when a noble disciple lives at home rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. This is called the wealth of generosity.

And what is the wealth of wisdom? It’s when a noble disciple is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is called the wealth of wisdom.

These are the five kinds of wealth.

Whoever has faith in the Realized One,
unwavering and well grounded;
whose ethical conduct is good,
praised and loved by the noble ones;

who has confidence in the Saṅgha,
and correct view:
they’re said to be prosperous,
their life is not in vain.

So let the wise devote themselves
to faith, ethical behavior,
confidence, and insight into the teaching,
remembering the instructions of the Buddhas."

(VII) (47) Tài Vật

1.- Này các Tỷ-kheo, có năm tài sản này. Thế nào là năm? Tín tài, giới tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín tài?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, Bậc La-hán, Chánh Ðẳng Giác,… Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới tài?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là văn tài?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe được nhiều… khéo thể nhập với tri kiến. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là văn tai. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thí tài?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thí tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ tài?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ đối với sanh diệt và sự thể nhập bậc Thánh đưa đến đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ tài.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo là năm tài sản.

Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động, khéo an trí,
Ai gìn giữ thiện giới,
Thánh ái mộ tán thán.
Ai tịnh tín chúng Tăng,
Ðược thấy bậc Chánh trực,
Người ấy gọi không nghèo,
Mạng sống không trống không.
Do vậy, tín và giới,
Tịnh tín thấy Chánh pháp,
Bậc trí tâm chuyên chú,
Nhớ đến lời Phật dạy.

AN 5.48 Things That Cannot Be Had Alabbhanīyaṭhānasutta

"Mendicants, there are five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. What five? That someone liable to old age should not grow old. That someone liable to sickness should not get sick. … That someone liable to death should not die. … That someone liable to ending should not end. … That someone liable to perishing should not perish. …

An unlearned ordinary person has someone liable to old age who grows old. But they don’t reflect on old age: ‘It’s not just me who has someone liable to old age who grows old. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to old age who grows old. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to old age grows old, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to old age grows old, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.

Furthermore, an unlearned ordinary person has someone liable to sickness … death … ending … perishing. But they don’t reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to perishing who perishes. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.

A learned noble disciple has someone liable to old age who grows old. So they reflect on old age: ‘It’s not just me who has someone liable to old age who grows old. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to old age who grows old. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to old age grows old, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to old age grows old, they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called a learned noble disciple who has drawn out sorrow’s poisoned arrow, struck by which unlearned ordinary people only mortify themselves. Sorrowless, free of thorns, that noble disciple only extinguishes themselves.

Furthermore, a learned noble disciple has someone liable to sickness … death … ending … perishing. So they reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to perishing who perishes. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called a learned noble disciple who has drawn out sorrow’s poisoned arrow, struck by which unlearned ordinary people only mortify themselves. Sorrowless, free of thorns, that noble disciple only extinguishes themselves.

These are the five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.

Sorrowing and lamenting
doesn’t do even a little bit of good.
When they know that you’re sad,
your enemies are encouraged.

When an astute person doesn’t waver
>in the face of adversity,
as they’re able to evaluate what’s beneficial,
their enemies suffer,
seeing that their normal expression doesn’t change.

Chants, recitations, fine sayings,
charity or traditions:
if by means of any such things you benefit,
then by all means keep doing them.

But if you understand that ‘this good thing
can’t be had by me or by anyone else’,
you should accept it without sorrowing, thinking:
‘The deed is powerful. What can I do now?’"

(VIII). (48) Sự Kiện Không Thể Có Ðược

1.- Này các Tỷ-kheo, có năm sự kiện này không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

2. Phải bị già, muốn khỏi già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Phải bị bệnh, muốn không bệnh… Phải bị chết, muốn không chết… Phải hoại diệt, muốn không hoại diệt… Phải bị tiêu diệt, muốn không tiêu diệt. là một sự kiện không thể có dược bởi một Sa môn hay Bà la môn, bởi Ma hay Phạm Thiên, hay bởi một ai ở đời.

3. Với kẻ phàm phu không học, này các Tỷ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến, nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não. 4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với kẻ phàm phu, không học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến, nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học, bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.

