Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Resentment

AN 5.161 Getting Rid of Resentment (1st) Paṭhamaāghātapaṭivinayasutta

"Mendicants, a mendicant should use these five methods to completely get rid of resentment when it has arisen toward anyone. What five?

You should develop love for a person you resent. That’s how to get rid of resentment for that person.

You should develop compassion for a person you resent. …

You should develop equanimity for a person you resent. …

You should disregard a person you resent, paying no attention to them. …

You should focus on the ownership of deeds regarding that person: ‘This venerable is the owner of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. They shall be the heir of whatever deeds they do, whether good or bad.’ That’s how to get rid of resentment for that person.

A mendicant should use these five methods to completely get rid of resentment when it has arisen toward anyone."

XVII. Phẩm Hiềm Hận

(I) (161) Trừ Khử Hiềm Hận (1)

1. - Có năm trừ khử hiềm hận này, này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?

2. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

3. Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy, bi cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

4. Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy xả cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

5. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, vô niệm, vô tác ý cần được thực hiện. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

6. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, sự kiện nghiệp do mình tạo cần phải an lập là: “Tôn giả là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là khởi nguyên của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm nghiệp thiện hay ác được làm Tôn giả sẽ là người thừa tự nghiệp ấy”. Như vậy, trong người ấy, hiềm hận cần phải được trừ khử.

Này các Tỷ-kheo, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo cần phải trừ khử một cách hoàn toàn.

AN 5.162 Getting Rid of Resentment (2nd) Dutiyaāghātapaṭivinayasutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:

"Reverends, a mendicant should use these five methods to completely get rid of resentment when it has arisen toward anyone. What five?

In the case of a person whose behavior by way of body is impure, but whose behavior by way of speech is pure, you should get rid of resentment for that kind of person.

In the case of a person whose behavior by way of speech is impure, but whose behavior by way of body is pure, …

In the case of a person whose behavior by way of body and speech is impure, but who gets an openness and clarity of heart from time to time, …

In the case of a person whose behavior by way of body and speech is impure, and who doesn’t get an openness and clarity of heart from time to time, …

In the case of a person whose behavior by way of body and speech is pure, and who gets an openness and clarity of heart from time to time, you should get rid of resentment for that kind of person.

How should you get rid of resentment for a person whose behavior by way of body is impure, but whose behavior by way of speech is pure? Suppose a mendicant wearing rag robes sees a rag by the side of the road. They’d hold it down with the left foot, spread it out with the right foot, tear out what was intact, and take it away with them. In the same way, at that time you should ignore that person’s impure behavior by way of body and focus on their pure behavior by way of speech. That’s how to get rid of resentment for that person.

How should you get rid of resentment for a person whose behavior by way of speech is impure, but whose behavior by way of body is pure? Suppose there was a lotus pond covered with moss and aquatic plants. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d plunge into the lotus pond, sweep apart the moss and aquatic plants, drink from their cupped hands, and be on their way. In the same way, at that time you should ignore that person’s impure behavior by way of speech and focus on their pure behavior by way of body. That’s how to get rid of resentment for that person.

How should you get rid of resentment for a person whose behavior by way of body and speech is impure, but who gets an openness and clarity of heart from time to time? Suppose there was a little water in a cow’s hoofprint. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They might think: ‘This little bit of water is in a cow’s hoofprint. If I drink it with my cupped hands or a bowl, I’ll stir it and disturb it, making it undrinkable. Why don’t I get down on all fours and drink it up like a cow, then be on my way?’ So that’s what they do. In the same way, at that time you should ignore that person’s impure behavior by way of speech and body, and focus on the fact that they get an openness and clarity of heart from time to time. That’s how to get rid of resentment for that person.

How should you get rid of resentment for a person whose behavior by way of body and speech is impure, and who doesn’t get an openness and clarity of heart from time to time? Suppose a person was traveling along a road, and they were sick, suffering, gravely ill. And it was a long way to a village, whether ahead or behind. And they didn’t have any suitable food or medicine, or a competent carer, or someone to bring them within a village. Another person traveling along the road might see them, and think of them with nothing but sympathy, kindness, and sympathy: ‘Oh, may this person get suitable food or medicine, or a competent carer, or someone to bring them within a village. Why is that? So that they don’t come to ruin right here.’ In the same way, at that time you should ignore that person’s impure behavior by way of speech and body, and the fact that they don’t get an openness and clarity of heart from time to time, and think of them with nothing but compassion, kindness, and sympathy: ‘Oh, may this person give up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develop good conduct by way of body, speech, and mind. Why is that? So that, when their body breaks up, after death, they’re not reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’ That’s how to get rid of resentment for that person.

How should you get rid of resentment for a person whose behavior by way of body and speech is pure, and who gets an openness and clarity of heart from time to time? Suppose there was a lotus pond with clear, sweet, cool water, clean, with smooth banks, delightful, and shaded by many trees. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d plunge into the lotus pond to bathe and drink. And after emerging they’d sit or lie down right there in the shade of the trees.

In the same way, at that time you should focus on that person’s pure behavior by way of body and speech, and on the fact that they get an openness and clarity of heart from time to time. That’s how to get rid of resentment for that person. Relying on a person who is impressive all around, the mind becomes confident.

A mendicant should use these five methods to completely get rid of resentment when it has arisen toward anyone."

(II) (162) Trừ Khử Hiềm Hận (2)

1. Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. - Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?

3. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

4. Ở đây, này các Hiền giả, có người khẩu hành không thanh tịnh, thân hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

5. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, nhưng thỉnh thoảng tâm được mở rộng, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

6. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, và thỉnh thoảng không được tâm rộng mở, không được tâm tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

7. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

8. Ở đây, này các Hiền giả, người này thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần được trừ khử?

9. Ví như, này các Hiền giả, Tỷ-kheo mặc áo lượm từ đống rác, thấy một tấm vải (liệng ở đống rác) trên con đường xe đi, liền lấy chân trái chận lại, lấy chăn mặt kéo tấm vải cho rộng ra, đoạn nào là đoạn chánh, làm cho nó có thể sử dụng được rồi cầm lấy mang đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về thân hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

10. Ở đây, này các Hiền giả, người này với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

11. Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước đầy bùn và cây lau. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy ngụp lặn trong hồ nước ấy, lấy hai tay gạt ra ngoài bùn và lá cây, lấy bàn tay bụm nước lại, uống rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về khẩu hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

12. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

13. - Ví như, này các Hiền giả, ít nước trong dấu chân của con bò. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy suy nghĩ như sau: “Một ít nước này trong dấu chân con bò, nếu ta uống với núm tay hay với cái chén, ta sẽ làm nước ấy dao động và di động, khiến nước không thể uống được. Vậy ta hãy gieo mình xuống với cả bốn thân phần uống nước rồi ra đi”. Rồi người ấy gieo mình xuống với cả bốn thân phần, uống nước rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, với tâm thỉnh thoảng được mở rộng và tịnh tín; những cái gì thuộc thân hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc khẩu hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc tâm thỉnh thoảng được rộng mở và sáng suốt, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy trong người ấy hiền hận cần phải trừ khử.

14. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh và thỉnh thoảng tâm không được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

15. - Ví như, này các Hiền giả, có người đau bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, đang đi giữa đường, có làng xa trước mặt, có làng xa sau lưng, nó không có được các đồ ăn thích đáng, nó không có được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, không có được sự giúp đỡ thích đáng, không có người hướng dẫn đưa đến tận cuối làng.

Một người khác cũng đang đi trên đường thấy người ấy. Người này đối với người ấy khởi lên lòng từ, khởi lên lòng thương tưởng, khởi lên lòng từ mẫn: “Ôi, mong rằng người này được các đồ ăn thích đáng, được các dược phẩm trị bị thích đáng, được các sự giúp đỡ thích đáng, được người hướng dẫn đi đến cuối làng”. Vì sao? Vì mong rằng người này ở đây không bị suy tổn, tử vong. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm không được mở rộng và tịnh tín, người như vậy cần phải khởi lên lòng từ, cần phải khởi lên lòng thương tưởng, cần phải khởi lên lòng từ mẫn: “Ôi, mong rằng Tôn Giả này, sau khi đoạn tân thân ác hành cần phải tu tập thân thiện hành, sau khi đoạn tận khẩu ác hành cần phải tu tập khẩu thiện hành, sau khi đoạn tận ý ác hành cần phải tu tập ý thiện hành”. Vì sao? Vì mong rằng Tôn giả ấy sau khi thân hoại mạng chung, không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

16. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

17. Ví như, này các Hiền giả, một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt đẹp đẽ và được nhiều loại cây che bóng. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, nó ra khỏi hồ, liền qua ngồi hay nằm dưới bóng cây. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được cởi mở tịnh tín. Những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý; những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý và điều gì thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín, lúc bấy giờ cần phải được tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây Tỷ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải trừ khử một cách hoàn toàn.

AN 5.163 Discussions Sākacchasutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:

"A mendicant with five qualities is fit to hold a discussion with their spiritual companions. What five?

A mendicant is personally accomplished in ethics, and answers questions that come up when discussing accomplishment in ethics.

They’re personally accomplished in immersion, …

They’re personally accomplished in wisdom, …

They’re personally accomplished in freedom, …

They’re personally accomplished in the knowledge and vision of freedom, and they answer questions that come up when discussing accomplishment in the knowledge and vision of freedom.

A mendicant with these five qualities is fit to hold a discussion with their spiritual companions."

(III) (163) Cuộc Nói Chuyện

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. … (Giống như kinh số 65 ở trước).

AN 5.164 Sharing a Way of Life Sājīvasutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants:

"A mendicant with five qualities is fit to share their life with their spiritual companions. What five?

A mendicant is personally accomplished in ethics, and answers questions that come up when discussing accomplishment in ethics.

They’re personally accomplished in immersion, …

They’re personally accomplished in wisdom, …

They’re personally accomplished in freedom, …

They’re personally accomplished in the knowledge and vision of freedom, and they answer questions that come up when discussing accomplishment in the knowledge and vision of freedom.

A mendicant with these five qualities is fit to share their life with their spiritual companions."

(IV) (164) Một Ví Dụ

(Tôn giả Sàriputta nói lại kinh số 66 ở trước).

AN 5.165 Asking Questions Pañhapucchāsutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants: … “Whoever asks a question of another, does so for one or other of these five reasons. What five? Someone asks a question of another from stupidity and folly. Or they ask from corrupt wishes, being of wishful temperament. Or they ask in order to disparage. Or they ask wanting to understand. Or they ask with the thought, ‘If they correctly answer the question I ask it’s good. If not, I’ll correctly answer it for them.’ Whoever asks a question of another, does so for one or other of these five reasons. As for myself, I ask with the thought, ‘If they correctly answer the question I ask it’s good. If not, I’ll correctly answer it for them.’”

(V) (165) Những Câu Hỏi

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo… (như trên)…

2. Này các Hiền giả, ai hỏi một người khác câu hỏi gì, tất cả đều nằm trong năm trường hợp này, hay một trong năm trường hợp này. Thế nào là năm?

3. Do đần độn ngu si, hỏi người khác câu hỏi; do ác dục, tham dục, hỏi người khác câu hỏi; khinh thường, hỏi người khác câu hỏi; với tâm muốn hiểu biết, hỏi người khác câu hỏi, với tâm phân vân hỏi người khác câu hỏi, nghĩ rằng nếu do ta hỏi, vị ấy trả lời đúng đắn, thời như vậy tốt đẹp, nhưng nếu do ta hỏi, vị ấy trả lời không chân chánh, thời ta sẽ trả lời chân chánh cho vị ấy.

Này các Hiền giả, ai hỏi một người khác câu hỏi gì đều nằm trong năm trường hợp này, hay một trong năm trường hợp này. Này các Hiền giả, ta với tâm như vậy hỏi người khác câu hỏi. Nếu do ta hỏi, người ấy trả lời một cách chân chánh, thời như vậy thật tốt đẹp.

Nếu ta hỏi và vị ấy trả lời không chơn chánh, thời ta sẽ trả lời chơn chánh.

AN 5.166 Cessation Nirodhasutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants:

“Reverends, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible. If they don’t reach enlightenment in this very life, then, surpassing the company of gods that consume solid food, they’re reborn in a certain host of mind-made gods. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”

When he said this, Venerable Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”

But for a second … and a third time Sāriputta repeated his statement.

And for a third time, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”

Then Venerable Sāriputta thought, “Venerable Udāyī disagrees with me three times, and not one mendicant agrees with me. Why don’t I go to see the Buddha?”

Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the mendicants:

“Reverends, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. There is such a possibility. If they don’t reach enlightenment in this very life, they’re reborn in the company of a certain host of mind-made gods, who surpass the gods that consume solid food. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”

When he said this, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”

But for a second … and a third time Sāriputta repeated his statement.

And for a third time, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”

Then Venerable Sāriputta thought, “Even in front of the Buddha Venerable Udāyī disagrees with me three times, and not one mendicant agrees with me. I’d better stay silent.” Then Sāriputta fell silent.

Then the Buddha said to Venerable Udāyī, “But Udāyī, do you believe in a mind-made body?”

“For those gods, sir, who are formless, made of perception.”

“Udāyī, what has an incompetent fool like you got to say? How on earth could you imagine you’ve got something worth saying!”

Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Ānanda! How can you just watch while a senior mendicant is being harassed? Don’t you have any compassion for a senior mendicant who is being harassed?”

Then the Buddha addressed the mendicants:

“Mendicants, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible. If they don’t reach enlightenment in this very life, they’re reborn in the company of a certain host of mind-made gods, who surpass the gods that consume solid food. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”

That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One got up from his seat and entered his dwelling.

Then, not long after the Buddha had left, Venerable Ānanda went to Venerable Upavāna and said to him, “Reverend Upavāna, they’ve been harassing other senior mendicants, but I didn’t question them. I wouldn’t be surprised if the Buddha brings this up when he comes out of retreat later this afternoon. He might even call upon Venerable Upavāna himself. And right now I feel timid.”

Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall, where he sat on the seat spread out, and said to Upavāna, “Upavāna, how many qualities should a senior mendicant have to be dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired?”

"Sir, a senior mendicant with five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired. What five?

It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.

They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically.

They’re a good speaker who enunciates well, with a polished, clear, and articulate voice that expresses the meaning.

They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.

They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.

A senior mendicant with these five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired."

“Good, good, Upavāna! A senior mendicant with these five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired. If these five qualities are not found in a senior mendicant, why would their spiritual companions honor, respect, revere, or venerate them? Because of their broken teeth, gray hair, and wrinkled skin? But since these five qualities are found in a senior mendicant, their spiritual companions honor, respect, revere, or venerate them.”

(VI) (166) Diệt Thọ Tưởng Ðịnh

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:…(như trên)…

2. Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào một cách hoàn toàn và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

− Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này: “Rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, vị ấy có thể nhập vào xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

Lần thứ hai… Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo: − Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

− Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta: “Không có trường hợp này rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, với điều kiện vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Tôn giả Udàyi phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

− Ở đây, này các chư Hiền, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ… (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra…

Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

– Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này, rằng: “Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực và được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

4. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Trước mặt Thế Tôn, Tôn giả Udàyi cho đến ba lần phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy im lặng”. Rồi Tôn giả Sàriputta giữ im lặng. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Udàyi:

− Này Udàyi, Thầy đi đến kết luận ai có thân do ý làm ra?

− Bạch Thế Tôn, có Chư Thiên vô sắc, do tưởng làm ra.

− Này Udàyi, Thầy nghĩ thế nào mà nói lên câu nói của kẻ ngu, không thông minh sáng suốt?

5. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, các Thầy có thể nhìn một cách thản nhiên khi một Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não như vậy. Này Ananda, lòng từ bi không có thể khởi lên một khi Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não! (mà các Thầy không có phản ứng).

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, không thể đạt được chánh trí, vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tinh xá.

6. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đi đến Tôn giả Upavàna, sau khi đến, nói với Tôn giả Upavàna:

− Ở đây, này Hiền giả Upavàna, một số người làm phiền não Tỷ-kheo trưởng lão và chúng ta không ai đặt câu hỏi. Do vậy, thật không có gì kỳ lạ, thưa Hiền giả, rằng Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, nêu lên vấn đề này và sự việc như thế nào, kể lại cho Tôn giả Upavàna nghe tất cả. Nay chúng ta cảm thấy sợ hãi.

7. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến ngôi giảng đường, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Upanàva:

− Này Upavàna, thành tựu bao nhiêu pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và noi gương tu tập?

− Bạch Thế Tôn, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và được noi gương tu tập. Thế nào là năm?

8. Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo trưởng lão giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập các học pháp, nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, tích tập điều được nghe. Các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến; thiện ngôn dùng lời thiện ngôn, lời nói tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ, phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, đem đến hiện tại lạc trú. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trưởng lão đối với các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích, tôn trọng và được noi gương tu tập.

9. - Lành thay, lành thay, này Upavàna! Thành tựu năm pháp này, Tỷ-kheo trưởng lão đối với các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích, tôn trọng và được noi gương tu tập. Nếu Tỷ-kheo trưởng lão không có được năm pháp này, thời có phải các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy vì răng rụng, tóc bạc và da nhăn. Do vậy, này Upavana, do năm pháp này có hiện hữu trong Tỷ-kheo trưởng lão, cho nên các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy.

AN 5.167 Accusation Codanāsutta

There Sāriputta addressed the mendicants: "Reverends, a mendicant who wants to accuse another should first establish five things in themselves.

What five? I will speak at the right time, not at the wrong time. I will speak truthfully, not falsely. I will speak gently, not harshly. I will speak beneficially, not harmfully. I will speak lovingly, not from secret hate. A mendicant who wants to accuse another should first establish these five things in themselves.

Take a case where I see a certain person being accused at the wrong time, not being disturbed at the right time. They’re accused falsely, not disturbed truthfully. They’re accused harshly, not disturbed gently. They’re accused harmfully, not disturbed beneficially. They’re accused with secret hate, not disturbed lovingly.

The mendicant who is accused improperly should be reassured in five ways. ‘Venerable, you were accused at the wrong time, not at the right time. There’s no need for you to feel remorse. You were accused falsely, not truthfully. … You were accused harshly, not gently. … You were accused harmfully, not beneficially. … You were accused with secret hate, not lovingly. There’s no need for you to feel remorse.’ A mendicant who is accused improperly should be reassured in these five ways.

The mendicant who makes improper accusations should be chastened in five ways. ‘Reverend, you made an accusation at the wrong time, not at the right time. There’s a reason for you to feel remorse. You made an accusation falsely, not truthfully. … You made an accusation harshly, not gently. … You made an accusation harmfully, not beneficially. … You made an accusation with secret hate, not lovingly. There’s a reason for you to feel remorse.’ The mendicant who makes improper accusations should be chastened in these five ways. Why is that? So that another mendicant wouldn’t think to make a false accusation.

Take a case where I see a certain person being accused at the right time, not being disturbed at the wrong time. They’re accused truthfully, not disturbed falsely. They’re accused gently, not disturbed harshly. They’re accused beneficially, not disturbed harmfully. They’re accused lovingly, not disturbed with secret hate.

The mendicant who is accused properly should be chastened in five ways. ‘Venerable, you were accused at the right time, not at the wrong time. There’s a reason for you to feel remorse. You were accused truthfully, not falsely. … You were accused gently, not harshly. … You were accused beneficially, not harmfully. … You were accused lovingly, not with secret hate. There’s a reason for you to feel remorse.’ The mendicant who is accused properly should be chastened in these five ways.

The mendicant who makes proper accusations should be reassured in five ways. ‘Reverend, you made an accusation at the right time, not at the wrong time. There’s no need for you to feel remorse. You made an accusation truthfully, not falsely. … You made an accusation gently, not harshly. … You made an accusation beneficially, not harmfully. … You made an accusation lovingly, not with secret hate. There’s no need for you to feel remorse.’ The mendicant who makes proper accusations should be reassured in these five ways. Why is that? So that another mendicant would think to make a true accusation.

A person who is accused should ground themselves in two things: truth and an even temper. Even if others accuse me—at the right time or the wrong time, truthfully or falsely, gently or harshly, beneficially or harmfully, lovingly or with secret hate—I will still ground myself in two things: truth and an even temper. If I know that that quality is found in me, I will tell them that it is. If I know that that quality is not found in me, I will tell them that it is not."

“Even when you speak like this, Sāriputta, there are still some silly people here who do not respectfully take it up.”

"Sir, there are those faithless people who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood. They’re devious, deceitful, and sneaky. They’re restless, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They do not guard their sense doors or eat in moderation, and they are not dedicated to wakefulness. They don’t care about the ascetic life, and don’t keenly respect the training. They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, lazy, and lacking energy. They’re unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds, witless and idiotic. When I speak to them like this, they don’t respectfully take it up.

Sir, there are those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith. They’re not devious, deceitful, and sneaky. They’re not restless, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They guard their sense doors and eat in moderation, and they are dedicated to wakefulness. They care about the ascetic life, and keenly respect the training. They’re not indulgent or slack, nor are they leaders in backsliding, neglecting seclusion. They’re energetic and determined. They’re mindful, with situational awareness, immersion, and unified minds; wise and clever. When I speak to them like this, they do respectfully take it up."

"Sāriputta, those faithless people who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood … Leave them be.

But those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith … You should speak to them. Sāriputta, you should advise your spiritual companions! You should instruct your spiritual companions! Thinking: ‘I will draw my spiritual companions away from false teachings and ground them in true teachings.’ That’s how you should train."

(VII) (167) Buộc Tội

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?

2. “Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời”; “Tôi sẽ nói chơn thật, không phải phi chơn”; “Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo”; “Tôi sẽ nói liên hệ đến lợi ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích”; “Tôi sẽ nói với từ tâm, không phải sân tâm”.

Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác. 3. Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn và có phản ứng không chơn thực; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.

4. Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội phi thời, không đúng thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”.

Tỷ-kheo bị buộc tội một cách phi pháp, có năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối.

5. Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do cần sắp đặt sám hối: “Hiền giả đã buộc tội phi thời, không phải đúng thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội một cách thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Tôn giả đã buộc tôi liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”.

Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, này các Hiền giả, có năm lý do này cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì rằng nhờ vậy không một Tỷ-kheo nào khác nghĩ rằng có thể buộc tội phi chơn.

6. Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội đúng thời, không phản ứng phi thời; bị buộc tội chơn thực, không phản ứng phi chơn; bị buộc tội nhu hòa, không phản ứng thô bạo; bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phản ứng không liên hệ đến lợi ích, bị buộc tội với từ tâm, không phản ứng với sân tâm.

7. Tỷ-kheo, này các Hiền giả, bị buộc tội đúng pháp có năm lý do cần phải sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội nhu hòa không thô bạo, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với từ tâm, không phải với sân tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”.

Tỷ-kheo bị buộc tội đúng pháp có năm lý do này, cần phải sắp đặt sám hối.

8. Tỷ-kheo, này các Hiền giả, buộc tội đúng pháp có năm lý do để không phải sắp đặt sám hối: “Hiền giả buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội nhu hoà, không phải thô bạo, như vậy vừa đủ để hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội với từ tâm, không với sân tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”.

Này các Hiền giả, Tỷ-kheo buộc tội đúng pháp, do năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì nhờ vậy, các Tỷ-kheo khác nghĩ rằng buộc tội cần phải đúng pháp.

9. Người bị buộc tội, thưa các Hiền giả, cần phải an trú trong hai pháp: chơn thực và bất động. Này các Hiền giả, nếu các người khác buộc tội tôi, đúng thời hay phi thời, chơn thực hay phi chơn, nhu hòa hay thô bạo, liên hệ đến lợi ích hay không liên hệ đến lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm, thì cần phải an trú trong hai pháp: Chơn thực và bất động. Nếu tôi biết: “Pháp này có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “có”, tôi sẽ nói: “Pháp này có trong tôi”. Nếu tôi biết: “Pháp này không có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “không có”, tôi sẽ nói: “Pháp này không có trong tôi”.

10. Thế Tôn nói:

− Như vậy này Sàriputta, khi Thầy nói như vậy, ở đây có một số người ngu nào không có khả năng nắm được vấn đề?

11. - Bạch Thế Tôn, những người nào không có lòng tin, với mục đích mưu sống, không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình; sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; khi con nói như vậy, họ không có khả năng nắm được vấn đề. Nhưng các thiện nam tử, bạch Thế Tôn, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Samôn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tất, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng. Khi con nói như vậy, các vị này có khả năng nắm giữ vấn đề.

12. - Này Sàriputta, các Thầy không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. liệt tuệ, câm ngọng, hãy để họ một bên. Nhưng này Sàriputta, những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình… không câm ngọng, hãy nói chuyện với họ. Hãy giáo giới các vị đồng Phạm hạnh, hãy giảng dạy, này Sàriputta, các vị đồng Phạm hạnh nghĩ rằng: “Sau khi giúp ra khỏi diệu pháp, tôi an trú các vị đồng Phạm hạnh trong diệu pháp”. Này Sariputta hãy như vậy học tập.

AN 5.168 Ethics Sīlasutta

There Venerable Sāriputta addressed the mendicants:

"Reverends, an unethical person, who lacks ethics, has destroyed a vital condition for right immersion. When there is no right immersion, one who lacks right immersion has destroyed a vital condition for true knowledge and vision. When there is no true knowledge and vision, one who lacks true knowledge and vision has destroyed a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is no disillusionment and dispassion, one who lacks disillusionment and dispassion has destroyed a vital condition for knowledge and vision of freedom.

Suppose there was a tree that lacked branches and foliage. Its shoots, bark, softwood, and heartwood would not grow to fullness.

In the same way, an unethical person, who lacks ethics, has destroyed a vital condition for right immersion. When there is no right immersion, one who lacks right immersion has destroyed a vital condition for true knowledge and vision. When there is no true knowledge and vision, one who lacks true knowledge and vision has destroyed a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is no disillusionment and dispassion, one who lacks disillusionment and dispassion has destroyed a vital condition for knowledge and vision of freedom.

An ethical person, who has fulfilled ethics, has fulfilled a vital condition for right immersion. When there is right immersion, one who has fulfilled right immersion has fulfilled a vital condition for true knowledge and vision. When there is true knowledge and vision, one who has fulfilled true knowledge and vision has fulfilled a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is disillusionment and dispassion, one who has fulfilled disillusionment and dispassion has fulfilled a vital condition for knowledge and vision of freedom.

Suppose there was a tree that was complete with branches and foliage. Its shoots, bark, softwood, and heartwood would grow to fullness. In the same way, an ethical person, who has fulfilled ethics, has fulfilled a vital condition for right immersion.

When there is right immersion, one who has fulfilled right immersion has fulfilled a vital condition for true knowledge and vision. When there is true knowledge and vision, one who has fulfilled true knowledge and vision has fulfilled a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is disillusionment and dispassion, one who has fulfilled disillusionment and dispassion has fulfilled a vital condition for knowledge and vision of freedom."

(VIII) (168) Giới

(Ngài Sàriputta nói lại kinh số 24, phẩm III).

AN 5.169 Quick-witted Khippanisantisutta

Then Venerable Ānanda went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him:

“Reverend Sāriputta, how are we to define a mendicant who is quick-witted when it comes to skillful teachings, who learns well, learns much, and does not forget what they’ve learned?”

“Well, Venerable Ānanda, you’re very learned. Why don’t you clarify this yourself?”

“Well then, Reverend Sāriputta, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” Sāriputta replied. Venerable Ānanda said this:

“It’s when a mendicant is skilled in the meaning, skilled in the teaching, skilled in terminology, skilled in phrasing, and skilled in sequence. That is how to define a mendicant who is quick-witted when it comes to skillful teachings, who learns well, learns much, and does not forget what they’ve learned.”

“It’s incredible, it’s amazing! How well this was said by Venerable Ānanda! And we will remember Venerable Ānanda as someone who has these five qualities: ‘Reverend Ānanda is skilled in the meaning, skilled in the teaching, skilled in terminology, skilled in phrasing, and skilled in sequence.’”

(IX) (169) Ðưa Ðến Biết

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:

2. - Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo mau chóng đi đến hiểu biết đối với thiện pháp, sự nắm giữ của vị ấy là khéo nắm giữ, nắm giữ nhiều và không quên điều đã nắm giữ.

− Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, mong Tôn giả Ananda hãy nói lên.

− Vậy thưa Hiền giả Sàriputta, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau: 3. Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, có Tỷ-kheo thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về căn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo mau chóng đi đến hiểu biết đối với các thiện pháp, sự nắm giữ của vị ấy là khéo nắm giữ, nắm giữ nhiều, và không quên điều đã nắm giữ.

− Thật là vi diệu, thưa Hiền giả! thật là hy hữu, thưa Hiền giả! Khó nói thay, điều này được Tôn giả Ananda nói lên. Chúng tôi tin rằng Tôn giả Ananda thành tựu năm pháp này. Tôn giả Ananda thiện xảo về nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau.

AN 5.170 With Bhaddaji Bhaddajisutta

At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Then Venerable Bhaddaji went up to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and Venerable Ānanda said to him:

“Reverend Bhaddaji, what is the best sight, the best sound, the best happiness, the best perception, and the best state of existence?”

“Reverend, there is this Divinity, the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power. When you see the Divinity, that’s the best sight. There are the gods called ‘of streaming radiance’, who are drenched and steeped in pleasure. Every so often they feel inspired to exclaim: ‘Oh, what bliss! Oh, what bliss!’ When you hear that, it’s the best sound. There are the gods called ‘of universal beauty’. Since they’re truly content, they experience pleasure. This is the best happiness. There are the gods reborn in the dimension of nothingness. This is the best perception. There are the gods reborn in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the best state of existence.”

“So, Venerable Bhaddaji, do you agree with what most people say about this?”

“Well, Venerable Ānanda, you’re very learned. Why don’t you clarify this yourself?”

“Well then, Reverend Bhaddaji, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” Bhaddaji replied. Ānanda said this:

“What you see when the defilements end in the present life is the best sight. What you hear when the defilements end in the present life is the best sound. The happiness you feel when the defilements end in the present life is the best happiness. What you perceive when the defilements end in the present life is the best perception. The state of existence in which the defilements end in the present life is the best state of existence.”

(X) (170) Bhaddaji

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Bhaddaji đi đến Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Bhaddaji đang ngồi một bên.

2. - Thưa Hiền giả Bhaddaji, cái gì là tối thượng trong những điều được thấy? Cái gì là tối thượng trong những điều được nghe? Cái gì là tối thượng trong các lạc? Cái gì là tối thượng trong những điều được tưởng? Cái gì là tối thượng trong các hữu?

− Thưa Hiền giả, có Phạm Thiên, là bậc tối thắng (Tự thắng), là bậc vô địch, bậc biến nhãn, tự tại đối với tất cả loại hữu tình. Thấy Phạm Thiên là tối thượng trong những điều được thấy. Thưa Hiền giả, có chư Thiên Quang Âm tràn đầy và biến mãn an lạc. Khi nào và chỗ nào họ thốt lên lời cảm hứng ngữ: “Ôi sung sướng thay! Ôi sung sướng thay!” Ai nghe tiếng ấy, có là sự nghe tối thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên Biến Tịnh, họ sống thoải mái trong tịch tịnh, họ cảm giác lạc thọ. Ðây là lạc tối thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên đạt được Vô sở hữu xứ. Ðây là tưởng vô thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên đạt được Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðây là hữu tối thượng.

3. - Lời nói của Tôn giả Bhaddaji, đây là lời của quần chúng.

− Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều. Tôn giả Ananda hãy nói lên.

− Vậy này Hiền giả Bhaddaji, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Bhaddaji vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Khi người ta nhìn, này Hiền giả, không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là sự thấy tối thượng. Khi người ta nghe không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là sự nghe tối thượng. Khi người ta cảm giác lạc thọ không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là an lạc tối thượng. Khi người ta cảm tưởng không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là tưởng tối thượng. Khi người ta hiện hữu không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là hữu tối thượng.