Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Mindfulness

AN 8.81 Mindfulness and Situational Awareness Satisampajaññasutta

"Mendicants, when there is no mindfulness and situational awareness, one who lacks mindfulness and situational awareness has destroyed a vital condition for conscience and prudence. When there is no conscience and prudence, one who lacks conscience and prudence has destroyed a vital condition for sense restraint. When there is no sense restraint, one who lacks sense restraint has destroyed a vital condition for ethical conduct. When there is no ethical conduct, one who lacks ethics has destroyed a vital condition for right immersion. When there is no right immersion, one who lacks right immersion has destroyed a vital condition for true knowledge and vision. When there is no true knowledge and vision, one who lacks true knowledge and vision has destroyed a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is no disillusionment and dispassion, one who lacks disillusionment and dispassion has destroyed a vital condition for knowledge and vision of freedom.

Suppose there was a tree that lacked branches and foliage. Its shoots, bark, softwood, and heartwood would not grow to fullness.

In the same way, when there is no mindfulness and situational awareness, one who lacks mindfulness and situational awareness has destroyed a vital condition for conscience and prudence. When there is no conscience and prudence … One who lacks disillusionment and dispassion has destroyed a vital condition for knowledge and vision of freedom.

When there is mindfulness and situational awareness, one who has fulfilled mindfulness and situational awareness has fulfilled a vital condition for conscience and prudence. When there is conscience and prudence, one who has fulfilled conscience and prudence has fulfilled a vital condition for sense restraint. When there is sense restraint, one who has fulfilled sense restraint has fulfilled a vital condition for ethical conduct. When there is ethical conduct, one who has fulfilled ethical conduct has fulfilled a vital condition for right immersion. When there is right immersion, one who has fulfilled right immersion has fulfilled a vital condition for true knowledge and vision. When there is true knowledge and vision, one who has fulfilled true knowledge and vision has fulfilled a vital condition for disillusionment and dispassion. When there is disillusionment and dispassion, one who has fulfilled disillusionment and dispassion has fulfilled a vital condition for knowledge and vision of freedom.

Suppose there was a tree that was complete with branches and foliage. Its shoots, bark, softwood, and heartwood would grow to fullness.

In the same way, when there is mindfulness and situational awareness, one who has fulfilled mindfulness and situational awareness has fulfilled a vital condition for conscience and prudence. When there is conscience and prudence … One who has fulfilled disillusionment and dispassion has fulfilled a vital condition for knowledge and vision of freedom."

IX. Phẩm Niệm

(I) (81) Niệm

1. - Khi chánh niệm, tỉnh giác không có, này các Tỷ-kheo, với người không có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến hủy diệt. Khi tàm quý không có, này các Tỷ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt. Khi chế ngự các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt. Khi tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán, ly tham không có, với người thiếu nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây không có cành và lá, các mầm non của cây ấy không đi đến thành mãn, vỏ cây, giác cây, lõi cây không đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh giác không có, với người không có chánh niệm, tỉnh giác tàm quý đi đến hủy diệt… giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt.

2. Khi chánh niệm, tỉnh giác có mặt, với người có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến đầy đủ. Khi tàm quý có mặt, này các Tỷ-kheo, với người đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn, đi đến đầy đủ. Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế ngự các căn, giới đi đến đầy đủ. Khi giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Khi tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, thời nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có cành và lá, các mầm non và lõi cây đi đến thành mãn, vỏ cây, giác cây và lõi cây đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh giác có mặt, với người đầy đủ chánh niệm, tỉnh giác… giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.

AN 8.82 With Puṇṇiya Puṇṇiyasutta

Then Venerable Puṇṇiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, what is the cause, what is the reason why sometimes the Realized One feels inspired to teach, and other times not?”

"Puṇṇiya, when a mendicant has faith but doesn’t approach, the Realized One doesn’t feel inspired to teach. But when a mendicant has faith and approaches, the Realized One feels inspired to teach. When a mendicant has faith and approaches, but doesn’t pay homage … they pay homage, but don’t ask questions … they ask questions, but don’t actively listen to the teaching … they actively listen to the teaching, but don’t remember the teaching they’ve heard … they remember the teaching they’ve heard, but don’t reflect on the meaning of the teachings they’ve remembered … they reflect on the meaning of the teachings they’ve remembered, but, not having understood the meaning and the teaching, they don’t practice accordingly. The Realized One doesn’t feel inspired to teach.

But when a mendicant has faith, approaches, pays homage, asks questions, actively listen to the teachings, remembers the teachings, reflects on the meaning, and practices accordingly, the Realized One feels inspired to teach. When someone has these eight qualities, the Realized One feels totally inspired to teach."

(II) (82) Tôn Gỉả Punniya

1. Rồi Tôn giả Punniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến… Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết pháp?

2. - Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, không đi đến yết kiến, Thế Tôn không có thuyết pháp. Khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và đi đến yết kiến, như vậy Thế Tôn có thuyết pháp. Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ, có hầu hạ nhưng không hỏi… có hỏi nhưng không lóng tai… có lóng tai nghe pháp, nhưng nghe pháp không có thọ trì… nghe pháp có thọ trì nhưng không suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp được thọ trì… có suy nghĩ các pháp được thọ trì, nhưng sau khi biết nghĩa, sau khi biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp. Thế Tôn không thuyết pháp. Khi nào, này Punniya lòng tin, có đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng tai nghe, có thọ trì pháp, có suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì, sau khi biết nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp, như vậy, Như Lai có thuyết pháp.

Thành tựu những pháp này, này Punniya, nhất định Như Lai thuyết pháp.

AN 8.83 Rooted Mūlakasutta

“Mendicants, if wanderers of other religions were to ask: ‘Reverends, all things have what as their root? What produces them? What is their origin? What is their meeting place? What is their chief? What is their ruler? What is their overseer? What is their core?’ How would you answer them?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”

“Well then, mendicants, I will teach it. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

“Mendicants, if wanderers of other religions were to ask: ‘Reverends, all things have what as their root? What produces them? What is their origin? What is their meeting place? What is their chief? What is their ruler? What is their overseer? What is their core?’ You should answer them: ‘Reverends, all things are rooted in desire. They are produced by application of mind. Contact is their origin. Feeling is their meeting place. Immersion is their chief. Mindfulness is their ruler. Wisdom is their overseer. Freedom is their core.’ When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.”

(III) (83) Cội rễ Của Sự Vật

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: “Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?

2. - Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: “Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời như sau: “Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Ðược hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

AN 8.84 A Master Thief Corasutta

"Mendicants, a master thief with eight factors is soon executed, and doesn’t have long to live. What eight? He attacks unprovoked. He steals everything without exception. He kills a woman. He rapes a girl. He robs a monk. He robs the royal treasury. He works close to home. He’s not skilled at hiding his booty. A master thief with these eight factors is soon executed, and doesn’t have long to live.

A master thief with eight factors is not soon executed, and lives long. What eight? He doesn’t attack unprovoked. He doesn’t steal everything without exception. He doesn’t kill a woman. He doesn’t rape a girl. He doesn’t rob a monk. He doesn’t rob the royal treasury. He doesn’t work close to home. He’s skilled at hiding his booty. A master thief with these eight factors is not soon executed, and lives long."

(IV) (84) Ðại Ăn Trộm

1. - Thành tựu tám chi phần, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường cùng, không tồn tại lâu dài. Thế nào là tám?

Ðập người không đập, lấy trộm không để lại cái gì, giết nữ nhân, hiếp dâm thiếu nữ, xâm phạm người xuất gia; xâm phạm ngân khố của vua; làm việc quá gần nhà, và không khéo cất giấu.

Thành tựu tám chi phần này, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường cùng, không tồn tại lâu dài.

3. Thành tựu tám chi phần, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn không mau chóng đi đến đường cùng, tồn tại được lâu dài. Thế nào là tám?

4. Không đập người không đập, lấy trộm có để lại cái gì, không giết nữ nhân, không hiếp dâm thiếu nữ; không xâm phạm người xuất gia, không xâm phạm ngân khố của vua, không làm việc quá gần nhà, và khéo léo cất giấu.

Thành tựu tám chi phần này, này các Tỷ-kheo, một người ăn trộm không mau chóng đi đến đường cùng, tồn tại được lâu dài.

AN 8.85 Terms for the Realized One Samaṇasutta

"‘Ascetic’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. ‘Brahmin’, ‘Knowledge Master’, ‘Healer’, ‘Unstained’, ‘Immaculate’, ‘Knower’, and ‘Freed’ are terms for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.

The supreme should be attained by an ascetic,
a brahmin who has lived the life;
it should be attained by a knowledge master,
a healer.

The supreme should be attained by the unstained,
stainless and pure;
it should be attained by a knower,
who is free.

I am victorious in battle!
Released, I release others from their chains.
I am a dragon completely tamed,
an adept, I am quenched."

(V) (85) Người Sa Môn

1. - Sa-môn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bà-la-môn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Chánh trí, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Dược sư là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Ly cấu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Có trí, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Giải thoát, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Sa-môn đạt được gì, Phạm chí thành mãn gì, Bậc Chánh trí đạt gì, Bậc Dược sư vô thượng, Bậc Ly cấu đạt gì. Bậc Vô cấu thanh tịnh, Bậc Trí đạt được gì, Bậc Giải thoát vô thượng. Trong chiến trận Ta thắng, Giải thoát khỏi triền phược, Voi tối thượng nhiếp phục, Ta, vô học, tịch tịnh.

AN 8.86 With Nāgita Yasasutta

At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a village of the Kosalan brahmins named Icchānaṅgala. He stayed in a forest near Icchānaṅgala. The brahmins and householders of Icchānaṅgala heard:

“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Icchānaṅgala. He is staying in a forest near Icchānaṅgala. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ … It’s good to see such perfected ones.”

Then, when the night had passed, they took abundant fresh and cooked foods and went to the forest near Icchānaṅgala, where they stood outside the gates making a dreadful racket.

Now, at that time Venerable Nāgita was the Buddha’s attendant. Then the Buddha said to Nāgita, “Nāgita, who’s making that dreadful racket? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”

“Sir, it’s these brahmins and householders of Icchānaṅgala. They’ve brought abundant fresh and cooked foods, and they’re standing outside the gates wanting to offer it specially to the Buddha and the mendicant Saṅgha.”

“Nāgita, may I never become famous. May fame not come to me. There are those who can’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. Let them enjoy the filthy, lazy pleasure of possessions, honor, and popularity.”

“Sir, may the Blessed One please relent now! May the Holy One relent! Now is the time for the Buddha to relent. Wherever the Buddha now goes, the brahmins and householders, and people of town and country will incline the same way. It’s like when the heavens rain heavily and the water flows downhill. In the same way, wherever the Buddha now goes, the brahmins and householders, and people of town and country will incline the same way. Why is that? Because of the Buddha’s ethics and wisdom.”

"Nāgita, may I never become famous. May fame not come to me. There are those who can’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. Let them enjoy the filthy, lazy pleasure of possessions, honor, and popularity.

Even some of the deities can’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. When you all come together to enjoy each other’s company, I think: ‘These venerables mustn’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. That must be because they come together to enjoy each other’s company.’

Take mendicants I see poking each other with their fingers, giggling and playing together. I think to myself: ‘These venerables mustn’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. That must be because they’re poking each other with their fingers, giggling and playing together.’

Take mendicants I see eat as much as they like until their bellies are full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing. I think to myself: ‘These venerables mustn’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. That must be because they eat as much as they like until their bellies are full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing.’

Take a mendicant living within a village who I see sitting immersed in samādhi. I think to myself: ‘Now a monastery worker, a novice, or a fellow practitioner will make this venerable fall from immersion.’ So I’m not pleased that that mendicant is living within a village.

Take a mendicant in the wilderness who I see sitting nodding in meditation. I think to myself: ‘Now this venerable, having dispelled that sleepiness and weariness, will focus just on the unified perception of wilderness.’ So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.

Take a mendicant in the wilderness who I see sitting without being immersed in samādhi. I think to myself: ‘Now if this venerable’s mind is not immersed in samādhi they will immerse it; or if it is immersed in samādhi, they will preserve it.’ So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.

Take a mendicant in the wilderness who I see sitting immersed in samādhi. I think to myself: ‘Now this venerable will free the unfreed mind or preserve the freed mind.’ So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.

Take a mendicant who I see living within a village receiving robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. Enjoying possessions, honor, and popularity they neglect retreat, and they neglect remote lodgings in the wilderness and the forest. They come down to villages, towns and capital cities and make their homes there. So I’m not pleased that that mendicant is living within a village.

Take a mendicant who I see in the wilderness receiving robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. Fending off possessions, honor, and popularity they don’t neglect retreat, and they don’t neglect remote lodgings in the wilderness and the forest. So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.

Nāgita, when I’m walking along a road and I don’t see anyone ahead or behind I feel relaxed, even if I need to urinate or defecate."

(VI) (86) Ðảnh Lễ

1. Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala với chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng Bà-lamôn của dân chúng Kosala tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.

2. Các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala, những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn… Lành thay, nếu được yết kiến một bậc A-la-hán như vậy.” Rồi Bà-la-môn gia chủ sau khi đêm ấy đã mãn, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến Icchànangala, sau khi đến, đứng tại ngoài cửa nói lớn tiếng làm ồn ào.

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:

− Này Nàgita, những ai lớn tiếng, cao tiếng như những hàng cá, với đống cá lớn?

− Các người ấy, bạch Thế Tôn là các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy.

− Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận. Bạch Thế Tôn, nay là thời Thế Tôn chấp nhận. Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về Ngài. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở tại thị trấn và quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về Ngài. Vì sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy. Này Nàgita, một số chư Thiên tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta, Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Này Nàgita, khi nào các Thầy họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng, thời Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc này; còn Ta, Ta đã tìm được không có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng”.

4. Này Nàgita, khi nào Ta thấy các Tỷ-kheo, chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổ lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được… chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau”.

5. Ở đây, này Nàgita, khi Ta thấy các Tỷ-kheo sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ, khi ấy, này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự, các Tôn giả này tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta thời chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; vì rằng các Tôn giả này, sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ”.

6. Ở đây, này Nàgita, khi ta thấy Tỷ-kheo trú ở cuối làng, đang ngồi Thiền định. Này Nàgita, rồi Ta suy nghĩ: “Nay người giữ khu vườn sẽ đến quấy rầy, hay một Sa-di sẽ làm vị ấy từ bỏ Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không hoan hỷ Tỷ-kheo ấy trú ở cuối làng.

7. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo trú ở rừng đang ngồi ngủ gục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này khi đoạn trừ được buồn ngủ và mỏi mệt, sẽ tác ý đến tưởng về rừng và sống nhất tâm”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.

8. Ở đây, này Nàgita. Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng đang ngồi không Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay, vị Tôn giả này sẽ định tĩnh tâm chưa được Thiền định, và sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.

9. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo ngồi Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hay sẽ bảo vệ tâm đã được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo sống ở trong rừng.

Khi nào, này Nàgita, Ta đi trên đường, không thấy một ai ở phía trước hay ở phía sau, này Nàgita, khi ấy, Ta cảm thấy sảng khoái cho đến vấn đề đại, tiểu tiện.

AN 8.87 Turning the Bowl Upside Down Pattanikujjanasutta

"Mendicants, the Saṅgha may, if it wishes, turn the bowl upside down for a lay follower on eight grounds. What eight? They try to prevent the mendicants from getting material things. They try to harm mendicants. They try to drive mendicants from a monastery. They insult and abuse mendicants. They divide mendicants against each other. They criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. The Saṅgha may, if it wishes, turn the bowl upside down for a lay follower on these eight grounds.

The Saṅgha may, if it wishes, turn the bowl upright for a lay follower on eight grounds. What eight? They don’t try to prevent the mendicants from getting material things. They don’t try to harm mendicants. They don’t try to drive mendicants from a monastery. They don’t insult and abuse mendicants. They don’t divide mendicants against each other. They don’t criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. The Saṅgha may, if it wishes, turn the bowl upright for a lay follower on these eight grounds."

(VII) (87) Bình Bát

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật úp bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các Tỷ-kheo, cố gắng đem lại bất lợi cho các Tỷ-kheo, cố gắng đuổi các Tỷ-kheo không cho trú ở, mắng nhiếc chỉ trích các Tỷ-kheo, làm ly gián giữa các Tỷ-kheo, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng.

Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật úp bình bát của một cư sĩ thành tựu tám pháp này.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật ngửa bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp. Thế nào là tám? 4. Không cố gắng đem lại thiệt hại cho các Tỷ-kheo, không cố gắng đem lại bất lợi cho các Tỷ-kheo, không cố gắng đuổi các Tỷ-kheo, không cho trú ở, không mắng nhiếc chỉ trích các Tỷ-kheo, không làm ly gián giữa các Tỷ-kheo, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán chúng Tăng.

Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật ngửa bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp này.

AN 8.88 A Proclamation of No Confidence Appasādapavedanīyasutta

"Mendicants, the lay followers may, if they wish, make a proclamation of no confidence in a mendicant who has eight qualities. What eight? They try to prevent the lay people from getting material things. They try to harm lay people. They insult and abuse lay people. They divide lay people against each other. They criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They’re seen at an inappropriate place for collecting alms. The lay followers may, if they wish, make a proclamation of no confidence in a mendicant who has these eight qualities.

The lay followers may, if they wish, make a proclamation of confidence in a mendicant who has eight qualities. What eight? They don’t try to prevent the lay people from getting material things. They don’t try to harm lay people. They don’t insult and abuse lay people. They don’t divide lay people against each other. They don’t criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They’re not seen at an inappropriate place for collecting alms. The lay followers may, if they wish, make a proclamation of confidence in a mendicant who has these eight qualities."

(VIII) (88) Phản Ðối

1. - Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời phản đối. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, nhiếc mắng chỉ triùch các gia chủ, làm ly gián giữa các gia chủ, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, phỉ báng chúng Tăng, thấy người ấy tại các chỗ không xứng đáng.

Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời phản đối.

3. Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời tùy thuận. Thế nào là tám?

4. Không cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, không cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, không nhiếc mắng chỉ trích các gia chủ, không làm ly gián giữa các gia chủ, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán chúng Tăng, thấy người ấy tại các chỗ xứng đáng.

Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời tùy thuận.

AN 8.89 Reconciliation Paṭisāraṇīyasutta

"Mendicants, the Saṅgha may, if it wishes, perform an act requiring that a mendicant who has eight qualities should pursue reconciliation. What eight? They try to prevent the lay people from getting material things. They try to harm lay people. They insult and abuse lay people. They divide lay people against each other. They criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They don’t keep a legitimate promise made to a lay person. The Saṅgha may, if it wishes, perform an act requiring that a mendicant who has eight qualities should pursue reconciliation.

The Saṅgha may, if it wishes, revoke the act requiring that a mendicant who has eight qualities should pursue reconciliation. What eight? They don’t try to prevent the lay people from getting material things. They don’t try to harm lay people. They don’t insult and abuse lay people. They don’t divide lay people against each other. They don’t criticize the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They keep a legitimate promise made to a lay person. The Saṅgha may, if it wishes, revoke the act requiring that a mendicant who has eight qualities should pursue reconciliation."

(IX) (89) Buộc Tội

1. - Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể làm Yết-ma buộc tội. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, làm ly gián giữa các gia chủ, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng chúng Tăng, không thực hiện lời hứa đúng pháp cho các gia chủ.

Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể làm Yết-ma buộc tội.

3. Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể giải tỏa buộc tội Yết-ma. Thế nào là tám?

4. Không cô gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, không cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, không cố gắng ly gián giữa các gia chủ, không hủy báng Phật, không hủy báng Pháp, không hủy báng chúng Tăng, thực hiện lời hứa đúng Pháp cho các gia chủ.

Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể giải tỏa buộc tội Yết-ma.

AN 8.90 Proper Behavior in a Case of Aggravated Misconduct Sammāvattanasutta

“Mendicants, a mendicant who has been convicted of aggravated misconduct must behave themselves properly in eight respects. They must not perform an ordination, give dependence, or be attended by a novice. They must not consent to being appointed as adviser for nuns, and if they are appointed they should not give such advice. They must not consent to any Saṅgha appointment. They must not be put in a position of seniority. They must not resolve others from any offense similar to that which they have transgressed. A mendicant who has been convicted of aggravated misconduct must behave themselves properly in these eight respects.”

The Chapter on Similarity

(X) (90) Hành Xử Ðúng Pháp

1. - Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo đã bị hành tìm tội Yết-ma, cần phải chơn chánh hành xử với vị ấy, theo tám pháp: Không cho pháp truyền đại giới, không cho vị ấy y chỉ, không cho Sa-di hầu hạ, không cho phép được nói gì với Tỷ-kheo dầu đã chấp nhận, không cho phép giáo giới các Tỷ-kheo-ni, không được hưởng các quyết định của Tăng chúng, không được đặt trong một vị trí đặc biệt nào, không được phép trở lại vị trí cũ bởi bất cứ lý do nào.

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo đã bị hành tìm tội Yết-ma, cần phải chơn chánh hành xử với vị ấy theo tám pháp này.

AN 8.91–117 Untitled Discourses With Various Laywomen on the Sabbath Sāmaññavagga

And then the lay woman Bojjhā … Sirīmā … Padumā … Sutanā … Manujā … Uttarā … Muttā … Khemā … Somā … Rucī … Cundī … Bimbī … Sumanā … Mallikā … Tissā … Tissamātā … Soṇā … Soṇā’s mother … Kāṇā … Kāṇamātā … Uttarā Nanda’s mother … Visākhā Migāra’s mother … the lay woman Khujjuttarā … the lay woman Sāmāvatī … Suppavāsā the Koliyan … the lay woman Suppiyā … the housewife Nakula’s mother …

(X) (90b) Một Số Nữ Cư Sĩ

Bojjhà, Sirimà, Padumà, Sudhanà, Manujà, Uttarà, Muttà, Khemà, Somà Rùpì, Cundì Bimbì, Sumanà, Mallikà, Tissà, mẹ của Tissà, Sonà, mẹ Cunda Sonà, Kànà, mẹ của Kànà, Uttarà, mẹ của Nandà, Visàkhà, mẹ của Migàra, nữ cư sĩ Khujjuttarà và Sàmavatì, Suppavàsà, người thiếu nữ Koliya, nữ cư sĩ Suppiyà, nữ gia chủ mẹ của Nakula.