Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

The Chapter on the Ceremony of Descent

AN 10.113 Bad Principles (1st) Paṭhamaadhammasutta

"Mendicants, you should know bad principles with bad results. And you should know good principles with good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.

And what are bad principles with bad results? Wrong view, wrong thought, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, wrong immersion, wrong knowledge, and wrong freedom. These are called bad principles with bad results.

And what are good principles with good results? Right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. These are called good principles with good results.

‘You should know bad principles with bad results. And you should know good principles with good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’ That’s what I said, and this is why I said it."

XII. Phẩm Ði Xuống

(I) (113) Phi Pháp

1. Phi pháp và phi mục đích này, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; pháp và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích, sau khi biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp và phi mục đích?

2. Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là phi pháp và phi mục đích. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp và mục đích?

3. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp và mục đích.

4. Và này các Tỷ-kheo, phi pháp và phi mục đích cần phải hiểu biết; pháp và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi hiểu biết phi pháp và phi mục đích sau khi hiểu biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược nói đến như vậy là do duyên này được nói đến.

AN 10.114 Bad Principles (2nd) Dutiyaadhammasutta

"Mendicants, you should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.

So what are bad principles? What are good principles? What are bad results? And what are good results?

Wrong view is a bad principle. Right view is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right view are good results.

Wrong thought is a bad principle. Right thought is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong thought are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right thought are good results.

Wrong speech is a bad principle. Right speech is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong speech are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right speech are good results.

Wrong action is a bad principle. Right action is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong action are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right action are good results.

Wrong livelihood is a bad principle. Right livelihood is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong livelihood are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right livelihood are good results.

Wrong effort is a bad principle. Right effort is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong effort are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right effort are good results.

Wrong mindfulness is a bad principle. Right mindfulness is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong mindfulness are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right mindfulness are good results.

Wrong immersion is a bad principle. Right immersion is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong immersion are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right immersion are good results.

Wrong knowledge is a bad principle. Right knowledge is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong knowledge are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right knowledge are good results.

Wrong freedom is a bad principle. Right freedom is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right freedom are good results.

‘You should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’ That’s what I said, and this is why I said it."

(II) (114) Không Phải Mục Ðích

1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp? Thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích và thế nào là mục đích?

2. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh kiến là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà kiến được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh kiến đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh tư duy là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà tư duy được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh tư duy đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh ngữ là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà ngữ sanh khởi. Ðây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh ngữ đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh nghiệp là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà nghiệp được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh nghiệp đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh mạng là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà mạng sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh mạng đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh tinh tấn là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà tinh tấn sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh tinh tấn đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh niệm là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà niệm sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh niệm đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh định là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà định sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh định đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh trí là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà trí sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh trí đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà giải thoát sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh giải thoát đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Và những thiện pháp do duyên chánh giải thoát đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích.

3. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành. Ðược nói như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.115 Bad Principles (3rd) Tatiyaadhammasutta

“Mendicants, you should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.”

That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One got up from his seat and entered his dwelling.

Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. Who can explain in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha?”

Then they considered, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter. As he answers, so we’ll remember it.”

Then those mendicants went to Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said, “May Venerable Ānanda please explain this.”

“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves. Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you overlooked him, imagining that you should ask me about this matter. For he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the teacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. You should have remembered it in line with the Buddha’s answer.”

“Certainly he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the teacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. We should have remembered it in line with the Buddha’s answer. Still, Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. You are capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Please explain this, if it’s no trouble.”

“Then listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:

"Reverends, the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail: ‘You should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’

So what are bad principles? What are good principles? What are bad results? And what are good results?

Wrong view is a bad principle. Right view is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right view are good results.

Wrong thought is a bad principle. Right thought is a good principle. … Wrong speech is a bad principle. Right speech is a good principle. … Wrong action is a bad principle. Right action is a good principle. … Wrong livelihood is a bad principle. Right livelihood is a good principle. … Wrong effort is a bad principle. Right effort is a good principle. … Wrong mindfulness is a bad principle. Right mindfulness is a good principle. … Wrong immersion is a bad principle. Right immersion is a good principle. … Wrong knowledge is a bad principle. Right knowledge is a good principle. …

Wrong freedom is a bad principle. Right freedom is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right freedom are good results.

The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail: ‘You should know bad principles and good principles … and practice accordingly.’ And this is how I understand the detailed meaning of this summary recital. If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer."

“Yes, reverend,” said those mendicants, approving and agreeing with what Ānanda said. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then they said:

“Sir, we went to Ānanda and asked him about this matter. And Ānanda clearly explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”

“Good, good, mendicants! Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”

(III) (115) Phi Pháp

1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thuyết như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và bước vào tinh xá.

2. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn đã nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? “Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa hiền giả Ananda. Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi hiểu phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Này Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”. Thưa Tôn giả Ananda, hãy phân tích cho.

4. Chư Hiền, cũng ví như một người cần thiết lõi cây, tìm lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng: “Phải tìm lõi cây ở nơi cành lá”. Cũng vậy, là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quí vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng: “Cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này”. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ. Thế Tôn giải thích quý vị như thế nào, quí vị hãy như vậy thọ trì.

5. Hiền giả Ananda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. nhưng Hiền giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Hiền giả Ananda có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Hiền giả Ananda giải thích, nếu không có sự gì phiền muộn.

6. Vậy chư Hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ giảng.

− Thưa vâng Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda giảng như sau: − Thưa chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Và này chư Hiền, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích và thế nào là mục đích?

7. Tà kiến, này chư Hiền, là phi pháp; chánh kiến là pháp, những pháp ác bất thiện gì do duyên tà kiến khởi lên, đây là phi mục đích. Và những pháp thiện gì đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này chư Hiền, là phi pháp; chánh tư duy là pháp… Tà ngữ là phi pháp; chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp là phi pháp; chánh nghiệp là pháp… Tà mạng là phi pháp; chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn là phi pháp; chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm là phi pháp; chánh niệm là pháp… Tà định là phi pháp; chánh định là pháp… Tà trí là phi pháp; chánh trí là pháp… Tà giải thoát là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Và những pháp ác bất thiện nào do duyên chánh giải thoát khởi lên đây là phi mục đích, và những thiện pháp do duyên chánh giải thoát đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Thưa các Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố này một cách vắn tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Thưa các Hiền giả, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa rộng rãi như vậy. Thưa chư Hiền, nếu chư Hiền muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

8. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp cần phải hiểu biết… hãy như thế ấy mà thực hành”. Với lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi? “Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Aụnanda và hỏi ý nghĩa này”. Bạch Thế Tôn, ý nghĩa của chúng được Tôn giả Ananda khéo phân tích với những lý do như thế này, với những chữ như thế này, với những chữ như thế này, với những câu văn như thế này.

9. Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Hiền giả Ananda! Ðại tuệ là Hiền giả Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy đến hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như đã được Ananda trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời ấy, hãy như vậy thọ trì.

AN 10.116 With Ajita Ajitasutta

Then the wanderer Ajita went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Mister Gotama, we have a spiritual companion called ‘Astute’. He has worked out around five hundred arguments by which followers of other religions will know when they’ve been refuted.”

Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you remember this Astute’s points?”

“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha speak and the mendicants will remember it.”

“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, take a certain person who rebuts and quashes unprincipled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly, who make a dreadful racket: ‘He is truly astute! He is truly astute!’

Another person rebuts and quashes principled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly, who make a dreadful racket: ‘He is truly astute! He is truly astute!’

Another person rebuts and quashes principled and unprincipled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly, who make a dreadful racket: ‘He is truly astute! He is truly astute!’

Mendicants, you should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.

So what are bad principles? What are good principles? What are bad results? And what are good results? Wrong view is a bad principle. Right view is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right view are good results.

Wrong thought is a bad principle. Right thought is a good principle. … Wrong speech is a bad principle. Right speech is a good principle. … Wrong action is a bad principle. Right action is a good principle. … Wrong livelihood is a bad principle. Right livelihood is a good principle. … Wrong effort is a bad principle. Right effort is a good principle. … Wrong mindfulness is a bad principle. Right mindfulness is a good principle. … Wrong immersion is a bad principle. Right immersion is a good principle. … Wrong knowledge is a bad principle. Right knowledge is a good principle. …

Wrong freedom is a bad principle. Right freedom is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right freedom are good results.

‘You should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’ That’s what I said, and this is why I said it."

(IV) (116) Ajita

1. Bấy giờ có du sĩ Ajita đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Ajita nói với Thế Tôn: − Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có người đồng Phạm hạnh là vị Hiền trí, vị này có nghĩ đến năm trăm tâm xứ. Với những tâm xứ ấy, các người ngoại đạo khi bị cật nạn, biết rằng: “Chúng tôi đang bị cật nạn”. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thọ trì những căn bản địa của bậc Hiền trí không?

− Bạch Thế Tôn, nay đến thời, bạch Thiện Thệ, nay đến thời Thế Tôn thuyết. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trí!

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp, bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp và lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời đúng pháp bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

6. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích, thế nào là mục đích?

7. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh kiến là pháp, do duyên tà kiến, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích; do duyên chánh kiến, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tư duy là pháp… Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh nghiệp là pháp… Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh niệm là pháp… Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh định là pháp… Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh trí là pháp… Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh giải thoát là pháp. Do duyên tà giải thoát, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích. Do duyên chánh giải thoát, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích.

Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược noí đến như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.117 With Saṅgārava Saṅgāravasutta

Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:

“Mister Gotama, what is the near shore? And what is the far shore?”

"Wrong view is the near shore, brahmin, and right view is the far shore. Wrong thought is the near shore, and right thought is the far shore. Wrong speech is the near shore, and right speech is the far shore. Wrong action is the near shore, and right action is the far shore. Wrong livelihood is the near shore, and right livelihood is the far shore. Wrong effort is the near shore, and right effort is the far shore. Wrong mindfulness is the near shore, and right mindfulness is the far shore. Wrong immersion is the near shore, and right immersion is the far shore. Wrong knowledge is the near shore, and right knowledge is the far shore. Wrong freedom is the near shore, and right freedom is the far shore. This is the near shore, and this is the far shore.

Few are those among humans
who cross to the far shore.
The rest just run around
on the near shore.

When the teaching is well explained,
those who practice accordingly
are the ones who will cross over
Death’s dominion so hard to pass.

Rid of dark qualities,
an astute person should develop the bright.
Leaving home behind
for the seclusion so hard to enjoy,

find delight there,
having left behind sensual pleasures.
With no possessions, an astute person
would cleanse themselves of mental corruptions.

Those whose minds are rightly developed
in the awakening factors;
who, letting go of attachments,
delight in not grasping:
with defilements ended, brilliant,
they are quenched in this world."

(V) (117) Sangàrava

1. Bấy giờ có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?

2. Tà kiến, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ… chánh ngữ… Tà nghiệp… chánh nghiệp… Tà mạng… chánh mạng… Tà tinh tấn… chánh tinh tấn… Tà niệm… chánh niệm… Tà định… chánh định… Tà trí… chánh trí… Tà giải thoát, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia.

Này Bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia:

Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui niết- bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cầu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.

AN 10.118 The Near Shore Orimatīrasutta

“Mendicants, I will teach you the near shore and the far shore. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"And what, mendicants, is the near shore? What is the far shore? Wrong view is the near shore, and right view is the far shore. … Wrong freedom is the near shore, and right freedom is the far shore. This is the near shore, and this is the far shore.

Few are those among humans
who cross to the far shore.
The rest just run
around on the near shore.

When the teaching is well explained,
those who practice accordingly
are the ones who will cross over
Death’s dominion so hard to pass.

Rid of dark qualities,
an astute person should develop the bright.
Leaving home behind
for the seclusion so hard to enjoy,

you should try to find delight there,
having left behind sensual pleasures.
With no possessions, an astute person
should cleanse themselves of mental corruptions.

And those whose minds are rightly developed
in the awakening factors;
letting go of attachments,
they delight in not grasping.
With defilements ended, brilliant,
they are quenched in this world."

