Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on the True Teaching

AN 5.151 Surety in the Right Way (1st) Paṭhamasammattaniyāmasutta

"Mendicants, someone with five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities even when listening to the true teaching. What five? They disparage the talk, the speaker, or themselves. They listen with scattered and disunified mind. They apply the mind irrationally. Someone with these five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities, even when listening to the true teaching.

Someone with five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching. What five? They don’t disparage the talk, the speaker, or themselves. They listen with unscattered and unified mind. They apply the mind rationally. Someone with these five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching."

XVI. Phẩm Diệu Pháp

(I) (151) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (1)

1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Khinh lời thuyết giảng, khinh người thuyết giảng, khinh tự mình, nghe pháp với tâm tán loạn, không nhứt tâm và không như lý tác ý.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Không khinh lời thuyết giảng, không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, nghe pháp với tâm không loạn, nhứt tâm và như lý tác ý.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.152 Surety in the Right Way (2nd) Dutiyasammattaniyāmasutta

"Mendicants, someone with five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities even when listening to the true teaching. What five? They disparage the talk, the speaker, or themselves. They’re witless, dull, and idiotic. They think they know what they don’t know. Someone with these five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities, even when listening to the true teaching.

Someone with five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching. What five? They don’t disparage the talk, the speaker, or themselves. They’re wise, bright, and clever. They don’t think they know what they don’t know. Someone with these five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching."

(II) (152) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (2)

1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Khinh lời thuyết giảng, khinh người thuyết giảng, khinh tự mình, ác tuệ; đần độn, câm điếc, không tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Không khinh lời thuyết giảng, không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, có trí tuệ; không đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.153 Surety in the Right Way (3rd) Tatiyasammattaniyāmasutta

"Mendicants, someone with five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities even when listening to the true teaching. What five? They listen to the teaching bent only on putting it down. They listen to the teaching with a hostile, fault-finding mind. They’re antagonistic to the teacher, planning to attack them. They’re witless, dull, and idiotic. And they think they know what they don’t know. Someone with these five qualities is unable to enter the sure path with regards to skillful qualities even when listening to the true teaching.

Someone with five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching. What five? They don’t listen to the teaching bent only on putting it down. They don’t listen to the teaching with a hostile, fault-finding mind. They’re not antagonistic to the teacher, and not planning to attack them. They’re wise, bright, and clever. And they don’t think they know what they don’t know. Someone with these five qualities is able to enter the sure path with regards to skillful qualities when listening to the true teaching."

(II) (153) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (3)

1. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Nghe pháp với tâm chê bai, với tâm bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm cật nạn, tìm tòi khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm bị choáng váng, bị chai sạn; ác tuệ; đần độn, câm điếc, không tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Nghe pháp với tâm không chê bai, không bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm không cật nạn, không tìm tòi khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm không bị choáng váng, không bị chai sạn; có trí tuệ; không đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.154 The Decline of the True Teaching (1st) Paṭhamasaddhammasammosasutta

"Mendicants, these five things lead to the decline and disappearance of the true teaching. What five? It’s when mendicants don’t carefully listen to the teachings, memorize them, and remember them. They don’t carefully examine the meaning of teachings that they remember. And they don’t carefully practice in line with the meaning and the teaching they’ve understood. These five things lead to the decline and disappearance of the true teaching.

These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching. What five? It’s when mendicants carefully listen to the teachings, memorize them, and remember them. They carefully examine the meaning of teachings that they remember. And they carefully practice in line with the meaning and the teaching they’ve understood. These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching."

(IV) (154) Diệu Pháp Hỗn Loạn (1)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không cẩn trọng nghe pháp; không cẩn trọng học thuộc lòng pháp; không cẩn trọng thọ trì pháp; không cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì; không cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất.

3. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cẩn trọng nghe pháp; cẩn trọng học thuộc lòng pháp; cẩn trọng thọ trì pháp; cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì; cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.155 The Decline of the True Teaching (2nd) Dutiyasaddhammasammosasutta

"Mendicants, these five things lead to the decline and disappearance of the true teaching. What five?

It’s when the mendicants don’t memorize the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. This is the first thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.

Furthermore, the mendicants don’t explain the teaching in detail to others as they learned and memorized it. This is the second thing …

Furthermore, the mendicants don’t make others recite the teaching in detail as they learned and memorized it. This is the third thing …

Furthermore, the mendicants don’t recite the teaching in detail as they learned and memorized it. This is the fourth thing …

Furthermore, the mendicants don’t think about and consider the teaching in their hearts, examining it with their minds as they learned and memorized it. This is the fifth thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.

These five things lead to the decline and disappearance of the true teaching.

These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching. What five?

It’s when the mendicants memorize the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. This is the first thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.

Furthermore, the mendicants explain the teaching in detail to others as they learned and memorized it. This is the second thing …

Furthermore, the mendicants make others recite the teaching in detail as they learned and memorized it. This is the third thing …

Furthermore, the mendicants recite the teaching in detail as they learned and memorized it. This is the fourth thing …

Furthermore, the mendicants think about and consider the teaching in their hearts, examining it with their minds as they learned and memorized it. This is the fifth thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.

