Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Abuse

AN 10.41 Arguments Vivādasutta

Then Venerable Upāli went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason, why arguments, quarrels, and disputes arise in the Saṅgha, and the mendicants don’t live happily?”

“Upāli, it’s when a mendicant explains what is not the teaching as the teaching, and what is the teaching as not the teaching. They explain what is not the training as the training, and what is the training as not the training. They explain what was not spoken and stated by the Realized One as spoken and stated by the Realized One, and what was spoken and stated by the Realized One as not spoken and stated by the Realized One. They explain what was not practiced by the Realized One as practiced by the Realized One, and what was practiced by the Realized One as not practiced by the Realized One. They explain what was not prescribed by the Realized One as prescribed by the Realized One, and what was prescribed by the Realized One as not prescribed by the Realized One. This is the cause, this is the reason why arguments, quarrels, and disputes arise in the Saṅgha, and the mendicants don’t live happily.”

V. Phẩm Mắng Nhiếc

(I) (41) Tranh Luận

1. Bấy giờ có Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả upàli bạch Thế Tôn:

2. - Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, Tăng chúng khởi lên cạnh tranh, tranh luận, xung đột, đấu tranh và Tỷ-kheo sống không an ổn?

3. - Ở đây, này Upàli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp là pháp…(như kinh 35)…

AN 10.42 Roots of Arguments (1st) Paṭhamavivādamūlasutta

“Sir, how many roots of arguments are there?”

“Upāli, there are ten roots of arguments. What ten? It’s when a mendicant explains what is not the teaching as the teaching, and what is the teaching as not the teaching. They explain what is not the training as the training, and what is the training as not the training. They explain what was not spoken and stated by the Realized One as spoken and stated by the Realized One, and what was spoken and stated by the Realized One as not spoken and stated by the Realized One. They explain what was not practiced by the Realized One as practiced by the Realized One, and what was practiced by the Realized One as not practiced by the Realized One. They explain what was not prescribed by the Realized One as prescribed by the Realized One, and what was prescribed by the Realized One as not prescribed by the Realized One. These are the ten roots of arguments.”

AN 10.43 Roots of Arguments (2nd) Dutiyavivādamūlasutta

“Sir, how many roots of arguments are there?”

“Upāli, there are ten roots of arguments. What ten? It’s when a mendicant explains what is not an offense as an offense, and what is an offense as not an offense. They explain a light offense as a serious offense, and a serious offense as a light offense. They explain an offense committed with corrupt intention as an offense not committed with corrupt intention, and an offense not committed with corrupt intention as an offense committed with corrupt intention. They explain an offense requiring rehabilitation as an offense not requiring rehabilitation, and an offense not requiring rehabilitation as an offense requiring rehabilitation. They explain an offense with redress as an offense without redress, and an offense without redress as an offense with redress. These are the ten roots of arguments.”

(II-III) (42-43) Cội Gốc Của Tranh Luận

1. - Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu cội gốc của tranh luận?

2. - Này Upàli, có mười cội gốc của tranh luận. Thế nào là mười?

3. Ở đây, này Upàli, Tỷ-kheo thuyết phi pháp là pháp…(như kinh 35)…

AN 10.44 At Kusinārā Kusinārasutta

At one time the Buddha was staying near Kusinārā, in the Forest of Offerings. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, a mendicant who wants to accuse another should first check five things in themselves and establish five things in themselves. What five things should they check in themselves? A mendicant who wants to accuse another should check this: ‘Is my bodily behavior pure? Do I have pure bodily behavior that is impeccable and irreproachable? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there will be people who say: ‘Come on, venerable, train your own bodily behavior first.’

Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this: ‘Is my verbal behavior pure? Do I have pure verbal behavior that is impeccable and irreproachable? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there will be people who say: ‘Come on, venerable, train your own verbal behavior first.’

Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this: ‘Is my heart established in love for my spiritual companions, without resentment? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there will be people who say: ‘Come on, venerable, establish your heart in love for your spiritual companions first.’

Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this: ‘Am I very learned, remembering and keeping what I’ve learned? These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. Am I very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there will be people who say: ‘Come on, venerable, memorize the scriptures first.’

Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this: ‘Have both monastic codes been passed down to me in detail, well analyzed, well mastered, and well evaluated in both the rules and accompanying material? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, and if they are unable to respond when asked “Venerable, where was this spoken by the Buddha?” there will be people who say: ‘Come on, venerable, train in the monastic code first.’ These are the five things they should check in themselves.

What five things should they establish in themselves? ‘I will speak at the right time, not at the wrong time. I will speak truthfully, not falsely. I will speak gently, not harshly. I will speak beneficially, not harmfully. I will speak lovingly, not from secret hate.’ These are the five things they should establish in themselves. A mendicant who wants to accuse another should first check these five things in themselves and establish these five things in themselves."

(IV) (44) Tại Kusanàrà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kusanàrà, trong khóm rừng Baliharana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác sau khi quan sát nội trú thân năm pháp, sau khi khiến năm pháp an trú nội thân, rồi hãy buộc tội người khác. Thế nào là năm pháp cần phải quán sát nội thân?

3. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tôi, trong khi buộc tội người khác, cần quán sát như sau: “Ta có thân hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu thân hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thân hành không có thanh tịnh, không thành tựu thân hành thanh tịnh, có sứt mẻ, có uế mẻ, có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về thân đi”. Như vậy các Tỷ-kheo nói với vị ấy.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có khẩu hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu khẩu hành thanh tịnh, không có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, khẩu hành không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có? “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, khẩu hành không có thanh tịnh, không có thành tựu khẩu hành thanh tịnh, không có sứt mẻ, không có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về lời”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có an lập từ tâm, không sân hận đối với các đồng Phạm hạnh hay không? Trong ta có pháp ấy hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không an lập từ tâm, sân hận đối với các đồng Phạm hạnh, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy an lập từ tâm đối với các vị đồng Phạm hạnh”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có phải là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe hay không? Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, ta có nghe nhiều, có thọ trì, có tụng đọc bằng lời, có suy tư với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến không? Pháp ấy có nơi ta hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không phải là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh; các pháp ấy, vị ấy không có nghe nhiều, không có thọ trì, không có tụng đọc bằng lời, không có suy tư với ý, không khéo thể nhập như sau: “Tôn giả hãy học tập về Agama (A-hàm) đi”. Như vậy, có người sẽ nói về vị ấy.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người, hãy quán sát như sau: “Cả hai bộ giới bổn Pàtimokkha, ta có khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khó phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không khéo truyền đạt một cách rộng rãi về hai bộ giới bổn Pàtimokkha, không khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết thì: “Thưa Tôn giả, vấn đề này được thế Tôn nói tại chỗ nào?”, được hỏi như vậy, vị ấy không có thể trả lời. Người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Mong rằng Tôn giả hãy học tập về luật”. Như vậy, có người sẽ nói về vị ấy. Năm pháp này, cần phải tự quán sát về nội thân

8. Năm pháp nào cần phải an trú nội tâm?

9. “Ta nói đúng thời, không phải phi thời; ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; ta nói lời nhu hòa, không phải nói lời thô bạo; ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận”.

Năm pháp này cần phải an trú nội tâm.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác, sau khi quán sát nội tâm về năm pháp này, sau khi an trú nội tâm về năm pháp này, hãy buộc tội người khác.

AN 10.45 Entering a Royal Compound Rājantepurappavesanasutta

"Mendicants, there are ten drawbacks to entering a royal compound. What ten?

Firstly, a king is sitting with his chief queen when a monk enters. When the queen sees the monk she smiles, or when the monk sees the queen he smiles. So the king thinks: ‘They’ve done it for sure, or they will do it.’ This is the first drawback of entering a royal compound.

Furthermore, a king has many duties, and much to do. He has sex with one of the women but doesn’t remember. She gets pregnant from that. So the king thinks: ‘No-one else has entered here, except for that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the second drawback of entering a royal compound.

Furthermore, a gem is lost somewhere in the royal compound. So the king thinks: ‘No-one else has entered here, except for that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the third drawback of entering a royal compound.

Furthermore, secret deliberations in the royal compound are leaked outside. So the king thinks: ‘No-one else has entered here, except for that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the fourth drawback of entering a royal compound.

Furthermore, in a royal compound, a father longs for their son, or a son longs for his father. They think: ‘No-one else has entered here, except for that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the fifth drawback of entering a royal compound.

Furthermore, the king promotes someone to a higher position. Those who are upset by this think: ‘The king is close to that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the sixth drawback of entering a royal compound.

Furthermore, the king demotes someone to a lower position. Those who are upset by this think: ‘The king is close to that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the seventh drawback of entering a royal compound.

Furthermore, the king dispatches the army at the wrong time. Those who are upset by this think: ‘The king is close to that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the eighth drawback of entering a royal compound.

Furthermore, the king dispatches the army at the right time, but orders it to turn back while still on the road. Those who are upset by this think: ‘The king is close to that monk. Could this be the monk’s doing?’ This is the ninth drawback of entering a royal compound.

Furthermore, in the royal compound there is a trampling of elephants, horses, and chariots, as well as arousing sights, sounds, smells, tastes, and touches that do not befit a monk. This is the tenth drawback of entering a royal compound.

These are the ten drawbacks of entering a royal compound."

(V) (45) Ði Vào Hậu Cung

1. - Này các Tỷ-kheo, vào hậu cung của vua có mười nguy hại này. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua đang ngồi với hoàng hậu. Khi thấy Tỷ-kheo, hoàng hậu mỉm cười; hay khi thấy hoàng hậu, Tỷ-kheo mỉm cười. Ở đây, vua khởi lên ý nghĩ: “Chắc những người này đã làm hay sẽ làm (tội lỗi) gì? “Này các Tỷ-kheo, đây là nguy hại thứ nhất khi vào hậu cung của vua.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua bận nhiều công việc, bận nhiều công việc phải làm, đi đến với một cung nữ rồi quên. Cung nữ ấy có thai. Ở đây, vua khởi lên ý nghĩ: “Không có một ai vào đây, trừ vị xuất gia. Có thế vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây là nguy hại thứ hai khi vào các hậu cung của vua.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong hậu cung của vua có một châu báu bị mất cắp. Ở đây, vua khởi lên ý nghĩ: “Không có một ai vào đây, trừ vị xuất gia. Có thể là vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ ba, khi vào hậu cung của cung.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong hậu cung của vua, có những việc cơ mật bị tiết lộ ra ngoài. Ở đây, vua khởi lê ý nghĩ: “Không có một ai vào đây, trừ vị xuất gia. Có thể là vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ tư, khi vào hậu cung của vua.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong hậu cung của vua, cha giết con, hay con muốn giết cha. Họ khởi lên ý nghĩ: “Không có một ai vào đây, trừ vị xuất gia. Có thể vị xuất gia đã làm như vậy.” Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ năm, khi vào hậu cung của vua.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua đặt người có địa vị thấp lên địa vị cao. Việc này không làm vừa ý một số người. Các người này khởi lên ý nghĩ: “Vua thân cận với vị xuất gia. Có thể vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ sáu, khi vào hậu cung nhà vua.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua đặt người có địa vị cao xuống chỗ địa vị thấp. Việc này không làm vừa lòng một số người. Các người này khởi lên ý nghĩ: “Vua thân cận với vị xuất gia. Có thể là vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo đây là sự nguy hại thứ bảy, khi vào hậu cung của vua.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua điều động quân đội không đúng thời. Việc này không làm vừa lòng một số người. Các người này khởi lên ý nghĩ: “Vua thân cận với vị xuất gia. Có thể vị xuất gia đã làm thứ tám, khi vào hậu cung của vua. 10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua sau khi điều động quân đội không đúng thời, từ giữa đường lại rút lui quân. Việc làm này không làm vừa lòng một số người. Các người này khởi lên ý nghĩ: “Vua thân cận với vị xuất gia. Có thể là vị xuất gia đã làm như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ chín, khi vào hậu cung của cung.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong hậu cung nhà vua, rộn rịp với voi, rộn rịp với ngựa, rộn rịp với xe cộ, có những sắc, thanh, hương, vị, xúc hấp dẫn, không thích hợp với người xuất gia. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ mười, khi vào hậu cung của vua.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười sự nguy hại khi vào hậu cung của vua.