(VI) (118) Bờ Bên Này Và Bờ Bên Kia

− Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bờ bên này và bờ bên kia. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là bờ bên này, và thế nào là bờ bên kia?

Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia… Tà giải thoát là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia. Này các Tỷ-kheo, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia. Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui niết- bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cầu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.

AN 10.119 The Ceremony of Descent (1st) Paṭhamapaccorohaṇīsutta

Now, at that time it was the sabbath. The brahmin Jānussoṇi had bathed his head and dressed in a new pair of linen robes. Holding a handful of fresh grass, he stood to one side not far from the Buddha.

The Buddha saw him, and said, “Brahmin, why have you bathed your head and dressed in a new pair of linen robes? Why are you standing to one side holding a handful of fresh grass? What’s going on today with the brahmin clan?”

“Mister Gotama, today is the ceremony of descent for the brahmin clan.”

“But how do the brahmins observe the ceremony of descent?”

“Well, Mister Gotama, on the sabbath the brahmins bathe their heads and dress in a new pair of linen robes. They make a heap of fresh cow dung and spread it with green grass. Then they make their beds between the boundary and the fire chamber. That night they rise three times and worship the fire with joined palms: ‘We descend, lord! We descend, lord!’ And they serve the fire with abundant ghee, oil, and butter. And when the night has passed they serve the brahmins with delicious fresh and cooked foods. That’s how the brahmins observe the ceremony of descent.”

“The ceremony of descent observed by the brahmins is quite different from that observed in the training of the Noble One.”

“But Mister Gotama, how is the ceremony of descent observed in the training of the Noble One? Mister Gotama, please teach me this.”

“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes sir,” Jānussoṇi replied. The Buddha said this:

"It’s when a noble disciple reflects: ‘Wrong view has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong view, they descend from wrong view.

‘Wrong thought has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong thought, they descend from wrong thought.

‘Wrong speech has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong speech, they descend from wrong speech.

‘Wrong action has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong action, they descend from wrong action.

‘Wrong livelihood has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong livelihood, they descend from wrong livelihood.

‘Wrong effort has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong effort, they descend from wrong effort.

‘Wrong mindfulness has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong mindfulness, they descend from wrong mindfulness.

‘Wrong immersion has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong immersion, they descend from wrong immersion.

‘Wrong knowledge has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong knowledge, they descend from wrong knowledge.

‘Wrong freedom has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong freedom, they descend from wrong freedom. This is the ceremony of descent in the training of the Noble One."

“The ceremony of descent observed by the brahmins is quite different from that observed in the training of the Noble One. And, Mister Gotama, the ceremony of descent observed by the brahmins is not worth a sixteenth part of a master of the ceremony of descent observed in the training of the Noble One. Excellent, Mister Gotama! … From this day forth, may Mister Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

(VII) (119) Sự Xuất Ly của Bậc Thánh (1)

1. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jànussoni, nhân ngày trai giới Uposatha, sau khi gội đầu và mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Thế Tôn thấy Bà-la-môn Jànussoni, nhân ngày trai giới Uposatha, sau khi gội đầu và mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng một bên không xa bao nhiêu, thấy vậy liền nói với Bà-la-môn Jànussoni:

− Này Bà-la-môn, nhân ngày trai giới Uposatha, Ông gội đầu, mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng một bên để làm gì? Có phải hôm nay là ngày của gia đình Bà-la-môn?

− Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay là ngày xuất ly của gia đình Bà-la-môn.

− Này Bà-la-môn, như thế nào là ngày xuất ly của các Bà-la-môn?

− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn nhân ngày trai giới Uposatha gội đầu, mặc đôi áo lụa mới, thoa sàn nhà với phân bò ướt, trải với cỏ kusa xanh, và nằm xuống giữa đống cát và nhà lửa. Ðêm ấy họ dậy ba lần, chắp tay đảnh lễ ngọn lửa và nói: “Chúng tôi đi xuống đến Tôn giả”. Rồi họ đốt lửa với nhiều thục tô, và sanh tô, và sau khi đêm ấy đã qua, họ cúng dường các Bà-la-môn với các món ăn thù diệu, loại cứng và loại mềm. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama là lễ đi xuống của các Bà-la-môn.

