Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on Perceptions for Ascetics

AN 10.101 Perceptions for Ascetics Samaṇasaññāsutta

"Mendicants, when these three perceptions for ascetics are developed and cultivated they fulfill seven things. What three? ‘I have secured freedom from class.’ ‘My livelihood is tied up with others.’ ‘My behavior should be different.’ When these three perceptions for ascetics are developed and cultivated they fulfill seven things.

What seven? Their deeds and behavior are always consistent with the precepts. They’re content, kind-hearted, and humble. They want to train. They use the necessities of life after reflecting on their purpose. They’re energetic. When those three perceptions for ascetics are developed and cultivated they fulfill these seven things."

XI. Phẩm Sa Môn Tưởng

(I) (101) Tưởng

1. Có ba Sa-môn tưởng, này các Tỷ-kheo, được tụ tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ bảy pháp. Thế nào là ba?

2. Ta nay đã đến tình trạng mất bản sắc; đời sống ta bị phụ thuộc vào người khác; hành vi của ta cần phải thay đổi.

Ba Sa-môn tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tụ tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ bảy pháp. Thế nào là bảy?

3. Luôn luôn là người làm liên tục, thực hiện liên tục trong các Giới Luật; không có tham ái; không có sân; không có quá mạn, ưa thích học tập; đối với các vật dụng cần yếu cho đời sống, nó nghĩ: “Ðây là mục đích sống tinh cần tinh tấn”.

Này các Tỷ-kheo, có ba Sa-môn tưởng này tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ bảy pháp.

AN 10.102 Awakening Factors Bojjhaṅgasutta

“Mendicants, when the seven awakening factors are developed and cultivated they fulfill three knowledges. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. When these seven awakening factors are developed and cultivated they fulfill three knowledges. What three? It’s when a mendicant recollects their many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They recollect their many kinds of past lives, with features and details. With clairvoyance that is purified and surpasses the human, they understand how sentient beings are reborn according to their deeds. They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and live having realized it with their own insight due to the ending of defilements. When those seven awakening factors are developed and cultivated they fulfill these three knowledges.”

(II) (102) Giác Chi

1. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba minh. Thế nào là bảy?

2. Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.

Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba minh. Thế nào là ba?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời… nhớ đến nhiều đời trước với các nét đại cương và các chi tiết. Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân… rõ biết các chúng sanh, tùy thuộc hạnh nghiệp của họ. Do đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt, vị ấy an trú.

Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba minh này.

AN 10.103 The Wrong Way Micchattasutta

"Mendicants, relying on the wrong way leads to failure, not success. And how does relying on the wrong way lead to failure, not success? Wrong view gives rise to wrong thought. Wrong thought gives rise to wrong speech. Wrong speech gives rise to wrong action. Wrong action gives rise to wrong livelihood. Wrong livelihood gives rise to wrong effort. Wrong effort gives rise to wrong mindfulness. Wrong mindfulness gives rise to wrong immersion. Wrong immersion gives rise to wrong knowledge. Wrong knowledge gives rise to wrong freedom. That’s how relying on the wrong way leads to failure, not success.

Relying on the right way leads to success, not failure. And how does relying on the right way lead to success, not failure? Right view gives rise to right thought. Right thought gives rise to right speech. Right speech gives rise to right action. Right action gives rise to right livelihood. Right livelihood gives rise to right effort. Right effort gives rise to right mindfulness. Right mindfulness gives rise to right immersion. Right immersion gives rise to right knowledge. Right knowledge gives rise to right freedom. That’s how relying on the right way leads to success, not failure."

(III) (103) Tà Tánh

1. Do tà tánh, này các Tỷ-kheo, nên thất bại, không thành công. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là do tà tánh, nên thất bại, không thành công? 2. Với người tà kiến, này các Tỷ-kheo, có tà tư duy. Với người tà tư duy, có tà ngữ. Với người tà ngữ, có tà nghiệp. Với người tà nghiệp, có tà mạng. Với người tà mạng, có tà tinh tấn. Với người tà tinh tấn, có tà niệm. Với người tà niệm, có tà định. Với người tà định, có tà trí. Với người tà trí, có tà giải thoát.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, do tà tánh đưa đến thất bại.

3. Do chánh tánh, này các Tỷ-kheo, nên thành công, không thất bại. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là do chánh tánh nên thành công, không thất bại?