AN 10.46 With the Sakyans Sakkasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Then on the sabbath several Sakyan lay followers went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to them:

“Sakyans, do you observe the sabbath with its eight factors?”

“Sir, sometimes we do, sometimes we don’t.”

"That’s your loss, Sakyans, it’s your misfortune. In this life with its fear of sorrow and death, you sometimes keep the sabbath and you sometimes don’t.

What do you think, Sakyans? Take a man who earns half a dollar for an honest day’s work. Is this enough to call him a deft and industrious man?"

“Yes, sir.”

“What do you think, Sakyans? Take a man who earns a dollar for an honest day’s work. Is this enough to call him a deft and industrious man?”

“Yes, sir.”

“What do you think, Sakyans? Take a man who, for an honest day’s work, earns two dollars … three dollars … four dollars … five dollars … six dollars … seven dollars … eight dollars … nine dollars … ten dollars … twenty dollars … thirty dollars … forty dollars … fifty dollars … a hundred dollars. Is this enough to call him a deft and industrious man?”

“Yes, sir.”

“What do you think, Sakyans? Suppose that man earned a hundred or a thousand dollars every day and saved it all up. If he lived for a hundred years, would he not accumulate a large mass of wealth?”

“Yes, sir.”

“What do you think, Sakyans? Would that man, on account of that wealth, experience perfect happiness for a single day or night, or even half a day or night?”

“No, sir.”

“Why is that?”

“Because sensual pleasures, sir, are impermanent, hollow, false, and deceptive.”

"But take one of my disciples who lives diligent, keen, and resolute for ten years, practicing in line with my instructions. They can experience perfect happiness for a hundred years, ten thousand years, or a hundred thousand years. And they could become a once-returner or a non-returner, or unfailingly a stream-enterer. Let alone ten years, take one of my disciples who lives diligent, keen, and resolute for nine years … eight years … seven years … six years … five years … four years … three years … two years … one year … ten months … nine months … eight months … seven months … six months … five months … four months … three months … two months … one month … a fortnight … ten days … nine days … eight days … seven days … six days … five days … four days … three days … two days …

Let alone two days, take one of my disciples who lives diligent, keen, and resolute for one day, practicing in line with my instructions. They can experience perfect happiness for a hundred years, ten thousand years, or a hundred thousand years. And they could become a once-returner or a non-returner, or unfailingly a stream-enterer. It’s your loss, Sakyans, it’s your misfortune. In this life with its fear of sorrow and death, you sometimes keep the sabbath and you sometimes don’t."

“Well, sir, from this day forth we will observe the sabbath with its eight factors.”

(VI) (46) Các Vị Sakya (Thích tử)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa các Thích tử tại Kapilavatthu, trong khu vườn Nigrodha. Bấy giờ có rất nhiều nam cư sĩ Thích tử, trong ngày trai giới Uposatha, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các nam tu sĩ Thích tử đang ngồi một bên:

2.- Này các Thích tử, các Ông có thực hành ngày trai giới, đầy đủ tám chi phần không?

− Bạch Thế Tôn, có khi chúng con thực hành ngày trai giới, đầy đủ tám chi phần, có khi chúng con không thực hành.

