Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về các Vấn đề Tranh tụng

AN 2.11–20 Phẩm Tranh tụng

11. "Này các Tỷ-kheo, có hai loại năng lực này. Thế nào là hai? Phản tỉnh lực (power of reflection / năng lực quán xét) và tu tập lực (power of development / năng lực tu tập). Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phản tỉnh lực? Đó là khi một người quán xét như sau: ‘Ác hạnh về thân, khẩu, hay ý có kết quả xấu ác, đau khổ trong đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ ác hạnh về thân, khẩu, ý, và tu tập thiện hạnh về thân, khẩu, ý, giữ cho tự thân trong sạch. Đây gọi là phản tỉnh lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập lực? Trong trường hợp này, tu tập lực là năng lực của các bậc hữu học (trainees / người còn đang tu học). Vì khi nương tựa vào năng lực của bậc hữu học, vị ấy từ bỏ tham, sân, và si. Khi ấy, vị ấy không làm điều gì bất thiện (unskillful / điều không tốt, không thiện lành), hay thực hành điều gì xấu ác. Đây gọi là tu tập lực. Đó là hai loại năng lực."

II. Phẩm Tranh Luận

1-10 Các Sức Mạnh

1.-- Có hai sức mạnh, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Sức mạnh tư sát và sức mạnh tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sức mạnh tư sát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tư sát như sau: “Với thân làm ác, quả dị thục là ác, ngay hiện tại và trong đời sau. Với miệng nói ác, quả dị thục là ác, ngay trong hiện tại và trong đời sau. Với ý nghĩ ác, quả dị thục là ác, ngay trong hiện tại và trong đời sau”. Vị ấy, tư sát như vậy, từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm thiện, từ bỏ miệng nói ác, tu tập miệng nói thiện, từ bỏ ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ thiện, tư xử sự thật thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tư sát.

Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là sức mạnh tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, sức mạnh tu tập tức là sức mạnh của người hữu học. Do sức mạnh tu học, vị ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si. Sau khi từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, vị ấy không làm các điều bất thiện, không phục vụ các điều ác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tu tập. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai sức mạnh.

12. "Này các Tỷ-kheo, có hai loại năng lực này. Thế nào là hai? Phản tỉnh lựctu tập lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phản tỉnh lực? Đó là khi một người quán xét như sau: ‘Ác hạnh về thân, khẩu, hay ý có kết quả xấu ác, đau khổ trong đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ ác hạnh về thân, khẩu, ý, và tu tập thiện hạnh về thân, khẩu, ý, giữ cho tự thân trong sạch. Đây gọi là phản tỉnh lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập lực? Đó là khi một vị Tỷ-kheo tu tập thất giác chi (awakening factors / bảy yếu tố giác ngộ) là: niệm (mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ), trạch pháp (investigation of principles / sự phân tích, thẩm sát giáo pháp), tinh tấn (energy / sự nỗ lực, siêng năng), hỷ (rapture / niềm vui thích, hân hoan), khinh an (tranquility / sự nhẹ nhàng, an tĩnh của thân và tâm), định (immersion / sự tập trung tâm ý, thiền định), và xả (equanimity / sự bình tâm, không thiên vị); các pháp này y cứ vào viễn ly (seclusion / sự xa lánh), ly tham (fading away / sự từ bỏ tham ái), đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt khổ đau), và chín muồi trong sự từ bỏ (letting go / sự buông bỏ). Đây gọi là tu tập lực. Đó là hai loại năng lực."

2. Này các Tỷ kheo, có hai sức mạnh. Thế nào là hai? Sức mạnh tư sát và sức mạnh tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sức mạnh tư sát? … (như trên) … Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tư sát.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sức mạnh tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm Niệm giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tu tập Trạch pháp giác chi … tu tập Tinh tấn giác chi … tu tập Hỷ giác chi … tu tập Khinh an giác chi … tu tập Ðịnh giác chi … tu tập Xả giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tu tập. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai sức mạnh.