These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching."

(V) (155) Diệu Pháp Hỗn Loạn (2)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không học thuộc lòng Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không có đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tâm không tùy tầm, không tùy tứ, với ý không tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.

7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.156 The Decline of the True Teaching (3rd) Tatiyasaddhammasammosasutta

"Mendicants, these five things lead to the decline and disappearance of the true teaching. What five?

It’s when the mendicants memorize discourses that they learned incorrectly, with misplaced words and phrases. When the words and phrases are misplaced, the meaning is misinterpreted. This is the first thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.

Furthermore, the mendicants are hard to admonish, having qualities that make them hard to admonish. They’re impatient, and don’t take instruction respectfully. This is the second thing …

Furthermore, the mendicants who are very learned—inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines—don’t carefully make others recite the discourses. When they pass away, the discourses are cut off at the root, with no-one to preserve them. This is the third thing …

Furthermore, the senior mendicants are indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, not rousing energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. Those who come after them follow their example. They too are indulgent and slack … This is the fourth thing …

Furthermore, there’s a schism in the Saṅgha. When the Saṅgha is split, they abuse, insult, block, and forsake each other. This doesn’t inspire confidence in those without it, and it causes some with confidence to change their minds. This is the fifth thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.

These five things lead to the decline and disappearance of the true teaching.

These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching. What five? It’s when the mendicants memorize discourses that have been learned correctly, with well placed words and phrases. When the words and phrases are well organized, the meaning is correctly interpreted. This is the first thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.

Furthermore, the mendicants are easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. This is the second thing …

Furthermore, the mendicants who are very learned—inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines—carefully make others recite the discourses. When they pass away, the discourses aren’t cut off at the root, and they have someone to preserve them. This is the third thing …

Furthermore, the senior mendicants are not indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion. They rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. Those who come after them follow their example. They too are not indulgent or slack … This is the fourth thing …

Furthermore, the Saṅgha lives comfortably, in harmony, appreciating each other, without quarreling, with one recitation. When the Saṅgha is in harmony, they don’t abuse, insult, block, or forsake each other. This inspires confidence in those without it, and increases confidence in those who have it. This is the fifth thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.

These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching."

(VI) (156) Diệu Pháp Hỗn Loạn (3)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển bị nắm giữ sai lạc, với những văn cú đặt sai lầm. Này các Tỷ-kheo, với văn cú đặt sai lầm, ý nghĩa bị hướng dẫn sai lạc. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người khó nói, đầy đủ những tánh khiến họ trở thành khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, khiến diệu pháp hỗn loạn và biết mất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy không cẩn trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này của họ, Khế kinh như bị đứt gốc, không còn là chỗ nương tựa. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trưởng lão là những vị sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo, có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau, có sử thanh trừng lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín không tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín có thể đổi khác. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.

7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển được nắm giữ tốt đẹp, với những văn cú được phối trí chơn chánh và ý nghĩa được hướng dẫn chơn chánh. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biết mất.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người dễ nói, dễ kham nhẫn, cung kính đón nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy cẩn trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này của họ, kinh điển không bị đứt gốc, là chỗ nương tựa. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trưởng lão không sống đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người không sống đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh luận, cùng một giáo lý, sống an ổn. Khi chúng Tăng hòa hợp, này các Tỷ-kheo, không có sự mắng nhiếc lẫn nhau, không có sự đấu khẩu lẫn nhau, không có sự thanh trừng lẫn nhau không có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín không có đổi khác. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.157 Inappropriate Talk Dukkathāsutta

"Mendicants, it is inappropriate to speak to five kinds of person by comparing that person with someone else. What five?

It’s inappropriate to talk to an unfaithful person about faith. It’s inappropriate to talk to an unethical person about ethics. It’s inappropriate to talk to an unlearned person about learning. It’s inappropriate to talk to a stingy person about generosity. It’s inappropriate to talk to a witless person about wisdom.

And why is it inappropriate to talk to an unfaithful person about faith? When an unfaithful person is spoken to about faith they lose their temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness. Why is that? Not seeing that faith in themselves, they don’t get the rapture and joy that faith brings. That’s why it’s inappropriate to talk to an unfaithful person about faith.

And why is it inappropriate to talk to an unethical person about ethics? When an unethical person is spoken to about ethics they lose their temper … Why is that? Not seeing that ethical conduct in themselves, they don’t get the rapture and joy that ethical conduct brings. That’s why it’s inappropriate to talk to an unethical person about ethics.

And why is it inappropriate to talk to an unlearned person about learning? When an unlearned person is spoken to about learning they lose their temper … Why is that? Not seeing that learning in themselves, they don’t get the rapture and joy that learning brings. That’s why it’s inappropriate to talk to an unlearned person about learning.

And why is it inappropriate to talk to a stingy person about generosity? When a stingy person is spoken to about generosity they lose their temper … Why is that? Not seeing that generosity in themselves, they don’t get the rapture and joy that generosity brings. That’s why it’s inappropriate to talk to a stingy person about generosity.