− Này các Thích tử, như vậy không được lợi cho các Ông! Như vậy khó được lợi cho các Ông! Vì rằng trong đời sống liên hệ đến sợ hãi về sầu khổ, trong đời sống liên hệ đến sợ hãi về chết, có khi các Ông thực hành ngày trai giới đầy đủ tám chi phần, có khi các Ông không thực hành, các Ông nghĩ thế nào, này các Thích tử, ở đây, có người trong một vài công việc, không gặp một ngày kém may mắn nào, lãnh được nữa đồng tiền vàng. Như vậy, có vừa đủ để có người nói về người ấy như sau: “Thật là người thông minh, đầy đủ sự tháo vát”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Thích tử, ở đây, có người trong một vài công việc, không gặp một ngày kém may mắn nào, lãnh được một đồng tiền vàng… lãnh được hai đồng tiền vàng… lãnh được ba đồng tiền vàng… lãnh được bốn đồng tiền vàng… lãnh được năm đồng tiền vàng… lãnh được sáu đồng tiền vàng… lãnh được bảy đồng tiền vàng… lãnh được tám đồng tiền vàng… lãnh được chín đồng tiền vàng… lãnh được mười đồng tiền vàng… lãnh được hai mươi… lãnh được ba mươi… lãnh được bốn mươi… lãnh được năm mươi đồng tiền vàng. Như vậy, có vừa đủ để người ta nói về người ấy như sau: “Người này là thông minh, đầy đủ sự tháo vát”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Thích tử, nếu người ấy, mỗi ngày lãnh được 100 đồng tiền vàng, 1.000 đồng tiền vàng, cất giấu số tiền đã lãnh được, đến 100 tuổi, sống được đến 100 năm, có phải người ấy thâu được một số tài sản sở hữu lớn?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Thích tử, người ấy do nhân của cải sở hữu, do duyên của cải sở hữu, do kết quả của cải sở hữu trong một đêm hay trong một ngày, hay chỉ trong nữa đêm, hay chỉ trong nữa ngày, sống hưởng nhất hướng lạc được không? − Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Dục, bạch Thế Tôn là vô thường, là trống rỗng, là giả dối, bản chất là giả dối.

3. Ở đây, này các Thích tử, đệ tử của Ta, trong 10 năm sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy, như vậy, vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống 100 năm, 100 trăm năm, 100 ngàn năm, 100 ngàn năm được cảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng được quả Nhất lai, quả Nhất lai hay quả Dự lưu, không có sai chạy. Này các Thích tử, đâu phải là 10 năm! Ở đây, đệ tử của Ta trong 9 năm, trong 8 năm, trong 7 năm, trong 6 năm, trong 5 năm, trong 4 năm, trong 3 năm, trong 2 năm, trong 1 năm sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy, vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống 100 năm, 100 ngàn năm được cảm thọ nhứt hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Nhất lai, quả Bất lai, hay quả Dự lưu không có sai chạy. Này các Thích tử, đâu phải là một năm. Ở đây, vị đệ tử của Ta trong 10 tháng sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy; như vậy vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống 100 năm, 100 trăm năm, 100 ngàn năm, 100 trăm ngàn năm được cảm thọ nhứt hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Nhất lai, quả Bất lai, hay quả Dự lưu không có sai chạy. Này các Thích tử, đâu phải là 10 tháng. Ở đây, đệ tử của Ta trong 9 tháng, trong 8 tháng, trong 7 tháng, trong 6 tháng, trong 5 tháng, trong 4 tháng, trong 3 tháng, trong 2 tháng, trong 1 tháng, trong nữa tháng sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy; vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống 100 năm, 100 trăm năm, 100 ngàn năm, 100 trăm ngàn năm được cảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Nhất lai, quả Bất lai, hay quả Dự lưu không có sai chạy. Này các Thích tử, đâu phải là nữa tháng. Ở đây, đệ tử của ta trong 10 đêm 10 ngày… trong 9 đêm 9 ngày… trong 7 đêm 7 ngày… trong 6 đêm 6 ngày… trong 5 đêm 5 ngày… trong 4 đêm 4 ngày… trong 3 đêm 3 ngày… trong 2 đêm 2 ngày… trong 1 đêm 1 ngày… sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy; vị ấy thực hành. Vị ấy có thể sống 100 năm, 100 trăm năm, 100 ngàn năm, 100 trăm ngàn năm được cảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Nhất lai, quả Bất lai hay quả Dự lưu không có sai chạy.