13. "Này các Tỷ-kheo, có hai loại năng lực này. Thế nào là hai? Phản tỉnh lựctu tập lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phản tỉnh lực? Đó là khi một người quán xét như sau: ‘Ác hạnh về thân, khẩu, hay ý có kết quả xấu ác, đau khổ trong đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ ác hạnh về thân, khẩu, ý, và tu tập thiện hạnh về thân, khẩu, ý, giữ cho tự thân trong sạch. Đây gọi là phản tỉnh lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập lực? Đó là khi một vị Tỷ-kheo, ly dục (sensual pleasures / ham muốn thế gian), ly bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm không tốt), chứng và trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), một trạng thái có hỷ lạc (rapture and bliss / niềm vui và hạnh phúc) do ly dục sinh, với tầm (placing the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng). Sau khi làm lắng dịu tầmtứ, vị ấy chứng và trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai), một trạng thái có hỷ lạc do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm (internal clarity and mind at one / sự yên lặng bên trong và tâm hợp nhất), không tầm không tứ. Và do ly hỷ (fading away of rapture / sự lìa bỏ niềm vui thích), vị ấy chứng và trú tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba), nơi vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác (aware / sự biết rõ, nhận thức rõ ràng), thân cảm sự lạc (bliss / hạnh phúc, sự an lạc) mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Xả niệm trú lạc’. Do xả lạc, xả khổ (pain / sự đau khổ), diệt ưu (sadness / sự buồn rầu) hỷ đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh (pure / sự trong sạch, tinh khiết). Đây gọi là tu tập lực. Đó là hai loại năng lực."

3. Này càc Tỷ kheo, có hai sức mạnh… (như số 1 ở trên). Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sức mạnh tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tu tập. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai sức mạnh.

14. “Này các Tỷ-kheo, Như Lai có hai cách thuyết Pháp. Thế nào là hai? Tóm tắt và chi tiết. Đó là hai cách thuyết Pháp của Như Lai.”

4. Có hai cách thuyết pháp này của Như Lai, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Lược thuyết và rộng thuyết. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai cách thuyết pháp của Như Lai.

15. "Này các Tỷ-kheo, trong một vấn đề tranh tụng, nếu cả Tỷ-kheo phạm lỗi lẫn Tỷ-kheo tố cáo đều không tự mình thẩm xét kỹ lưỡng, thì có thể đoán chắc rằng vấn đề đó sẽ dẫn đến sự cay đắng và thù hận lâu dài, và các Tỷ-kheo sẽ không sống được an ổn. Nhưng trong một vấn đề tranh tụng, nếu cả Tỷ-kheo phạm lỗi và Tỷ-kheo tố cáo đều tự mình thẩm xét kỹ lưỡng, thì có thể đoán chắc rằng vấn đề đó sẽ không dẫn đến sự cay đắng và thù hận lâu dài, và các Tỷ-kheo sẽ sống được an ổn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo phạm lỗi tự mình thẩm xét kỹ lưỡng? Tỷ-kheo phạm lỗi quán xét: ‘Ta đã phạm một lỗi bất thiện nào đó về thân. Vị Tỷ-kheo kia đã thấy ta làm việc này. Nếu ta không phạm lỗi đó, vị ấy đã không thấy ta. Nhưng vì ta đã phạm lỗi đó, nên vị ấy đã thấy ta. Khi thấy ta, vị ấy đã khó chịu, và đã nói ra sự không hài lòng với ta. Rồi ta cũng bực mình, nên ta đã nói lại với người khác. Vậy lỗi lầm này chỉ do nơi ta, như người mang hàng hóa phải chịu thuế vậy.’ Này các Tỷ-kheo, đó là cách Tỷ-kheo phạm lỗi tự mình thẩm xét kỹ lưỡng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tố cáo tự mình thẩm xét kỹ lưỡng? Tỷ-kheo tố cáo quán xét: ‘Vị Tỷ-kheo này đã phạm một lỗi bất thiện nào đó về thân. Ta đã thấy vị ấy làm điều đó. Nếu vị ấy không phạm lỗi đó, ta đã không thấy vị ấy. Nhưng vì vị ấy đã phạm lỗi đó, nên ta đã thấy vị ấy. Khi thấy vị ấy, ta đã khó chịu, và ta đã nói ra sự không hài lòng với vị ấy. Rồi vị ấy cũng bực mình, nên đã nói lại với người khác. Vậy lỗi lầm này chỉ do nơi ta, như người mang hàng hóa phải chịu thuế vậy.’ Này các Tỷ-kheo, đó là cách Tỷ-kheo tố cáo tự mình thẩm xét kỹ lưỡng.