− Sai khác, này Bà-la-môn, là lễ đi xuống của các Bà-la-môn. Sai khác là sự xuất ly trong Luật bậc Thánh.

− Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là sự xuất ly trong Luật bậc Thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng tôi thế nào là trong Luật của bậc Thánh!

− Này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói. − Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Ở đây, này Bà-la-môn, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Tà kiến đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến… Tà tư duy đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà ngữ đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà nghiệp đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà mạng đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà tinh tấn đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà niệm… Tà định… Tà trí… Tà giải thoát đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát. Như vậy, này Bà-la-môn, là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh.

3. Sự khác, thưa Tôn giả Gotama, là lễ đi xuống của các Bà-la-môn. Sai khác là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh. Thưa Tôn giả Gotama, sự xuất ly của các Bà-la-môn không bằng giá trị của phần mười sáu, so với sự xuất ly trong Luật bậc Thánh. Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama bắt đầu từ nay nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung con xin quy ngưỡng.

AN 10.120 The Ceremony of Descent (2nd) Dutiyapaccorohaṇīsutta

“Mendicants, I will teach you the noble descent. Listen and apply your mind well, I will speak. … And what is the noble descent? It’s when a noble disciple reflects: ‘Wrong view has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong view, they descend from wrong view. ‘Wrong thought has a bad result …’ … ‘Wrong speech …’ … ‘Wrong action …’ … ‘Wrong livelihood …’ … ‘Wrong effort …’ … ‘Wrong mindfulness …’ … ‘Wrong immersion …’ … ‘Wrong knowledge …’ … ‘Wrong freedom has a bad result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up wrong freedom, they descend from wrong freedom. This is called the noble descent.”

(VIII) (120) Sự Xuất Ly Của Bậc Thánh (2)

1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy về sự xuất ly của bậc Thánh. Hãy nghe… và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly của bậc Thánh?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: 'Tà kiến đưa đến ác quỷ dị thục trong hiện tại và trong tương lai”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến… Tà tư duy… Tà ngữ… Tà nghiệp… Tà mạng… Tà tinh tấn… Tà niệm… Tà định… Tà trí… Tà giải thoát, đưa đến ác quả dị thục trong đời này và trong đời sau”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát, ra khỏi tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự xuất ly của bậc Thánh.

AN 10.121 Forerunner Pubbaṅgamasutta

“Mendicants, the dawn is the forerunner and precursor of the sunrise. In the same way right view is the forerunner and precursor of skillful qualities. Right view gives rise to right thought. Right thought gives rise to right speech. Right speech gives rise to right action. Right action gives rise to right livelihood. Right livelihood gives rise to right effort. Right effort gives rise to right mindfulness. Right mindfulness gives rise to right immersion. Right immersion gives rise to right knowledge. Right knowledge gives rise to right freedom.”

(IX) (121) Ðiềm Báo Trước

1. Khi mặt trời mọc, này các Tỷ-kheo, cái này đi trước, cái này là tướng báo trước, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp, cái này là đi trước, cái này là tướng trước, tức là chánh tri kiến.

2. Từ chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Từ chánh tư duy, có chánh ngữ. Từ chánh ngữ, có chánh nghiệp. Từ chánh nghiệp, có chánh mạng. Từ chánh mạng, có chánh tinh tấn. Từ chánh tinh tấn, có chánh niệm. Từ chánh niệm, có chánh định. Từ chánh định, có chánh trí. Từ chánh trí, có chánh giải thoát.

AN 10.122 The Ending of Defilements Āsavakkhayasutta

“Mendicants, these ten things, when developed and cultivated, lead to the ending of defilements. What ten? Right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. These ten things, when developed and cultivated, lead to the ending of defilements.”

(X) (122) Các Lậu Hoặc

1. Có mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến các lậu hoặc được đoạn diệt. Thế nào là mười?

2. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến các lậu hoặc được đoạn diệt.