4. Với người chánh kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Với người chánh tư duy, có chánh ngữ. Với người chánh ngữ, có chánh nghiệp. Với người chánh nghiệp, có chánh mạng. Với người chánh mạng, có chánh tinh tấn. Với người chánh tinh tấn, có chánh niệm. Với người chánh niệm, có chánh định. Với người chánh định, có chánh trí. Với người chánh trí, có chánh giải thoát.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, do chánh tánh đưa đến thành công, không đưa đến thất bại.

AN 10.104 A Seed Bījasutta

"Mendicants, consider an individual who has wrong view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, immersion, knowledge, and freedom. Whatever bodily, verbal, or mental deeds they undertake in line with that view, their intentions, aims, wishes, and choices all lead to what is unlikable, undesirable, disagreeable, harmful, and suffering. Why is that? Because their view is bad.

Suppose a seed of neem, angled gourd, or bitter gourd was planted in moist earth. Whatever nutrients it takes up from the earth and water would lead to its bitter, acerbic, and unpleasant taste. Why is that? Because the seed is bad. In the same way, consider an individual who has wrong view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, immersion, knowledge, and freedom. Whatever bodily, verbal, or mental deeds they undertake in line with that view, their intentions, aims, wishes, and choices all lead to what is unlikable, undesirable, disagreeable, harmful, and suffering. Why is that? Because their view is bad.

Consider an individual who has right view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, immersion, knowledge, and freedom. Whatever bodily, verbal, or mental deeds they undertake in line with that view, their intentions, aims, wishes, and choices all lead to what is likable, desirable, agreeable, beneficial, and pleasant. Why is that? Because their view is good.

Suppose a seed of sugar cane, fine rice, or grape was planted in moist earth. Whatever nutrients it takes up from the earth and water would lead to its sweet, pleasant, and delicious taste. Why is that? Because the seed is fine. In the same way, consider a person who has right view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, immersion, knowledge, and freedom. Whatever bodily, verbal, or mental deeds they undertake in line with that view, their intentions, aims, wishes, and choices all lead to what is likable, desirable, agreeable, beneficial, and pleasant. Why is that? Because their view is good."

(IV) (104) Chủng Tử

1. Này các Tỷ-kheo, với người đàn ông, với con người có tà kiến, có tà tư duy, có tà ngữ, có tà nghiệp, có tà mạng, có tà tinh tấn, có tà niệm, có tà định, có tà trí, có tà giải thoát; phàm có thân nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có khẩu nghiệp gì… phàm có ý nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào và phàm có các hành nào, tất cả các pháp ấy đưa đến bất khả lạc, bất khả hỷ, bất khả ý, bất hạnh, đau khổ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì kiến là ác. Ví như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây kosàtakì (một loại dây leo), hay hột giống cây mướp đắng được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì sao? Vì nó là tánh ác của hột giống, này các Tỷ-kheo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người đàn ông, với con người có tà kiến, có tà tư duy, có tà ngữ, có tà nghiệp, có tà mạng, có tà tinh tấn, có tà niệm, có tà định, có tà trí, có tà giải thoát, phàm có thân nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy, phàm có khẩu nghiệp gì… phàm có ý nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, và được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, phàm có các hành nào, tất cả các pháp ấy đưa đến bất khả lạc, bất khả hỷ, bất khả ý, bất hạnh, đau khổ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tà kiến là ác.

3. Này các Tỷ-kheo, với người đàn ông, với con người có chánh kiến, có chánh tư duy, có chánh ngữ, có chánh nghiệp, có chánh mạng, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có chánh trí, có chánh giải thoát; phàm có thân nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có khẩu nghiệp gì… phàm có ý nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả các pháp ấy đưa đến khả năng lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì chánh kiến là hiền thiện. VÍ như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngon, tánh ngọt, tánh thuần chất của nó. Vì sao? Vì hột giống là hiền thiện. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành… vì tánh hiền thiện của kiến.

AN 10.105 Knowledge Vijjāsutta

"Mendicants, ignorance precedes the attainment of unskillful qualities, with lack of conscience and prudence following along. An ignoramus, sunk in ignorance, gives rise to wrong view. Wrong view gives rise to wrong thought. Wrong thought gives rise to wrong speech. Wrong speech gives rise to wrong action. Wrong action gives rise to wrong livelihood. Wrong livelihood gives rise to wrong effort. Wrong effort gives rise to wrong mindfulness. Wrong mindfulness gives rise to wrong immersion. Wrong immersion gives rise to wrong knowledge. Wrong knowledge gives rise to wrong freedom.