Trong một vấn đề tranh tụng, nếu cả Tỷ-kheo phạm lỗi lẫn Tỷ-kheo tố cáo đều không tự mình thẩm xét kỹ lưỡng, thì có thể đoán chắc rằng vấn đề đó sẽ dẫn đến sự cay đắng và thù hận lâu dài, và các Tỷ-kheo sẽ không sống được an ổn. Nhưng trong một vấn đề tranh tụng, nếu cả Tỷ-kheo phạm lỗi và Tỷ-kheo tố cáo đều tự mình thẩm xét kỹ lưỡng, thì có thể đoán chắc rằng vấn đề đó sẽ không dẫn đến sự cay đắng và thù hận lâu dài, và các Tỷ-kheo sẽ sống được an ổn."

5. Trong bất cứ tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, không có tự mình khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy được chờ đợi là sẽ đưa đến kéo dài, gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống không được an lạc. Và trong bất cứ cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, có tự mình khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là không đưa đến kéo dài, gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống được an lạc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, khéo tự mình quán sát lấy mình? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội quán sát như sau: “Ta phạm một tội bất thiện về thân. Tỷ-kheo ấy đã thấy ta phạm tội bất thiện về thân. Nếu ta không phạm tội bất thiện về thân, Tỷ-kheo ấy sẽ không thấy ta phạm tội bất thiện về thân. Do vì ta có phạm một tội bất thiện về thân, do vậy, Tỷ-kheo ấy thấy ta có phạm tội bất thiện về thân. Thấy ta có phạm tội bất thiện về thân, Tỷ-kheo ấy không được hoan hỷ. Vì không hoan hỷ, Tỷ-kheo ấy nói với ta lời không hoan hỷ. Vì ta bị Tỷ-kheo ấy nói lời không hoan hỷ, nên ta không hoan hỷ. Do ta không hoan hỷ, ta nói cho các người khác biết. Như vậy, ở đây tội phạm chinh phục ta như trường hợp người phải trả thuế hàng hóa của mình”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo phạm tôi tự khéo tự mình quán sát lấy mình.

Và thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội khéo tự mình quán sát lấy mình? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội quán sát như sau: “Tỷ-kheo phạm một tội bất thiện về thân. Ta đã thấy Tỷ-kheo ấy phạm một tội bất thiện về thân. Nếu Tỷ-kheo này không phạm tội bất thiện về thân, thời ta đã không thấy Tỷ-kheo ấy phạm tội bất thiện về thân. Do vì Tỷ-kheo này có phạm một tội bất thiện về thân, do vậy Ta thấy Tỷ-kheo này phạm tội bất thiện về thân. Và sau khi thấy Tỷ-kheo này phạm tội bất thiện về thân, ta không hoan hỷ. Do ta không hoan hỷ, ta nói cho Tỷ-kheo này biết lời không hoan hỷ. Vì Tỷ-kheo này bị ta nói lời không hoan hỷ, nên không hoan hỷ. Vì không hoan hỷ, vị ấy nói cho các người khác biết. Như vậy, ở đây tội phạm chinh phục ta, như trường hợp người phải trả thuế hàng hóa của mình”. Như vậy, Tỷ-kheo buộc tội khéo tự mình quán sát lấy mình.

Trong bất cứ tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, không tự mình khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy được chờ đợi là sẽ đưa đến kéo dài, gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống không được an lạc. Và trong bất cứ cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, có tự mình khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là không đưa đến kéo dài, gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống được an lạc.

16. Bấy giờ, một vị Bà-la-môn đi đến chỗ Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Do nhân gì, duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi dữ (place of loss / cảnh giới xấu), ác thú (bad place / nơi tái sinh xấu ác), đọa xứ (underworld / nơi sa đọa), địa ngục (hell / nơi đau khổ cùng cực)?”