Này các Thích tử, như vậy không được lợi ích cho các Ông! Như vậy khó được lợi ích cho các Ông! Vì rằng trong đời sống liên hệ đến sợ hãi về đau khổ, trong đời sống liên hệ đến sợ hãi về chết, có khi các Ông thực hành ngày trai giới đầy đủ tám chi phần, có khi các Ông không thực hành.

− Bạch Thế Tôn, vậy bắt đầu từ hôm nay chúng con sẽ hành trì ngày trai giới đầy đủ tám chi phần.

AN 10.47 With Mahāli Mahālisutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then Mahāli the Licchavi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason for doing bad deeds, for performing bad deeds?”

“Greed is a cause, Mahāli, greed is a reason for doing bad deeds, for performing bad deeds. Hate is a cause of bad deeds … Delusion is a cause of bad deeds … Irrational application of mind is a cause of bad deeds … A wrongly directed mind is a cause of bad deeds … This is the cause, Mahāli, this is the reason for doing bad deeds, for performing bad deeds.”

“What is the cause, sir, what is the reason for doing good deeds, for performing good deeds?”

“Contentment is a cause, Mahāli, contentment is a reason for doing good deeds, for performing good deeds. Love is a cause of good deeds … Understanding is a cause of good deeds … Rational application of mind is a cause of good deeds … A rightly directed mind is a cause of good deeds … This is the cause, Mahāli, this is the reason for doing good deeds, for performing good deeds. If these ten things were not found in the world, we wouldn’t see either unprincipled and immoral conduct, or principled and moral conduct. But since these ten things are found in the world, we see both unprincipled and immoral conduct, and principled and moral conduct.”

(VII) (47) Mahàli

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàli người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahàli người Licchavi bạch Thế Tôn:

2.- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm?

− Này Mahàli, do nhân tham, do duyên tham, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahali, do nhân sân, do duyên sân, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Do nhân si, do duyên si, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân phi như lý tác ý, do duyên phi như lý tác ý, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân tâm tà hướng, do duyên tâm tà hướng, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm.

3. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm? − Này Mahàli, do nhân vô tham, do duyên vô tham, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân vô sân, do duyên vô sân… do nhân vô si, do nhân vô si… do nhân như lý tác ý, do duyên như lý tác ý… do nhân tâm chánh hướng, do duyên tâm chánh hướng, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục là.

Và này Mahàli, nếu 10 pháp này không thực hiện hữu ở đời, thời đây không có lời tuyên bố về phi pháp hành, bất bình đẳng hành hay pháp hành, bình đẳng hành. Vì rằng, này Mahàli, mười pháp này hiện hữu ở đời, thời ở đây có lời tuyên bố về phi pháp hành bất bình đẳng hành, hay pháp hành, bình đẳng hành.

AN 10.48 Ten Regular Reflections for a Renunciate Pabbajitaabhiṇhasutta

"Mendicants, one who has gone forth should often review these ten things. What ten?

One who has gone forth should often review this: ‘I have secured freedom from class.’

‘My livelihood is tied up with others.’

‘My behavior should be different.’

‘I hope there’s no reason to blame myself when it comes to ethical conduct?’

‘I hope that, after examination, sensible spiritual companions don’t reproach any aspect of my ethics?’

‘I must be parted and separated from all I hold dear and beloved.’

'I am the owner of my deeds and heir to my deeds. Deeds are my womb, my relative, and my refuge.

I shall be the heir of whatever deeds I do, whether good or bad.’

‘As the days and nights flit by, what sort of person am I becoming?’

‘Do I love to stay in empty huts?’

