Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Living Comfortably

AN 5.101 Assurance Sārajjasutta

"Mendicants, these five qualities make a trainee assured. What five? It’s when a mendicant is faithful, ethical, learned, energetic, and wise.

A person of faith doesn’t have the insecurities of someone who lacks faith. So this quality makes a trainee assured.

An ethical person doesn’t have the insecurities of someone who is unethical. So this quality makes a trainee assured.

A learned person doesn’t have the insecurities of a person of little learning. So this quality makes a trainee assured.

An energetic person doesn’t have the insecurities of a lazy person. So this quality makes a trainee assured.

A wise person doesn’t have the insecurities of someone who is witless. So this quality makes a trainee assured.

These are the five qualities that make a trainee assured."

XI. Phẩm An Ổn Trú

(I) (101) Ðáng Sợ Hãi

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm pháp này làm cho bậc Hữu học không có sợ hãi. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có tinh cần tinh tấn, có trí tuệ. Cái gì làm cho kẻ không có lòng tin sợ hãi, này các Tỷ-kheo, cái ấy không làm cho người có lòng tin sợ hãi. Do vậy, pháp này là pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi. Cái gì làm cho kẻ ác giới sợ hãi, này các Tỷ kheo, cáiu ấy không làm cho người cò giới sợ hãi. Do vậy, pháp này là pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi. Cái gì làm cho kẻ ít nghe sợ hãi, này các Tỷ-kheo, cái ấy không làm cho người nghe nhiều sợ hãi. Do vậy, pháp này là pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi. Cái gì làm cho kẻ biếng nhác sợ hãi, này các Tỷ-kheo, cái ấy không làm cho kẻ tinh cần tinh tấn sợ hãi. Do vậy, pháp này là pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi. Cái gì làm cho kẻ ác tuệ sợ hãi, này các Tỷ-kheo, cái ấy không làm cho người có trí tuệ sợ hãi. Do vậy, pháp này là pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, là các pháp làm cho bậc Hữu học không sợ hãi.

AN 5.102 Suspected Ussaṅkitasutta

"Mendicants, even if a monk is of impeccable character, he might be suspected and distrusted as a ‘bad monk’ for five reasons.

What five? It’s when a monk resorts to prostitutes, widows, voluptuous girls, eunuchs, or nuns for alms.

Even if a monk is of impeccable character, he might be suspected and distrusted as a ‘bad monk’ for these five reasons."

(II) (102) Ðáng Nghi Ngờ

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo bị mất tin tưởng và bị nghi ngờ là “ác Tỷ-kheo”, dầu cho vị ấy đã đạt được bất động. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến chỗ dâm nữ, đi đến nhà đàn bà góa, đi đến nhà có con gái già, hay đi đến nhà các hoạn quan, hay đi đến chỗ các Tỷ-kheo-ni.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo bị mất tin tưởng và bị nghi ngờ là ác Tỷ-kheo, dầu cho vị ấy đã đạt được bất động.

AN 5.103 A Master Thief Mahācorasutta

"Mendicants, a master thief with five factors breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, and commits highway robbery. What five? A master thief relies on rough ground, on thick cover, and on powerful individuals; they pay bribes, and they act alone.

And how does a master thief rely on rough ground? It’s when a master thief relies on inaccessible riverlands or rugged mountains. That’s how a master thief relies on rough ground.

And how does a master thief rely on thick cover? It’s when a master thief relies on thick grass, thick trees, a blind spot, or a large forest grove. That’s how a master thief relies on thick cover.

And how does a master thief rely on powerful individuals? It’s when a master thief relies on rulers or their chief ministers. They think: ‘If anyone accuses me of anything, these rulers or their chief ministers will speak in my defense in the case.’ And that’s exactly what happens. That’s how a master thief relies on powerful individuals.

And how does a master thief pay bribes? It’s when a master thief is rich, affluent, and wealthy. They think: ‘If anyone accuses me of anything, I’ll settle it with a bribe.’ And that’s exactly what happens. That’s how a master thief pays bribes.

And how does a master thief act alone? It’s when a master thief carries out robbery all alone. Why is that? So that their secret plans are not leaked to others. That’s how a master thief acts alone.