“Do hành vi phi pháp (unprincipled / không đúng Chánh pháp), phi giới (immoral / không đúng giới luật) là nhân duyên khiến một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

“Do nhân gì, duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào thiện thú (good place / nơi tái sinh tốt đẹp), thiên giới (heavenly realm / cõi trời)?”

“Do hành vi đúng pháp (principled / đúng Chánh pháp), đúng giới (moral / đúng giới luật) là nhân duyên khiến một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào thiện thú, thiên giới.”

“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay! Ví như lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn vào bóng tối để người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, Tôn giả Gotama đã dùng nhiều phương tiện trình bày Chánh pháp. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Kể từ hôm nay, mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y trọn đời.”

6. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sanh khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

− Do nhân phi pháp hành và bất bình đẳng hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này?

− Do nhân pháp hành và bình đẳng hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng! Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

17. Bấy giờ, Bà-la-môn Jānussoṇi đi đến chỗ Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Do nhân gì, duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?”

“Do những gì họ đã làm và những gì họ không làm. Đó là lý do một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

“Nhưng do nhân gì, duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào thiện thú, thiên giới?”

“Do những gì họ đã làm và những gì họ không làm. Đó là lý do một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào thiện thú, thiên giới.”

“Con không hiểu ý nghĩa lời Tôn giả Gotama nói tóm tắt mà không giải thích chi tiết. Xin Tôn giả Gotama giảng giải chi tiết vấn đề này để con có thể hiểu rõ ý nghĩa.”

“Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Jānussoṇi đáp. Đức Phật nói như sau:

“Thứ nhất, này Bà-la-môn, có người đã làm điều ác, không làm điều thiện qua thân, khẩu, ý. Do những gì họ đã làm và những gì họ không làm, nên một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hơn nữa, này Bà-la-môn, có người đã làm điều thiện, không làm điều ác qua thân, khẩu, ý. Do những gì họ đã làm và những gì họ không làm, nên một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào thiện thú, thiên giới.”

“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Kể từ hôm nay, mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y trọn đời.”

7. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

− Do vì có làm, này Bà-la-môn, do vì không làm. Như vậy, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này?

− Do vì có làm, này Bà-la-môn, do vì không làm. Như vậy, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.

− Thưa Tôn giả Gotama, lời nói vắn tắt không giảng rộng của Tôn giả Gotama, con không được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt không giảng rộng của Tôn giả Gotama.

− Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế Tôn:

− Thưa vâng, Tôn giả

Thế Tôn nói như sau:

− Ở đây, này Bà-la-môn, có người thân làm ác, thân không làm thiện, miệng nói ác, miệng không nói thiện, ý nghĩ ác, ý không nghĩ thiện. Như vậy, này Bà-la-môn, do làm và do không làm như vậy, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Lại ở đây, này Bà-la-môn, có một số chúng sanh thân làm thiện, thân không làm ác, miệng nói thiện, miệng không nói ác, ý nghĩ thiện, ý không nghĩ ác. Như vậy, này Bà-la-môn, do làm và do không làm như vậy, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

18. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả: “Này Ānanda, Ta tuyệt đối nói rằng không nên làm điều ác qua thân, khẩu, ý.”

“Nhưng, bạch Thế Tôn, nếu có người làm những điều không nên làm này, họ phải đối mặt với những nguy hại nào?”

“Họ phải đối mặt với những nguy hại này: Tự mình khiển trách mình. Sau khi xem xét, người trí sẽ chê trách. Tiếng xấu đồn xa. Khi lâm chung, tâm bị mê loạn. Và sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đó là những nguy hại họ phải đối mặt.”

“Này Ānanda, Ta tuyệt đối nói rằng nên làm điều thiện qua thân, khẩu, ý.”

“Nhưng, bạch Thế Tôn, nếu có người làm những điều nên làm này, họ sẽ nhận được những lợi ích nào?”