5. Với vị Thánh đệ tử có học, này các Tỷ-kheo. phải bị già và già đến; khi già đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già, và già đến. Và nếu phải bị già và già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn:. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình được hoàn toàn tịch tịnh.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử có học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến…phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến. không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự mình làm ưu não. Không sầu muộn, không bị bắn tên, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình hoàn toàn tịch tịnh.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

Chớ sầu, chớ than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt rung sợ,
Biết phân tích, lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụng niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chân chánh,
Với truyền thống khéo giữ.
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắn tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?

AN 5.49 The King of Kosala Kosalasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then King Pasenadi of Kosala went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side.

Then a man went up to the king and whispered in his ear, “Your Majesty, Queen Mallikā has passed away.”

When this was said, King Pasenadi was miserable and sad. He sat with his shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.

Knowing this, the Buddha said to him, “Great king, there are five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. What five? That someone liable to old age should not grow old. … Sorrowing and lamenting doesn’t do even a little bit of good … ‘The deed is powerful. What can I do now?’”

(IX) (49) Người Kosala

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), khu vườn ông Anàthapindika. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Lúc bấy giờ hoành hậu Mallikà mệnh chung. Rồi một người đi đến Pasenadi nước Kosala; sau khi đến, báo tin kề bên tai vua Pasenadi nước Kosala: “Tâu Ðại vương, hoàng hậu Mallikà đã mệnh chung”. Ðược nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala khổ đau, ưu tư, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói nên lời. Rồi Thế Tôn biết được vua Pasenadi nước Kosala đang đau khổ, ưu tư, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói nên lời, liền nói với vua Pasenadi nước Kosala:

2. - Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

… (Hoàn toàn giống như kinh trước cho đến câu: “… Phải kiên trì thế nào”, với những thay
đổi cần thiết nếu có…).

AN 5.50 With Nārada Nāradasutta

At one time Venerable Nārada was staying near Pāṭaliputta, in the Chicken Monastery.

Now at that time King Muṇḍa’s dear and beloved Queen Bhaddā had just passed away. And since that time, the king did not bathe, anoint himself, eat his meals, or apply himself to his work. Day and night he brooded over Queen Bhaddā’s corpse.

Then King Muṇḍa addressed Piyaka, the keeper of the treasury,

“So, my good Piyaka, please place Queen Bhaddā’s corpse in an iron case filled with oil. Then close it up with another case, so that we can view Queen Bhaddā’s body even longer.”

“Yes, Your Majesty,” replied Piyaka, and he did as the king instructed.

Then it occurred to Piyaka, “King Muṇḍa’s dear and beloved Queen Bhaddā has passed away. Since then the king does not bathe, anoint himself, eat his meals, or apply himself to his work. Day and night he broods over Queen Bhaddā’s corpse. Now, what ascetic or brahmin might the king pay homage to, whose teaching could help the king give up sorrow’s arrow?”

Then it occurred to Piyaka, “This Venerable Nārada is staying in the Chicken Monastery at Pāṭaliputta. He has this good reputation: ‘He is astute, competent, intelligent, learned, a brilliant speaker, eloquent, mature, a perfected one.’ What if King Muṇḍa was to pay homage to Venerable Nārada? Hopefully when he hears Nārada’s teaching, the king could give up sorrow’s arrow.”

Then Piyaka went to the king and said to him, “Sire, this Venerable Nārada is staying in the Chicken Monastery at Pāṭaliputta. He has this good reputation: ‘He is astute, competent, intelligent, learned, a brilliant speaker, eloquent, mature, a perfected one.’ What if Your Majesty was to pay homage to Venerable Nārada? Hopefully when you hear Nārada’s teaching, you could give up sorrow’s arrow.”

“Well then, my good Piyaka, let Nārada know. For how could one such as I presume to visit an ascetic or brahmin in my realm without first letting them know?”

“Yes, Your Majesty,” replied Piyaka. He went to Nārada, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, King Muṇḍa’s dear and beloved Queen Bhaddā has passed away. And since she passed away, the king has not bathed, anointed himself, eaten his meals, or got his business done. Day and night he broods over Queen Bhaddā’s corpse. Sir, please teach the king so that, when he hears your teaching, he can give up sorrow’s arrow.”

“Please, Piyaka, let the king come when he likes.”

Then Piyaka got up from his seat, bowed, and respectfully circled Venerable Nārada, keeping him on his right, before going to the king and saying, “Sire, the request for an audience with Venerable Nārada has been granted. Please, Your Majesty, go at your convenience.”

“Well then, my good Piyaka, harness the finest chariots.”

“Yes, Your Majesty,” replied Piyaka. He did so, then told the king:

“Sire, the finest chariots are harnessed. Please, Your Majesty, go at your convenience.”

Then King Muṇḍa mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp to see Venerable Nārada at the Chicken Monastery. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot. Then the king went up to Nārada, bowed, and sat down to one side. Then Nārada said to him:

"Great king, there are five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. What five? That someone liable to old age should not grow old. … That someone liable to sickness should not get sick. … That someone liable to death should not die. … That someone liable to ending should not end. … That someone liable to perishing should not perish. …

An unlearned ordinary person has someone liable to old age who grows old. But they don’t reflect on old age: ‘It’s not just me who has someone liable to old age who grows old. For all sentient beings have someone liable to old age who grows old, as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to old age grows old, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to old age grows old, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.

Furthermore, an unlearned ordinary person has someone liable to sickness … death … ending … perishing. But they don’t reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For all sentient beings have someone liable to perishing who perishes, as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.

A learned noble disciple has someone liable to old age who grows old. So they reflect on old age: ‘It’s not just me who has someone liable to old age who grows old. For all sentient beings have someone liable to old age who grows old, as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to old age grows old, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to old age grows old, they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called a learned noble disciple who has drawn out sorrow’s poisoned arrow, struck by which unlearned ordinary people only mortify themselves. Sorrowless, free of thorns, that noble disciple only extinguishes themselves.

Furthermore, a learned noble disciple has someone liable to sickness … death … ending … perishing. So they reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For all sentient beings have someone liable to perishing who perishes, as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called a learned noble disciple who has drawn out sorrow’s poisoned arrow, struck by which unlearned ordinary people only mortify themselves. Sorrowless, free of thorns, that noble disciple only extinguishes themselves.

These are the five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.

Sorrowing and lamenting
doesn’t do even a little bit of good.
When they know that you’re sad,
your enemies are encouraged.

When an astute person doesn’t waver
>in the face of adversity,
as they’re able to evaluate what’s beneficial,
their enemies suffer,
seeing that their normal expression doesn’t change.

Chants, recitations, fine sayings,
charity or traditions:
if by means of any such things you benefit,
then by all means keep doing them.

But if you understand that ‘this good thing
can’t be had by me or by anyone else’,
you should accept it without sorrowing, thinking:
‘The deed is powerful. What can I do now?’"

When he said this, King Muṇḍa said to Venerable Nārada, “Sir, what is the name of this exposition of the teaching?”

“Great king, this exposition of the teaching is called ‘Pulling Out Sorrow’s Arrow’.”

“Indeed, sir, this is the pulling out of sorrow’s arrow! Hearing this exposition of the teaching, I’ve given up sorrow’s arrow.”

Then King Muṇḍa addressed Piyaka, the keeper of the treasury, “Well then, my good Piyaka, cremate Queen Bhaddā’s corpse and build a monument. From this day forth, I will bathe, anoint myself, eat my meals, and apply myself to my work.”

(X) (50) Tôn Giả Nàrada

1. Một thời, Tôn giả Nàrada trú ở Pàtaliputta tại khu vườn Kukkuta (Kê Viên). Lúc bấy giờ, hoàng hậu Bhaddà của vua Munda mệnh chung, được ái luyến thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Rồi vua Munda bảo Piyaka, người giữ kho bạc:

  • Này Piyaka, hãy đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đựng đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác; nhờ vậy chúng ta có thể thấy thân hoàng hậu Bhaddà lâu hơn.

  • Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Piyaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đều đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác. Rồi Piyaka, vị giữ kho bạc cho vua nghĩ như sau: “Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda này đã mệnh chung, được ái luyến thương yêu, vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Hãy để vua Munda đến yết kiến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi nghe pháp từ vị ấy, có thể bỏ được mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc nghĩ như sau: “Có Tôn giả Nàrada này trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Hãy để vua Munda đến yết kiến Tôn giả Nàrada. Sau khi nghe pháp từ vị ấy, vua có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc đi đến vua Munda, sau khi đến, nói với vua Munda:

-Tâu Ðại vương, có Tôn giả Nàrada nay trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Nếu Ðại vương yết kiến Tôn giả Nàrada, rất có thể, sau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, Ðại vương có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

− Vậy này Piyaka, hãy tin cho Tôn giả Nàrada được biết.

Rồi vua nghĩ: “Làm sao ta tự nghĩ, một người như ta, phải đến thăm như thế nào một Samôn hay Bà-la-môn sống ở trong quốc độ, từ trước chưa được ai biết?”

− Thưa vâng, tâu Ðại vương

Pijaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda; đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrasa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Piyaka, vị giữ kho bạc bạch Tôn giả Nàrada:

Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda, thưa Tôn giả, đã mệnh chung, được ái luyến, thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, nên vua không tắm, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân hoàng hậu Bhaddà. Lành thay, Nếu Tôn giả Nàrada thuyết pháp cho vua Munda như thế nào để vua Mundasau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

− Này Piyaka, nay là thời để vua Munda làm những gì vua nghĩ là phải thời.

Rồi Piyaka, người giữ kho bạc, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tôn giả Nàrada, thân bên hữu hướng về ngài rồi ra đi, và đi đến vua Munda; sau khi đến, thưa với vua Munda:

− Tâu Ðại vương, cơ hội đã được sắp đặt với Tôn giả Nàrada. Này Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

− Vậy này Piyaka, hãy cho thắng các cỗ xe tốt đẹp.

− Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Pikaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, cho thắng các cỗ xe tốt đẹp, rồi thưa với vua Munda:

− Tâu Ðại vương, các cỗ xe tốt đẹp đã thắng xong. Nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

2. Rồi vua Munda leo lên cỗ xe tốt đẹp, cùng với các cỗ xe tốt đẹp khác đi đến khu vườn Kukkuta với uy nghi oai lực của nhà vua để yết kiến Tôn giả Nàrada. Vua đi xe xa cho đến đường đất xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ vào khu vườn. Rồi vua Munda đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrada rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nàrada nói với vua đang ngồi một bên.

− Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn, hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

3. Bị già và muốn không già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-lamôn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Bị bệnh và muốn không bệnh… bị chết và muốn không chết… bị hoại diệt và muốn không hoại diệt… bị hoại diệt và muốn không tiêu diệt, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

4. Với phàm phu không học, thưa Ðại vương, phải bị già và già đến; và khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống, không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại Vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trùng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.

5. Lại nữa, thưa Ðại vương, với kẻ phàm phu không học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, vị ấy tự làm mình ưu não.

6. Với vị Thánh đệ tử có học, thưa Ðại vương, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi; có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngựa, không đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn trúng, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.

7. Lại nữa, thưa Ðại vương, với vị Thánh đệ tử có học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.

Các pháp này, thưa Ðại vương, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-lamôn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

Không sầu, không than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt run sợ,
Biết phân tích lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụ niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chơn chánh,
Với truyền thống khéo giữ,
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắn tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?

8. Sau khi được nghe như vậy, vua Munda thưa với Tôn giả Nàrada:

− Thưa Tôn giả, pháp thoại này tên gì?

− Thưa Ðại vương, pháp thoại này tên là “Nhổ lên mũi tên sầu muộn”.

− Thật vậy, thưa Tôn giả, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn! Khi con nghe pháp thoại này, mũi tên sầu muộn đã được đoạn tận.

Rồi vua Munda bảo Piyaka, vị gìn giữ kho bạc:

− Này Piyaka, hãy cho thiêu đốt thân của hoàng hậu Bhaddà, rồi xây tháp cho hoàng hậu. Bắt đầu từ hôm sau, chúng ta sẽ tắm rửa, sẽ thoa dầu, sẽ ăn cơm, sẽ lo làm các công việc.