Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Búng Móng Tay

AN 1.51–60 Accharāsaṅghātavagga

51. “Này các Tỷ-kheo, tâm này quang minh (radiant / sáng chói, rạng rỡ). Nhưng nó bị ô nhiễm bởi các phiền não ngoại lai (corrupted by passing corruptions / bị làm dơ bẩn bởi những ô nhiễm đến từ bên ngoài). Một kẻ phàm phu ít học (unlearned ordinary person / người thường không được học hỏi Phật pháp) không thật sự hiểu rõ điều này. Vì vậy, Ta nói rằng kẻ phàm phu ít học không có sự tu tập tâm (development of the mind / sự rèn luyện tâm).”

VI. Phẩm Búng Ngón Tay

1-10 Tâm Ðược Tu Tập

1. - Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Kẻ phàm phu ít nghe, không như thật rõ biết tâm ấy. Do vậy, Ta nói rằng tâm kẻ phàm phu ít nghe, không tu tập được.

52. “Này các Tỷ-kheo, tâm này quang minh. Và nó được giải thoát khỏi các phiền não ngoại lai. Một vị Thánh đệ tử có học (learned noble disciple / bậc Thánh đã học hỏi Phật pháp) thật sự hiểu rõ điều này. Vì vậy, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử có học có sự tu tập tâm.”

2. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào Bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, như thật rõ biết tâm ấy. Do vậy, Ta nói rằng tâm bậc Thánh đệ tử nghe nhiều có được tu tập.

53. “Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo tu tập tâm từ (cultivates a mind of love / rèn luyện tâm yêu thương) dù chỉ trong khoảnh khắc một cái búng móng tay, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo không thiếu vắng thiền định (does not lack absorption / không thiếu sự tập trung sâu), tuân theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, lắng nghe lời khuyên bảo, và không uổng công ăn của tín thí trong xứ. Huống nữa là những vị làm cho sung mãn tâm ấy!”

3. Nếu chỉ trong khoảnh khắc búng móng tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo phát từ tâm; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Tỷ-kheo trú Thiền tịnh không có trống không, làm theo lời dạy bậc Ðạo Sư, là người làm theo giáo giới, ăn đồ ăn khất thực của xứ, không có uổng phí. Còn nói gì những người làm cho sung mãn từ tâm ấy.

54. “Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo phát triển tâm từ dù chỉ trong khoảnh khắc một cái búng móng tay, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo không thiếu vắng thiền định, tuân theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, lắng nghe lời khuyên bảo, và không uổng công ăn của tín thí trong xứ. Huống nữa là những vị làm cho sung mãn tâm ấy!”

55. “Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo chú tâm đến tâm từ dù chỉ trong khoảnh khắc một cái búng móng tay, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo không thiếu vắng thiền định, tuân theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, lắng nghe lời khuyên bảo, và không uổng công ăn của tín thí trong xứ. Huống nữa là những vị làm cho sung mãn tâm ấy!”

4-5. Nếu chỉ trong khoảnh khắc búng móng tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập từ tâm, tác ý từ tâm; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Tỷ-kheo trú Thiền tịnh không có trống không, làm theo lời dạy bậc Ðạo Sư, là người làm theo giáo giới, ăn đồ ăn khất thực của xứ không có uổng phí. Còn nói gì những người làm cho sung mãn từ tâm ấy.

56. “Này các Tỷ-kheo, tác ý (intention / chủ ý, ý định) dẫn đầu tất cả các pháp nào là bất thiện (unskillful / không tốt, không lành mạnh), thuộc về phần bất thiện, nghiêng về phía bất thiện. Tác ý là pháp đầu tiên sinh khởi trong số các pháp ấy, và các pháp bất thiện theo sau ngay đó.”

6. Phàm những pháp nào, này các Tỷ-kheo, là bất thiện, thuộc thành phần bất thiện, đứng về phía bất thiện, tất cả các pháp ấy đều được ý đi trước. Ý khởi trước các pháp ấy. Các pháp bất thiện theo sau.

57. “Này các Tỷ-kheo, tác ý dẫn đầu tất cả các pháp nào là thiện (skillful / tốt, lành mạnh), thuộc về phần thiện, nghiêng về phía thiện. Tác ý là pháp đầu tiên sinh khởi trong số các pháp ấy, và các pháp thiện theo sau ngay đó.”

7. Phàm những pháp nào, này các Tỷ-kheo, là thiện, thuộc thành phần thiện, đứng về phía thiện, tất cả các pháp ấy đều được ý đi trước. Ý khởi trước các pháp ấy. Các pháp thiện theo sau.

58. “Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một pháp nào khác làm cho các pháp bất thiện (unskillful qualities / những điều không tốt) sinh khởi, hay làm cho các pháp thiện (skillful qualities / những điều tốt) suy giảm như sự phóng dật (negligence / sự lơ là, không chú tâm, sao nhãng). Khi phóng dật, các pháp bất thiện sinh khởi và các pháp thiện suy giảm.”

8. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như phóng dật. Với người phóng dật, này các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.

59. “Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một pháp nào khác làm cho các pháp thiện sinh khởi, hay làm cho các pháp bất thiện suy giảm như sự tinh tấn (diligence / sự chuyên cần, nỗ lực, siêng năng). Khi tinh tấn, các pháp thiện sinh khởi và các pháp bất thiện suy giảm.”

9. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như không phóng dật. Với người không phóng dật, này các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.

60. “Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một pháp nào khác làm cho các pháp bất thiện sinh khởi, hay làm cho các pháp thiện suy giảm như sự lười biếng (laziness / sự biếng nhác). Khi lười biếng, các pháp bất thiện sinh khởi và các pháp thiện suy giảm.”

10. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như biếng nhác. Với người biếng nhác, này các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn