Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Tendencies

AN 7.11 Underlying Tendencies (1st) Paṭhamaanusayasutta

“Mendicants, there are these seven underlying tendencies. What seven? The underlying tendencies of sensual desire, repulsion, views, doubt, conceit, desire to be reborn, and ignorance. These are the seven underlying tendencies.”

II. Phẩm Tùy Miên

(I) (11) Tùy Miên(1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy tùy niệm. Thế nào là bảy?

2. Dục tham tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Này các Tỷ-kheo, có bảy tùy miên này.

AN 7.12 Underlying Tendencies (2nd) Dutiyaanusayasutta

"Mendicants, the spiritual life is lived to give up and cut out these seven underlying tendencies. What seven? The underlying tendencies of sensual desire, repulsion, views, doubt, conceit, desire to be reborn, and ignorance. The spiritual life is lived to give up and cut out these seven underlying tendencies.

When a mendicant has given up the underlying tendencies of sensual desire, repulsion, views, doubt, conceit, desire to be reborn, and ignorance—cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they are unable to arise in the future—they’re called a mendicant who has cut off craving, untied the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering."

(II) (12) Tùy Miên (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, do cắt đứt bảy tùy miên, Phạm hạnh được sống. Thế nào là bảy?

2. Do đoạn tận, do cắt đứt dục tham tùy miên, Phạm hạnh được sống… sân tùy miên… kiến tùy miên… nghi tùy miên… mạn tùy miên… hữu tham tùy miên… do đoạn tận, do cắt đứt vô minh tùy miên, Phạm hạnh được sống.

3. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, cắt đứt bảy tùy miên này, Phạm hạnh được sống. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nào đoạn tận dục tham tùy miên… vô minh tùy miên, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây sàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa tùy miên, với chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.

AN 7.13 A Family Kulasutta

"Mendicants, visiting a family with seven factors is not worthwhile, or if you’ve already arrived, sitting down is not worthwhile. What seven? They don’t politely rise, bow, or offer a seat. They hide what they have. Even when they have much they give little. Even when they have fine things they give coarse things. They give carelessly, not carefully. Visiting a family with these seven factors is not worthwhile, or if you’ve already arrived, sitting down is not worthwhile.

Visiting a family with seven factors is worthwhile, or if you’ve already arrived, sitting down is worthwhile. What seven? They politely rise, bow, and offer a seat. They don’t hide what they have. When they have much they give much. When they have refined things they give refined things. They give carefully, not carelessly. Visiting a family with these seven factors is worthwhile, or if you’ve already arrived, sitting down is worthwhile."

(III) (13) Gia Ðình

1. - Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu bảy chi phần; nếu chưa đến thăm, thời không xứng đáng để đi đến, nếu đã đến thăm, thời không xứng đáng để ngồi xuống. Thế nào là bảy?

2. Không vui vẻ đứng dậy, không vui vẻ chào đón, không vui vẻ mời ngồi; có chỗ ngồi đem giấu đi; từ nhiều họ chí ít, từ đồ thù thắng, họ cho đồ thô xấu; họ cho không có kính trọng, không có kính lễ.

Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu bảy chi phần này; nếu chưa đến, thời không xứng đáng để đến; nếu đã đến, thời không xứng đáng để ngồi xuống.

AN 7.14 Persons Puggalasutta

“Mendicants, these seven people are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world. What seven? The one freed both ways, the one freed by wisdom, the direct witness, the one attained to view, the one freed by faith, the follower of teachings, and the follower by faith. These are the seven people who are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world.”

(IV) (14) Các Hạng Người

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?

2. Câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng kiến, kiến chí, tín giải thoát, tùy pháp hành, tùy tín hành.

Bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 7.15 A Simile With Water Udakūpamāsutta

"Mendicants, these seven people found in the world are like those in water.

What seven? One person sinks under once and stays under. One person rises up then sinks under. One person rises up then stays put. One person rises up then sees and discerns. One person rises up then crosses over. One person rises up then finds a footing. One person has risen up, crossed over, and gone beyond, and that brahmin stands on the shore.

And what kind of person sinks under once and stays under? It’s the kind of person who has exclusively dark, unskillful qualities. This kind of person sinks under once and stays under.

And what kind of person rises up then sinks under? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ However their faith, conscience, prudence, energy, and wisdom don’t last or grow, but dwindle away. This kind of person rises up then sinks under.

And what kind of person rises up then stays put? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ And their faith, conscience, prudence, energy, and wisdom lasts, neither dwindling nor growing. This kind of person rises up then stays put.

And what kind of person rises up then sees and discerns? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ With the ending of three fetters they’re a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, bound for awakening. This kind of person rises up then sees and discerns.

And what kind of person rises up then crosses over? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This kind of person rises up then crosses over.

And what kind of person rises up then finds a footing? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ With the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This kind of person rises up then finds a footing.

And what kind of person has risen up, crossed over, and gone beyond, a brahmin who stands on the shore? It’s the kind of person who, rising up, thinks: ‘It’s good to have faith, conscience, prudence, energy, and wisdom regarding skillful qualities.’ They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. This kind of person has risen up, crossed over, and gone beyond, a brahmin who stands on the shore.

These seven people found in the world are like those in water."

(V) (15) Ví Dụ Nước

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người được ví dụ với nước, có mặt hiện hữu ở đời. Thế pháp là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người lặn một lần rồi chìm luôn; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, lại chìm xuống; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, lại nhìn và thấy; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên lại bơi tới; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, đạt được chỗ có chân đứng; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, sau khi bơi qua đến được bờ bên kia, lên đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, lặn một lần rồi chìm luôn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hoàn toàn thành tựu với các pháp đen, bất thiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người lặn một lần rồi chìm luôn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên lại chìm xuống?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng xấu hổ… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Lòng tin ấy của vị đo không an trú, không tăng trưởng, bị giảm thiểu. Lòng xấu hổ đó của vị ấy… lòng sợ hãi đó của vị ấy… sự tinh tấn đó của vị ấy… Trí tuệ đó của vị ấy không an trú, không tăng trưởng, bị giảm thiểu. Như vậy, này các Tỷ-kheo là hạng người sau khi nổi lên, lại chìm xuống.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ như sau: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Lòng tin đó của vị ấy không giảm thiểu, không tăng trưởng, được đứng lại, lòng hổ thẹn đó của vị ấy… lòng sợ hãi đó của vị ấy… sự tinh tấn đó của vị ấy… trí tuệ đó của vị ấy không giảm thiểu, không tăng trưởng, được đứng lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại và nhìn thấy?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng ngộ Bồ đề. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, nhìn và thấy.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại bơi tới?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm muội lược tham sân si, là bậc Nhất Như Lai, còn trở lui đời này một lần nữa rồi đoạn tận khổ đau. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, lại bơi tới.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại đạt được chân đứng?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niếtbàn, không trở lui trạng thái ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, đã đạt chân đứng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên đã bơi qua, đạt đến bờ bên kia, đứng trên đất liền bậc Bà-la-môn?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng xấu hổ … Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên đã bơi qua, đã đến bờ bên kia, đã đứng trên đất liền, là bậc Bà-la-môn.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy hạng người được ví dụ với nước, có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 7.16 Observing Impermanence Aniccānupassīsutta

"Mendicants, these seven people are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world. What seven?

First, take a person who meditates observing impermanence in all conditions. They perceive impermanence and experience impermanence. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. This is the first person.

Next, take a person who meditates observing impermanence in all conditions. Their defilements and their life come to an end at exactly the same time. This is the second person.

Next, take a person who meditates observing impermanence in all conditions. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. …

With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. This is the seventh person.

These are the seven people who are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world."

(VI) (16) Không Thường Xuyên

1. - Có bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, có hạng người sống tùy quán vô thường trong tất cả hành, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán vô thường… với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai, này các Tỷ-kheo… vô thượng ở đời.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán vô thường… với tuệ thể nhập. Vị ấy, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Niết-bàn… chứng được Tổn hại Niếtbàn… chứng được Vô hành Niết-bàn… chứng được Hữu hành Niết-bàn… chứng được Thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Ðây là hạng người thứ bảy, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

Bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… vô thượng ở đời.

AN 7.17 Observing Suffering Dukkhānupassīsutta

“Mendicants, these seven people are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world. What seven? First, take a person who meditates observing suffering in all conditions. They perceive suffering and experience suffering. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom. …”

AN 7.18 Observing Not-self Anattānupassīsutta

“First, take a person who meditates observing not-self in all things. They perceive not-self and experience not-self. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom. …”

(VII) (17) Khổ, Vô Ngã, Tịch Tịnh

1. - Có bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… ở đời. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán khổ trong tất cả các hành… sống tùy quán vô ngã trong tất cả các pháp… sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc, cảm thọ lạc trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy với sự đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Ðây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 7.19 Extinguishment Nibbānasutta

"First, take a person who meditates observing the happiness in extinguishment. They perceive happiness and experience happiness. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. This is the first person worthy of offerings.

Next, take a person who meditates observing the happiness in extinguishment. They perceive happiness and experience happiness. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom. Their defilements and their life come to an end at exactly the same time. This is the second person.

Next, take a person who meditates observing the happiness in extinguishment. They perceive happiness and experience happiness. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom.

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. …

With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. …

With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. This is the seventh person.

These are the seven people who are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world."

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc cảm thọ lạc, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc, cảm thọ lạc trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Niết-bàn…, chứng được Tổn hại Niết-bàn… chứng được Vô hành Niết-bàn… chứng được Hữu hành Niết-bàn… chứng được Thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Ðây là hạng người thứ bảy, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là bảy hạng người ở đời đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 7.20 Qualifications for Graduation Niddasavatthusutta

“Mendicants, there are these seven qualifications for graduation. What seven? It’s when a mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future. These are the seven qualifications for graduation.”

(VIII) (18) Sự Thù Diệu

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy sự thù diệu này. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp; tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục; tha thiết Thiền tịnh, khát vọng Thiền tịnh trong tương lai; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy căn bản để được tán thán.