Knowledge precedes the attainment of skillful qualities, with conscience and prudence following along. A sage, firm in knowledge, gives rise to right view. Right view gives rise to right thought. Right thought gives rise to right speech. Right speech gives rise to right action. Right action gives rise to right livelihood. Right livelihood gives rise to right effort. Right effort gives rise to right mindfulness. Right mindfulness gives rise to right immersion. Right immersion gives rise to right knowledge. Right knowledge gives rise to right freedom."

(V) (105) Với Mình

1. Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh. Với kẻ tà tư duy, tà ngữ sanh. Với kẻ tà ngữ, tà nghiệp sanh. Với kẻ tà nghiệp, tà mạng sanh. Với kẻ tà mạng, tà tinh tấn sanh. Với kẻ tà tinh tấn, tà niệm sanh. Với kẻ tà niệm, tà định sanh. Với kẻ tà định, tà trí sanh. Với kẻ tà trí, tà giải thoát sanh.

2. Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo. Với kẻ được minh chi phối, có trí, này các Tỷ-kheo, chánh kiến sanh. Với vị có chánh kiến, chánh tư duy sanh. Với vị có chánh tư duy, chánh ngữ sanh. Với vị có chánh ngữ, chánh nghiệp sanh. Với vị có chánh nghiệp, chánh mạng sanh. Với vị có chánh mạng, chánh tinh tấn sanh. Với vị có chánh tinh tấn, chánh niệm sanh. Với vị có chánh niệm, chánh định sanh. Với vị có chánh định, chánh trí sanh. Với vị có chánh trí, chánh giải thoát sanh.

AN 10.106 Wearing Away Nijjarasutta

"Mendicants, there are these ten grounds for wearing away. What ten?

For one of right view, wrong view is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong view are worn away. And because of right view, many skillful qualities are fully developed.

For one of right thought, wrong thought is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong thought are worn away. And because of right thought, many skillful qualities are fully developed.

For one of right speech, wrong speech is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong speech are worn away. And because of right speech, many skillful qualities are fully developed.

For one of right action, wrong action is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong action are worn away. And because of right action, many skillful qualities are fully developed.

For one of right livelihood, wrong livelihood is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong livelihood are worn away. And because of right livelihood, many skillful qualities are fully developed.

For one of right effort, wrong effort is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong effort are worn away. And because of right effort, many skillful qualities are fully developed.

For one of right mindfulness, wrong mindfulness is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong mindfulness are worn away. And because of right mindfulness, many skillful qualities are fully developed.

For one of right immersion, wrong immersion is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong immersion are worn away. And because of right immersion, many skillful qualities are fully developed.

For one of right knowledge, wrong knowledge is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong knowledge are worn away. And because of right knowledge, many skillful qualities are fully developed.

For one of right freedom, wrong freedom is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong freedom are worn away. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed.

These are the ten grounds for wearing away."

(VI) (106) Nguyên Nhân Khiến Cho Tổn Giảm

1. Này các Tỷ-kheo, có mười tổn giảm sự này. Thế nào là mười?

2. Với người có chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị tổn giảm, các pháp ác, bất thiện do duyên tà kiến sanh, các pháp ấy bị tổn giảm. Các pháp thiện do duyên chánh kiến sanh, các pháp ấy đi đến viên mãn trong tu tập. Với người có chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, tà tư duy bị tổn giảm, và các pháp ác, bất thiện do duyên tà tư duy sanh, các pháp ấy bị tổn giảm. Các pháp thiện do duyên chánh tư duy sanh, các pháp ấy được viên mãn trong tư tập. Với người có chánh ngữ… có chánh nghiệp… có chánh mạng… có chánh tinh tấn… có chánh niệm… có chánh định… có chánh trí… có chánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, tà giải thoát bị tổn giảm, và các pháp ác, bất thiện do duyên tà giải thoát sanh, các pháp ấy bị tổn giảm. Do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp đi đến viên mãn trong tu tập.

Này các Tỷ-kheo, có mười tổn giảm sự này.

AN 10.107 The Bone-Washing Ceremony Dhovanasutta

"Mendicants, in the southern lands there is a ceremony named ‘bone-washing’. There they have food, drink, snacks, meals, refreshments, and beverages, as well as dancing, singing, and music. There is such a washing, I don’t deny it. But that washing is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

I will teach a noble washing that leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Relying on that washing, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things. Listen and apply your mind well, I will speak."

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"And what is that noble washing?

For one of right view, wrong view is washed away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong view are washed away. And because of right view, many skillful qualities are fully developed.

For one of right thought, wrong thought is washed away. … For one of right speech, wrong speech is washed away. … For one of right action, wrong action is washed away. … For one of right livelihood, wrong livelihood is washed away. … For one of right effort, wrong effort is washed away. … For one of right mindfulness, wrong mindfulness is washed away. … For one of right immersion, wrong immersion is washed away. … For one of right knowledge, wrong knowledge is washed away. …

For one of right freedom, wrong freedom is washed away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong freedom are washed away. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed. This is the noble washing that leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Relying on this washing, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things."

(VII) (107) Tẩy Trần

1. Này các Tỷ-kheo, tại các quốc độ miền Nam, có lễ tẩy trần. Tại đấy có các món ăn, có các thức uống, các đồ ăn loại cứng, các đồ ăn loại mềm, đồ nếm, đồ uống, múa, hát, nhạc. Này các Tỷ-kheo, đây là lễ tẩy trần, Ta tuyên bố rằng không phải là không có. Và này các Tỷ-kheo, lễ tẩy trần ấy là hạ liệt, thô tục, phàm phu, không phải Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Này các Tỷ kheo. Ta sẽ thuyết về tẩy trần thuộc bậc Thánh, tẩy trần này đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn. Do duyên tẩy trần này, các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; cách chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. Và này, các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh tẩy trần, do Thánh tẩy trần này đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Do duyên Thánh tẩy trần này, các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.

3. Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị tẩy sạch, và những pháp ác bất thiện nào do duyên tà kiến khởi lên, các pháp ấy của người ấy được tẩy sạch. Và các pháp thiện do duyên chánh kiến, đi đến viên mãn trong tu tập. Với người chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, tà tư duy bị tẩy sạch… Với người chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, tà ngữ được tẩy sạch…Với người chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, tà nghiệp được tẩy sạch… Với người chánh mạng, này các Tỷ-kheo, tà mạng được tẩy sạch… Với người chánh tinh tấn, này các Tỷ-kheo, tà tinh tấn được tẩy sạch… Với người chánh niệm, này các Tỷ-kheo, tà niệm được tẩy sạch… Với người chánh định, này các Tỷ-kheo, tà định được tẩy sạch… Với người chánh trí, này các Tỷ-kheo, tà trí được tẩy sạch… Với người chánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, tà giải thoát được tẩy sạch và những pháp ác bất thiện do duyên tà giải thoát khởi lên, các pháp ấy của người ấy được tẩy sạch. Và các pháp thiện do duyên chánh giải thoát, đi đến viên mãn trong tu tập.

4. Này các Tỷ-kheo, đây là Thánh tẩy trần ấy, tẩy trần này đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do duyên tẩy trần này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; những chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, những chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; những chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.

AN 10.108 Doctors Tikicchakasutta

"Mendicants, doctors prescribe a purgative for eliminating illnesses stemming from disorders of bile, phlegm, and wind. There is such a purgative, I don’t deny it. But this kind of purgative sometimes works and sometimes fails.

I will teach a noble purgative that works without fail. Relying on that purgative, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things. Listen and apply your mind well, I will speak."

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"And what is the noble purgative that works without fail?

For one of right view, wrong view is purged. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are purged. And because of right view, many skillful qualities are fully developed.

For one of right thought, wrong thought is purged. … For one of right speech, wrong speech is purged. … For one of right action, wrong action is purged. … For one of right livelihood, wrong livelihood is purged. … For one of right effort, wrong effort is purged. For one of right mindfulness, wrong mindfulness is purged. … For one of right immersion, wrong immersion is purged. … For one of right knowledge, wrong knowledge is purged. …

For one of right freedom, wrong freedom is purged. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are purged. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed. This is the noble purgative that works without fail. Relying on this purgative, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things."

(VIII) (108) Y Thuật

1. Các y sư, này các Tỷ-kheo, cho thuốc xổ để chận đứng các bệnh khởi lên từ mật, để chận đứng các bệnh khởi lên từ đàm, để chận đứng các bệnh khởi lên từ gió. Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là thuốc xổ. Ta tuyên bố rằng đây không phải là không có, và này các Tỷ-kheo, thuốc xổ này có thành công và cũng có thất bại. Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về thuốc xổ các bậc Thánh, thuốc xổ này thành công, không có thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này thành công không có thất bại. Do duyên thuốc xổ bậc Thánh này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh… các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não?

3. Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị xổ ra. Các ác bất thiện pháp do duyên tà kiến sanh khởi nên các pháp ấy được xổ ra và các pháp thiện do duyên với chánh kiến đi đến viên mãn trong tu tập. Với người có chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, tà tư duy bị xổ ra… Với người có chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, tà ngữ bị xổ ra… Với người có chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, tà nghiệp bị xổ ra… Với người có chánh mạng, này các Tỷ-kheo, tà mạng bị xổ ra… Với người có chánh tinh tấn, này các Tỷ-kheo, tà tinh tấn bị xổ ra… Với người có chánh niệm, này các Tỷ-kheo, tà niệm bị xổ ra… Với người có chánh định, này các Tỷ-kheo, tà định bị xổ ra… Với người có chánh trí, này các Tỷ-kheo, tà trí bị xổ ra… Với người có chánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, tà giải thoát bị xổ ra… Các pháp ác bất thiện, do duyên tà giải thoát sanh khởi, các pháp ấy bị xổ ra và các pháp thiện, duyên với chánh giải thoát đi đến viên mãn trong tu tập.

4. Này các Tỷ-kheo, đây là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này chỉ thành công, không thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.

AN 10.109 Emetic Vamanasutta

"Mendicants, doctors prescribe an emetic for eliminating illnesses stemming from disorders of bile, phlegm, and wind. There is such an emetic, I don’t deny it. But this kind of emetic sometimes works and sometimes fails.

I will teach a noble emetic that works without fail. Relying on that emetic, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things. Listen and apply your mind well, I will speak. …

And what is that noble emetic that works without fail?

For one of right view, wrong view is vomited up. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are vomited up. And because of right view, many skillful qualities are fully developed.

For one of right thought, wrong thought is vomited up. … For one of right speech, wrong speech is vomited up. … For one of right action, wrong action is vomited up. … For one of right livelihood, wrong livelihood is vomited up. … For one of right effort, wrong effort is vomited up. … For one of right mindfulness, wrong mindfulness is vomited up. … For one of right immersion, wrong immersion is vomited up. … For one of right knowledge, wrong knowledge is vomited up. …

For one of right freedom, wrong freedom is vomited up. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are vomited up. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed. This is the noble emetic that works without fail. Relying on this emetic, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things."

(IX) (109) Mửa

(Giống như kinh 108, kinh trước dùng chữ “xổ”, kinh này dùng chữ “mửa”).

AN 10.110 Blown Away Niddhamanīyasutta

"Mendicants, these ten qualities should be blown away. What ten? For one of right view, wrong view is blown away. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are blown away. And because of right view, many skillful qualities are fully developed.

For one of right thought, wrong thought is blown away. … For one of right speech, wrong speech is blown away. … For one of right action, wrong action is blown away. … For one of right livelihood, wrong livelihood is blown away. … For one of right effort, wrong effort is blown away. … For one of right mindfulness, wrong mindfulness is blown away. … For one of right immersion, wrong immersion is blown away. … For one of right knowledge, wrong knowledge is blown away. …

For one of right freedom, wrong freedom is blown away. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are blown away. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed. These are the ten qualities that should be blown away."

(X) (110) Bài Tiết

1. Có mười pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải bài tiết. Thế nào là mười?

2. Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị bài tiết ra, … (giống như hai kinh trước, chỉ chữ “bài tiết” thay cho chữ “xổ”).

AN 10.111 An Adept (1st) Paṭhamaasekhasutta

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, they speak of this person called ‘an adept’. How is an adept mendicant defined?”

“Mendicant, it’s when a mendicant has an adept’s right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. That’s how a mendicant is an adept.”

(XI) (111) Vô Học (1)

1. Bấy giờ có một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Vô học, vô học, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc vô học?

2. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh nghiệp, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo vô học.

AN 10.112 An Adept (2nd) Dutiyaasekhasutta

“Mendicants, there are ten qualities of an adept. What ten? An adept’s right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. These are the ten qualities of an adept.”

(XII) (112) Vô Học (2)

1. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp vô học này. Thế nào là mười?

2. Vô học chánh kiến, vô học chánh tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mạng, vô học chánh tinh tấn, vô học chánh chánh nhiệm, vô học chánh định, vô học chánh trí, vô học chánh giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, có mười pháp vô học này.