‘Do I have any superhuman distinctions in knowledge and vision worthy of the noble ones, so that when my spiritual companions question me on my deathbed I will not be embarrassed?’

One who has gone forth should often review these ten things."

(VIII) (48) Các Pháp

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?

2. Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp” (mất hết giai cấp). Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác.” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi! “Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không? “Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ thích ta về giới hạnh không? “Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”. Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp. là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: “Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào? Vị xuất gia cần phải lưôn luôn cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không? “Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?”

Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát.

AN 10.49 Existing Because of the Body Sarīraṭṭhadhammasutta

“Mendicants, these ten things exist because of the body. What ten? Cold, heat, hunger, thirst, feces, urine, restraint of body, speech, and livelihood, and the will to live that leads to future lives. These ten things exist because of the body.”

(IX) (49) Trú Thân

1. - Này các Tỷ-kheo, mười pháp này liên hệ đến thân. Thế nào là mười?

2. Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, chế ngự thân, chế ngự lời, chế ngự mạng sống, tái sanh, hữu hành.

Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này liên hệ đến thân.

AN 10.50 Arguments Bhaṇḍanasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now at that time, after the meal, on return from almsround, several mendicants sat together in the assembly hall. They were arguing, quarreling, and disputing, wounding each other with barbed words.

Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”

“Sir, after the meal, on return from almsround, we sat together in the assembly hall, arguing, quarreling, and disputing, wounding each other with barbed words.”

"Mendicants, this is not appropriate for you gentlemen who have gone forth out of faith from the lay life to homelessness.

There are ten warm-hearted qualities that make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling. What ten? Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. When a mendicant is ethical, this warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.

Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and comprehending them theoretically. …

Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. …

Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. …

Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. …

Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training. …

Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. …

Furthermore, a mendicant is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. …

Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. …

Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. When a mendicant is wise, this warm-hearted quality makes for fondness and respect, helping the Saṅgha to live in harmony and unity, without quarreling.

These ten warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling."

(X) (50) Ðấu Tranh

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, cùng nhau ngồi hội họp trong hội trường, cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, sống đã thương nhau với binh khí miệng, lưỡi. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến. Ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

2. - Này các Tỷ-kheo, nay các thầy họp, bàn đến vấn đề gì? Câu chuyện gì giữa các Thầy đã bị gián đoạn? − Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi hội họp trong hội trường, cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, sống đã thương nhau với binh khí miệng lưỡi.

− Này các Tỷ-kheo, thật là không xứng đáng cho các Thầy, các thiện nam nữ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại sống canh tranh, luận tranh đấu tranh, đả thương nhua với binh khí miệng lưỡi. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, cần phải ghi nhớ tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là mười?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Phàm vị Tỷ-kheo nào có giới, sống chế ngự… trong các học pháp: Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính hòa hợp, nhất trí

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ kheo có nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe cất giữ điều đã nghe. Những pháp gì, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đã đọc tụng bằng lời, đã quan sát với ý, đã khéo thông đạt nhờ chánh kiến. Này các Tỷ-kheo, phàm vị Tỷ-kheo nào có nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe… khéo thông đạt nhờ chánh kiến. Ðây là pháp cần kính… hòa hợp, nhất trí.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào làm bạn với thiện… giao thiệp với thiện. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Tỷ-kheo nào dễ nói… khéo chấp nhận những lời giáo giới. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm có những công việc cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ đối với các đồng Phạm hạnh. Ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự suy tư đến các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phàm có những công việc gì… vừa đủ để tổ chức… tương ái… hòa hợp, nhất trí.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, vô cùng hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào ưa Pháp… trong thắng Luật. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất diệt, làm cho đầy đủ các tiện pháp, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào sống tinh cần, tinh tấn… đối với các thiện pháp. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sáng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào biết đủ… dược phẩm trị bệnh. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

11. Lại nữa, này các Tỷ-khoe, Tỷ-kheo chánh niệm thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm tùy niệm việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu… Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào chánh niệm… đã nói từ lâu. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chính đoạn tận thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.