A master thief with these five factors breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, and commits highway robbery.

In the same way, when a bad mendicant has five qualities, they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness. What five? A bad mendicant relies on rough ground, on thick cover, and on powerful individuals; they pay bribes, and they act alone.

And how does a bad mendicant rely on rough ground? It’s when a bad mendicant has unethical conduct by way of body, speech, and mind. That’s how a bad mendicant relies on rough ground.

And how does a bad mendicant rely on thick cover? It’s when a bad mendicant has wrong view, he’s attached to an extremist view. That’s how a bad mendicant relies on thick cover.

And how does a bad mendicant rely on powerful individuals? It’s when a bad mendicant relies on rulers or their chief ministers. They think: ‘If anyone accuses me of anything, these rulers or their chief ministers will speak in my defense in the case.’ And that’s exactly what happens. That’s how a bad mendicant relies on powerful individuals.

And how does a bad mendicant pay bribes? It’s when a bad mendicant receives robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They think: ‘If anyone accuses me of anything, I’ll settle it with a bribe.’ And that’s exactly what happens. That’s how a bad mendicant pays bribes.

And how does a bad mendicant act alone? It’s when a bad mendicant dwells alone in the borderlands. They visit families there to acquire material things. That’s how a bad mendicant acts alone.

When a bad mendicant has these five qualities, they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness."

(III) (103) Kẻ Ăn Trộm

1. - Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, một kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở (của con đường), dựa vào sự rậm rạp (của núi rừng), dựa vào quyền thế, là kẻ hối lộ, là kẻ ăn trộm một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở? 3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào các con sông khó lội qua hay núi non hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp của cỏ, cây, bụi cây và của rừng rậm hoang vu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua. Anh ta suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói điều gì về ta, các vị vua này hay các vị đại thần của vua sẽ nói những lời che chở cho ta”. Nếu có ai nói điều gì về anh ta, các vua và các vị đại thần ấy nói che chở cho anh ta. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào hối lộ tài sản?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn giàu có, có tiền của nhiều, có tài sản lớn. Anh ta nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì đến ta, từ nay ta sẽ hối lộ người ấy với tài sản”. Nếu có người nói gì đến anh ta, anh ta liền hối lộ với tài sản. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn là kẻ ăn trộm riêng rẽ?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ ăn trộm lớn đoạt các tài vật một mình. Vì cớ sao? Anh ta suy nghĩ: “Mong rằng không ai bàn bạc chỗ trốn với ta rồi làm ta rối loạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn thành kẻ ăn trộm riêng rẽ.

Thành tựu năm chi phần này, kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường.

8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, kẻ ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như kẻ mất gốc, bị tổn thương, có tội lỗi, bị những bậc trí quở trách, và làm nhiều điều vô phược. Thế nào là năm?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở, dựa vào rậm rạp, dựa vào uy lực, hối lộ tài sản và hành động một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở?

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo thành tựu thân nghiệp hiểm nạn, thành tựu ngữ nghiệp hiểm nạn, thành tựu ý nghiệp hiểm nạn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm nạn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến và thành tựu tri kiến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào vua và các vị đại thần của vua. Vị ấy suy nghĩ: “Nếu có ai nói gì về ta, các vua ấy và các đại thần ấy nói lời với mục đích che chở cho ta”. Nếu có ai nói gì về vị ấy, các vua chúa hay các vị đại thần của vua nói lời với mục đích che chở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hối lộ tài sản?

13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì về ta, ta sẽ hối lộ người ấy với vật dụng thâu được!” Và nếu có người nói gì về vị ấy, vị ấy hối lộ với vật dụng thâu được. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hành động một mình? 14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo sống một mình tức là ở các địa phương biên địa. Tại đấy, vị ấy đến các gia đình và nhận được các lợi dưỡng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo hành động một mình.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như người bị mất gốc, bị tổn thương, có phạm tội, bị các người trí quở trách, làm nhiều điều vô phước.

AN 5.104 An Exquisite Ascetic of Ascetics Samaṇasukhumālasutta

"Mendicants, a mendicant with five qualities is an exquisite ascetic of ascetics.

What five?

It’s when a mendicant usually uses only what they’ve been invited to accept—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—rarely using them without invitation.

When living with other spiritual practitioners, they usually find themselves treated agreeably by them by way of body, speech, and mind, and rarely disagreeably. And they are usually presented with agreeable things by them, rarely with disagreeable ones.

They’re healthy, so the various unpleasant feelings—stemming from disorders of bile, phlegm, wind, or their conjunction; or caused by change in weather, by not taking care of themselves, by overexertion, or as the result of past deeds—usually don’t come up.

They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.

And they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.

A mendicant with these five qualities is an exquisite ascetic of ascetics.

And if anyone should be rightly called an exquisite ascetic of ascetics, it’s me. For I usually use only what I’ve been invited to accept. When living with other mendicants, I am usually treated agreeably by them. And I usually present them with agreeable things. I’m healthy. I get the four absorptions when I want, without trouble or difficulty. And I’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. So if anyone should be rightly called an exquisite ascetic of ascetics, it’s me."

(IV) (104) Ðem Lại An Lạc

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người đem lại an lạc, của Sa-môn cho các Samôn. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được yêu cầu hưởng thụ nhiều y áo, không phải ít yêu cầu, được yêu cầu hưởng thụ nhiều đồ ăn khất thực, không phải ít yêu cầu; được yêu cầu hưởng thụ nhiều sàng tọa không phải ít yêu cầu; được yêu cầu hưởng thụ nhiều dược phẩm trị bệnh, không phải ít yêu cầu. Vị này sống với các vị đồng Phạm hạnh, và các vị này xử sự đối với vị ấy với thân hành nhiều khả ý, không phải ít khả ý; xử sự với khẩu hành nhiều khả ý, không phải ý khả ý; xử sự với ý hành nhiều khả ý, không phải ít khả ý. Những vị này giúp đỡ vị ấy với sự giúp đỡ khả ý, không phải it1 khả ý. Và những cảm thọ nào do mật khởi lên, do gió khởi lên, hay do sự phối hợp (của ba sự kiện trên), hay do sự thay đổi thời tiết, hay do sự săn sóc bất cẩn, hay do sự xâm nhập của một vài sự kiện (như một vài chứng bệnh), hay do kết quả của nghiệp, những sự kiện ấy khởi lên không có nhiều. Vị ấy ít bệnh hoạn và đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú (vị ấy) chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người đem lại sự an lạc của Sa-môn, cho các hàng Sa-môn.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách chân chánh về vị đem lại an lạc của Sa-môn cho các Samôn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy sẽ nói một cách chân chánh về Ta là người đã đem lại an lạc của Samôn cho các Sa-môn. Này các Tỷ-kheo, Ta là người được yêu cầu hưởng thọ nhiều y áo, không phải ít yêu cầu; được yêu cầu hưởng thọ nhiều đồ ăn khất thực, không phải ít yêu cầu; được yêu cầu, hưởng thọ nhiều sàng tọa, không phải ít yêu cầu; được yêu cần hưởng thọ nhiều dược phẩm trị bệnh, không phải ít yêu cầu. Ta sống với các vị đồng Phạm hạnh và các vị này xử sự đối với Ta với thân hành nhiều khả ý, không phải ít khả ý; xử sự với khẩu hành nhiều khả ý, không phải ít khả ý; xử sự với ý hành nhiều khả ý, không phải ít khả ý. Những vị này giúp đỡ Ta với sự giúp đỡ nhiều khả ý, không phải ít khả ý. Và những cảm thọ do mật khởi lên, do đàm khởi lên, do gió khởi lên hay do sự phối hợp của ba sự kiện trên, hay do sự thay đổi thời tiết, hay do sự săn sóc bất cẩn, hay do sự xâm nhập của một vài sự kiện, hay do kết quả của nghiệp, những sự kiện ấy khởi lên nơi Ta không có nhiều. Ta có ít bệnh hoạn, và đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, Ta chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, Ta tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách chân chánh về vị đem lại an lạc của Sa-môn cho các Sa-môn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy sẽ nói một cách chân chánh về Ta là người đã đem lại an lạc của vị Sa-môn cho các vị Sa-môn.

AN 5.105 Living Comfortably Phāsuvihārasutta

"Mendicants, there are these five ways of living comfortably. What five?

It’s when a mendicant consistently treats their spiritual companions with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private.

They live according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.

They live according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and brings one who practices it to the complete ending of suffering.

These are the five ways of living comfortably."

(V) (105) An Ổn Trú

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm an ổn trú này, Thế nào là năm? 2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, cả trước mặt và sau lưng; an trú từ khẩu nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng; an trú từ ý nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng; đối với các giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định, vị ấy song thành tựu các giới như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng, và đối với tri kiến này, thuộc bậc Thánh đưa đến xuất ly, được người thực hành chân chánh đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm an ổn trú.

AN 5.106 With Ānanda Ānandasutta

At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.

Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, how could a mendicant live comfortably while staying in a monastic community?”

“It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical. That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”

“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”

“There could, Ānanda. It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical. And they watch themselves, but don’t watch others. That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”

“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”

“There could, Ānanda. It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical. And they watch themselves, but don’t watch others. And they’re not well-known, but aren’t bothered by that. That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”

“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”

“There could, Ānanda. It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical. And they watch themselves, but don’t watch others. And they’re not well-known, but aren’t bothered by that. And they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty. That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”

“But sir, might there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”

"There could, Ānanda. It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical. And they watch themselves, but don’t watch others. And they’re not well-known, but aren’t bothered by that. And they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty. And they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.

And I say that there is no better or finer way of living comfortably than this."

(VI) (106) Tôn Giả Ananda

1. Một thời, Thế Tôn ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?

− Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.

− Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?

− Có thể có, này Ananda!

Thế Tôn nói:

− Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình không quán sát người khác. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.

− Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?

− Có thể có, này Ananda!

Thế Tôn nói:

− Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.

− Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?

− Có thể có, này Ananda!

Thế Tôn nói:

− Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.

− Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?

− Có thể có, này Ananda!

Thế Tôn nói:

− Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.

Ngoài các an ổn trú này, này Ananda, Ta tuyên bố không có một an ổn trú nào khác cao thượng hơn, thù diệu hơn.

AN 5.107 Ethics Sīlasutta

"Mendicants, a mendicant with five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.

What five? It’s when a mendicant is accomplished in ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.

A mendicant with these five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world."

(VII) (107) Giới

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

AN 5.108 An adept Asekhasutta

"Mendicants, a mendicant with five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.

What five? It’s when they have the entire spectrum of the adept’s ethics, immersion, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom. A mendicant with these five qualities … is the supreme field of merit for the world."

(VIII) (108) Vô Học

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là phước điền vô thượng ở đời.

AN 5.109 All Four Quarters Cātuddisasutta

"Mendicants, a mendicant with five qualities is at ease in any quarter. What five?

It’s when mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.

They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically.

They’re content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.

They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.

They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.

A mendicant with these five qualities is at ease in any quarter."

(IX) (109) Người Bốn Phương

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người bốn phương. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các tội nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là bậc nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, tích tập điều đã được nghe. Ðối với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì nhiều đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến, biết đủ với các vật dụng nhu yếu như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðối với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, vị ấy chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị bốn phương hướng.

AN 5.110 Wilderness Araññasutta

"Mendicants, when a mendicant has five qualities they’re ready to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. What five?

It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.

They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically.

They live with energy roused up. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.

They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.

They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.

When a mendicant has these five qualities they’re ready to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest."

(X) (110) Khu Rừng

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sử dụng sàng tọa (trú xứ) thuộc rừng núi cao nguyên xa vắng. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới… (xem Kinh 109 ở trên) chấp nhận và học tập trong các học pháp, là bậc nghe nhiều… chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến, sống tinh cần tinh tấn… nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp, đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là vừa đủ để sử dụng các sàng tọa thuộc rừng núi cao nguyên xa vắng.