And why is it inappropriate to talk to a witless person about wisdom? When a witless person is spoken to about wisdom they lose their temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness. Why is that? Not seeing that wisdom in themselves, they don’t get the rapture and joy that wisdom brings. That’s why it’s inappropriate to talk to a witless person about wisdom.

It is inappropriate to speak to these five kinds of person by comparing that person with someone else.

It is appropriate to speak to five kinds of person by comparing that person with someone else. What five?

It’s appropriate to talk to a faithful person about faith. It’s appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct. It’s appropriate to talk to a learned person about learning. It’s appropriate to talk to a generous person about generosity. It’s appropriate to talk to a wise person about wisdom.

And why is it appropriate to talk to a faithful person about faith? When a faithful person is spoken to about faith they don’t lose their temper, they don’t get annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness. Why is that? Seeing that faith in themselves, they get the rapture and joy that faith brings. That’s why it’s appropriate to talk to a faithful person about faith.

And why is it appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct? When an ethical person is spoken to about ethical conduct they don’t lose their temper … Why is that? Seeing that ethical conduct in themselves, they get the rapture and joy that ethical conduct brings. That’s why it’s appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct.

And why is it appropriate to talk to a learned person about learning? When a learned person is spoken to about learning they don’t lose their temper … Why is that? Seeing that learning in themselves, they get the rapture and joy that learning brings. That’s why it’s appropriate to talk to a learned person about learning.

And why is it appropriate to talk to a generous person about generosity? When a generous person is spoken to about generosity they don’t lose their temper … Why is that? Seeing that generosity in themselves, they get the rapture and joy that generosity brings. That’s why it’s appropriate to talk to a generous person about generosity.

And why is it appropriate to talk to a wise person about wisdom? When a wise person is spoken to about wisdom they don’t lose their temper, they don’t get annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness. Why is that? Seeing that wisdom in themselves, they get the rapture and joy that wisdom brings. That’s why it’s appropriate to talk to a wise person about wisdom.

It is appropriate to speak to these five kinds of person by comparing that person with someone else."

(VII) (157) Ác Thuyết

1. - Lời nói của năm hạng người, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?

2. Nói về tín với người không tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nói về tín với người không tin là ác thuyết?

3. Người không tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác giới là ác thuyết?

4. Người ác giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?

5. Người nghe ít, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết?

6. Người xan tham, này các Tỷ-kheo, khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?

7. Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.

Lời nói của năm hạng người này là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.

8. Lời nói của năm hạng người này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?

9. Thuyết về tín cho người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?

10. Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới cho người giữ giới là thiện thuyết?

11. Người giữ giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?

12. Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?

13. Người bố thí, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?

14. Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.

Lời thuyết của năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng giữa người và người.

AN 5.158 Timidity Sārajjasutta

"Mendicants, a mendicant with five qualities is overcome by timidity. What five? It’s when a mendicant is faithless, unethical, with little learning, lazy, and witless. A mendicant with these five qualities is overcome by timidity.

A mendicant with five qualities is self-assured. What five? It’s when a mendicant is faithful, ethical, learned, energetic, and wise. A mendicant with these five qualities is self-assured."

VIII (158) Sợ Hãi

Quang Pham1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có lòng tin, giữ ác giới, nghe ít, biếng nhác và ác tuệ.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi. Thế nào là năm?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi.

AN 5.159 With Udāyī Udāyīsutta

SO I HAVE HEARD. At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Now, at that time Venerable Udāyī was sitting teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople. Seeing this, Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, Venerable Udāyī is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople.”

"Ānanda, it’s not easy to teach Dhamma to others. You should establish five things in yourself before teaching Dhamma to others. What five?

You should teach Dhamma to others thinking: ‘I will teach step by step.’ …

‘I will teach showing my method.’ …

‘I will teach out of kindness.’ …

‘I will not teach while secretly hoping to profit.’ …

‘I will teach without hurting myself or others.’

It’s not easy to teach Dhamma to others. You should establish these five things in yourself before teaching Dhamma to others."

(IX) (159) Tôn Gỉa Udàyi

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Udàyi có hội chúng đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp, sau khi thấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp.

− Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác. Thế nào là năm?

2. “Ta sẽ thuyết pháp tuần tự”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người”. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

− Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.

AN 5.160 Hard to Get Rid Of Duppaṭivinodayasutta

“Mendicants, these five things are hard to get rid of once they’ve arisen. What five? Greed, hate, delusion, the feeling of being inspired to speak out, and thoughts of traveling. These five things are hard to get rid of once they’ve arisen.”

(X) (160) Khó Trừ Khử

1. - Năm pháp này khởi lên, này các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử. Thế nào là năm?

2. Tham khởi lên, thật khó trừ khử; sân khởi lên, thật khó trừ khử; si khởi lên, thật khó trừ khử; ham nói khởi lên, thật khó trừ khử; tâm lang thang thật khó trừ khử.

Năm pháp này đã khởi lên, này các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử.