Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Deities

AN 7.32 Respect for Diligence Appamādagāravasutta

Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:

“Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion, for diligence, and for hospitality. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.”

That’s what that deity said, and the teacher approved. Then that deity, knowing that the teacher approved, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.

Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened, adding:

"Respect for the Teacher and the teaching,
and keen respect for the Saṅgha;
respect for immersion, being energetic,
and keen respect for the training.

A mendicant who respects diligence
and hospitality
can’t decline,
and has drawn near to extinguishment."

IV. Phẩm Chư Thiên

(I) (31) Không Phóng Dật

1. Bấy giờ có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

− Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính chúng Tăng; tôn kính học tập; tôn kính định; tôn kính không phóng dật; tôn kính nghinh đón. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc.

Thiên nhân ấy nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên nhân ấy với ý nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

2. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các vị Tỷ-kheo:

− Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có bảy pháp, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính không phóng dật, tôn kính nghinh đón. Bảy pháp này bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

Kính trọng bậc Ðạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học tập,
Kính trọng không phóng dật,
Chí thành kính nghinh đón,
Không thể bị đọa lạc,
Tỷ-kheo gần Niết-bàn.

AN 7.33 Respect for Conscience Hirigāravasutta

"Mendicants, tonight, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and said to me: ‘Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion, for conscience, and for prudence. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.’

That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.

One respectful of the Teacher and the teaching,
keenly respecting the Saṅgha;
respecting immersion, being energetic,
and keenly respecting the training;

endowed with conscience and prudence,
reverential and respectful—
it is impossible for them to decline;
they have drawn near to extinguishment."

(II) (32) Xấu Hổ

1. - Ðêm này, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính xấu hổ, tôn kính sợ hãi. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Kính trọng bậc Ðạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học pháp,
Ðầy đủ tàm và quý,
Tùy thuận và tôn kính,
Không thể bị đọa lạc,
Vị ấy gần Niết-bàn.

AN 7.34 Easy to Admonish (1st) Paṭhamasovacassatāsutta

"Mendicants, tonight a deity … said to me: ‘Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion; being easy to admonish, and good friendship. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.’

That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.

Respect for the Teacher and the teaching,
and keen respect for the Saṅgha;
respect for immersion, being energetic,
and keen respect for the training.

One with good friends, easy to admonish,
reverential and respectful,
can’t decline,
and has drawn near to extinguishment."

(III) (33) Dễ Nói (1)

… (Giống như kinh 32, chỉ khác là thay thế hai pháp cuối cùng tàm và quý bằng thiện ngôn (dễ nói) và thiện bằng hữu)…

AN 7.35 Easy to Admonish (2nd) Dutiyasovacassatāsutta

"Mendicants, tonight a deity … said to me: ‘Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion; being easy to admonish, and good friendship. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.’

That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there."

When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha:

"Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.

It’s when a mendicant personally respects the Teacher and praises such respect. And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher. And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.

They personally respect the teaching …

They personally respect the Saṅgha …

They personally respect the training …

They personally respect immersion …

They are personally easy to admonish …

They personally have good friends, and praise such friendship. And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship. And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, Sāriputta! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

It’s when a mendicant personally respects the Teacher … And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher. And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.

They personally respect the teaching …

They personally respect the Saṅgha …

They personally respect the training …

They personally respect immersion …

They are personally easy to admonish …

They personally have good friends, and praise such friendship. And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship. And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief."

(IV) (34) Dể Nói (2)

1. - Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

2. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

3. - Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.

4. - Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư… (như trên, với những thay đổi cần thiết)… một cách chơn thực, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

AN 7.36 A Friend (1st) Paṭhamamittasutta

"Mendicants, you should associate with a friend who has seven factors. What seven? They give what is hard to give. They do what is hard to do. They endure what is hard to endure. They reveal their secrets to you. They keep your secrets. They don’t abandon you in times of trouble. They don’t look down on you in times of loss. You should associate with a friend who has these seven factors.

A friend gives what is hard to give,
and does what’s hard to do.
They put up with your harsh words,
and with things hard to endure.

They tell you their secrets,
and keep your secrets for you.
They don’t abandon you in times of trouble,
or look down on you in times of loss.

The person in whom
these things are found is your friend.
If you want to have a friend,
you should keep company with such a person."

(V) (35) Bạn Hữu(1)

1. - Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn. Thế nào là bảy?

2. Cho những gì khó cho, làm những gì khó làm, nhẫn những gì khó nhẫn, nói lên những gì bí mật của mình, che giấu bí mật của người khác, không từ bỏ khi gặp bất hạnh, không có khinh rẽ khi tài sản khánh tận.

Thành tựu bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn.

Bạn cho điều khó cho,
Làm những điều khó làm,
Kham nhẫn những lời nói,
Thật khó lòng kham nhẫn,
Nói lên bí mật mình,
Che giấu bí mật người,
Bất hạnh, không từ bỏ,
Khánh tận, không chê khinh,
Trong những trường hợp trên,
Tìm được người như vậy,
Với ai cần bạn hữu,
Hãy gần bạn như vậy.

AN 7.37 A Friend (2nd) Dutiyamittasutta

"Mendicants, when a friend has seven qualities you should associate with, accompany, and attend them, even if they send you away. What seven? They’re likable, agreeable, respected, and admired. They admonish you and they accept admonishment. They speak on deep matters. And they don’t urge you to do bad things. When a friend has these seven qualities you should associate with, accompany, and attend them, even if they send you away.

They’re liked, respected, and admired,
an admonisher who accepts admonishment,
speaks on deep matters,
and doesn’t urge you to do bad.

The person in whom
these things are found is your friend.
If you want to have a friend,
benevolent and sympathetic,
you should keep company with such a person,
even if they send you away."

(VI) (36) Bạn Hữu (2)

1. - Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ-kheo, là người bạn cần phải thân cận, cần phải giao thiệp, cần phải hầu cận, dầu có bị xua đuổi. Thế nào là bảy?

2. Khả ái, khả ý; tôn trọng; đáng được bắt chước; nhà thuyết giả; kham nhẫn lời nói; nói lời sâu kín; không có hối thúc những điều không hợp lý.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người bạn, cần phải thân cận, cần phải giao thiệp, cần phải hầu hạ, dầu có bị xua đuổi.

Khả ái và đáng kính,
Ðáng bắt chước, thuyết giả,
Kham nhẫn các lời nói,
Nói những lời thâm sâu,
Không hối thúc ép buộc,
Những điều không hợp lý,
Ai có những pháp này,
Ở đời, người như vậy,
Người ấy là bạn hữu,
Với ai cần bạn hữu,
Người mong muốn lợi ích,
Với lòng từ ai mẫn.
Dầu có bị đuổi xua,
Hãy thân cận bạn ấy.

AN 7.38 Textual Analysis (1st) Paṭhamapaṭisambhidāsutta

"Mendicants, a mendicant with seven qualities will soon realize the four kinds of textual analysis and live having achieved them with their own insight. What seven?

It’s when a mendicant truly understands: ‘This is mental sluggishness’.

They truly understand internally constricted mind as ‘internally constricted mind’.

They truly understand externally scattered mind as ‘externally scattered mind’.

They know feelings as they arise, as they remain, and as they go away.

They know perceptions as they arise, as they remain, and as they go away.

They know thoughts as they arise, as they remain, and as they go away.

The patterns of qualities—suitable or unsuitable, inferior or superior, or those on the side of dark or bright—are properly grasped, focused on, borne in mind, and comprehended with wisdom.

A mendicant with these seven qualities will soon realize the four kinds of textual analysis and live having achieved them with their own insight."

(VII) (37) Vô Ngại Giải

1. - Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại”. Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.

AN 7.39 Textual Analysis (2nd) Dutiyapaṭisambhidāsutta

"Mendicants, having seven qualities, Sāriputta realized the four kinds of textual analysis and lives having achieved them with his own insight. What seven?

It’s when Sāriputta truly understood: ‘This is mental sluggishness’.

He truly understood internally constricted mind as ‘internally constricted mind’.

He truly understood externally scattered mind as ‘externally scattered mind’.

He knew feelings, perceptions, and thoughts as they arose, as they remained, and as they went away.

The patterns of qualities—suitable or unsuitable, inferior or superior, or those on the side of dark or bright—were properly grasped, focused on, borne in mind, and comprehended with wisdom.

Having these seven qualities, Sāriputta realized the four kinds of textual analysis and lives having achieved them with his own insight."

3. Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”;… (như trên, số 2,… chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải).

AN 7.40 Mastery of the Mind (1st) Paṭhamavasasutta

“Mendicants, a mendicant with seven qualities masters their mind and is not mastered by it. What seven? It’s when a mendicant is skilled at immersion, skilled in entering immersion, skilled in remaining in immersion, skilled in emerging from immersion, skilled in gladdening the mind for immersion, skilled in the meditation subjects for immersion, and skilled in projecting the mind purified by immersion. A mendicant with these seven qualities masters their mind and is not mastered by it.”

(VIII) (38) Ðiều Phục

1. - Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm điều phục. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong sự thoải mái của định, thiện xảo trong cảnh giới của định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm điều phục.

AN 7.41 Mastery of the Mind (2nd) Dutiyavasasutta

“Mendicants, having seven qualities Sāriputta has mastered his mind and is not mastered by it. What seven? Sāriputta is skilled at immersion, skilled in entering immersion, skilled in remaining in immersion, skilled in emerging from immersion, skilled in gladdening the mind for immersion, skilled in the meditation subjects for immersion, and skilled in projecting the mind purified by immersion. Having these seven qualities Sāriputta has mastered his mind and is not mastered by it.”

3. Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ kheo, Sariputta điều phục tâm và Sariputta không để mình bị tâm điều phục. Thế nào là bảy

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong sự thoải mái về Thiền định, thiện xảo trong cảnh giới định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Sàriputta điều phục tâm và Sàriputta không để mình bị tâm điều phục.

AN 7.42 Graduation (1st) Paṭhamaniddasasutta

Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t I visit the monastery of the wanderers of other religions?”

Then he went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side.

Now at that time while those wanderers of other religions were sitting together this discussion came up among them, “Reverends, anyone who lives the full and pure spiritual life for twelve years is qualified to be called a ‘graduate mendicant’.”

Sāriputta neither approved nor dismissed that statement of the wanderers of other religions. He got up from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”

Then Sāriputta wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding:

“Sir, in this teaching and training can we describe a mendicant as a ‘graduate’ solely because they have completed a certain number of years?”

"No, Sāriputta, we cannot. I make known these seven qualifications for graduation after realizing them with my own insight.

What seven? It’s when a mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future. These are the seven qualifications for graduation that I make known after realizing them with my own insight. A mendicant who has these seven qualifications for graduation is qualified to be called a ‘graduate mendicant’. This is so whether they have lived the full and pure spiritual life for twelve years, twenty-four years, thirty-six years, or forty-eight years."

(IX) (39) Sự Thù Diệu (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anathapindika. Bấy giờ Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán”. Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi khất thực ở Sàvatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi, con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán”. Rồi bạch Thế Tôn, con không tùy hỷ, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”. Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?

− Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.

5. Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”

AN 7.43 Graduation (2nd) Dutiyaniddasasutta

SO I HAVE HEARD. At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.

Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kosambī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Kosambī. Why don’t I visit the monastery of the wanderers of other religions?”

Then he went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side.

Now at that time while those wanderers of other religions were sitting together this discussion came up among them, “Reverends, anyone who lives the full and pure spiritual life for twelve years is qualified to be called a ‘graduate mendicant’.”

Ānanda neither approved nor dismissed that statement of the wanderers of other religions. He got up from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”

Then Ānanda wandered for alms in Kosambī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding:

“Sir, in this teaching and training can we describe a mendicant as a ‘graduate’ solely because they have completed a certain number of years?”

"No, Ānanda, we cannot. These are the seven qualifications for graduation that I make known after realizing them with my own insight.

What seven? It’s when someone is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise. These are the seven qualifications for graduation that I make known after realizing them with my own insight. A mendicant who has these seven qualifications for graduation is qualified to be called a ‘graduate mendicant’. This is so whether they have lived the full and pure spiritual life for twelve years, twenty-four years, thirty-six years, or forty-eight years."

(X) (40) Sự Thù Diệu (2)

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambì để khất thực. Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Kosambì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Tôn giả Ananda đi đến khi vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

2-3. … (Giống như 2-3 của kinh trên, chỉ khác Tôn giả Ananda thế cho Tôn giả Sàriputta)… Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng xấu hổ, có lòng sợ hãi, có nghe nhiều, có tinh cần tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ.

Bảy thù diệu sự này, này Ananda, được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.

5. Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Ananda, Tỷ-kheo nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói” Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”.