“Họ sẽ nhận được những lợi ích này: Tự mình không khiển trách mình. Sau khi xem xét, người trí sẽ tán thán. Tiếng tốt đồn xa. Khi lâm chung, tâm không mê loạn. Và sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào thiện thú, thiên giới. Đó là những lợi ích họ sẽ nhận được.”

8. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:

− Ta tuyên bố một cách dứt khoát rằng, này Ananda, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm.

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy, thời có những nguy hại gì được chờ đợi?

− Vì rằng này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy, thời có những nguy hại như sau được chờ đợi: Tự mình chê trách mình; sau khi được biết, kẻ trí chê trách, tiếng ác đồn xa, bị mê ám khi mạng chung; sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Vì thế, này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy, thời có những nguy hại như vậy được chờ đợi.

− Ta tuyên bố một cách dứt khoát rằng, này Ananda, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm.

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy, thời có những lợi ích gì được chờ đợi?

− Vì rằng này Ananda, Ta dã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy, thời có những lợi ích như sau được chờ đợi: Tự mình không chê trách mình; sau khi được biết, kẻ trí tán thán, tiếng lành đồn xa, không bị mê ám khi mạng chung; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này. Vì thế, này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy, thời có những lợi ích như vậy được chờ đợi.

19. "Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện. Việc này có thể làm được. Nếu không thể làm được, Ta đã không nói: ‘Hãy từ bỏ bất thiện.’ Nhưng vì có thể làm được, nên Ta nói: ‘Hãy từ bỏ bất thiện.’ Và nếu việc từ bỏ bất thiện đưa đến tai hại và đau khổ, Ta đã không nói: ‘Hãy từ bỏ bất thiện.’ Nhưng vì việc từ bỏ bất thiện đưa đến lợi ích và an lạc, nên Ta nói: ‘Hãy từ bỏ bất thiện.’

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện (skillful / điều tốt, điều thiện lành). Việc này có thể làm được. Nếu không thể làm được, Ta đã không nói: ‘Hãy tu tập thiện.’ Nhưng vì có thể làm được, nên Ta nói: ‘Hãy tu tập thiện.’ Nếu việc tu tập thiện đưa đến tai hại và đau khổ, Ta đã không nói: ‘Hãy tu tập thiện.’ Nhưng vì việc tu tập thiện đưa đến lợi ích và an lạc, nên Ta nói: ‘Hãy tu tập thiện.’"

9. Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện, này các Tỷ-kheo, từ bỏ bất thiện có thể làm được. Nếu từ bỏ bất thiện không thể làm được thời ta đã không nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện”. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, từ bỏ bất thiện có thể làm được, do vậy Ta mới nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện”. Và nếu, này các Tỷ-kheo, từ bỏ bất thiện đưa đến bất hạnh, đau khổ, thời ta không nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện”. Và này các Tỷ-kheo, vì từ bỏ bất thiện đưa đến hạnh phúc, an lạc, nên Ta đã nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện”.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện. Này các Tỷ-kheo, tu tập thiện có thể làm được. Nếu tu tập thiện không thể làm được, này các Tỳ kheo, thời ta đã không nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện”. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tu tập thiện có thể làm được, do vậy Ta mới nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện”. Và nếu, này các Tỷ-kheo, tu tập thiện đưa đến bất hạnh, đau khổ, thời ta đã không nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện”. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, tu tập thiện đưa đến hạnh phúc, an lạc, nên Ta đã nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thiện”.

20. "Này các Tỷ-kheo, có hai điều này đưa đến sự suy vong và biến mất của Chánh pháp (true teaching / giáo lý chân chính của Đức Phật). Thế nào là hai? Văn cú bị đặt sai lệch, và ý nghĩa bị giải thích sai lạc. Khi văn cú bị đặt sai lệch, thì ý nghĩa bị giải thích sai lạc. Hai điều này đưa đến sự suy vong và biến mất của Chánh pháp.

10. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự hỗn loạn (mê mờ) và biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú bị đảo ngược và ý nghĩa bị hiểu lầm. Nếu văn cú bị đảo ngược thời ý nghĩa bị hiểu lầm. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến hỗn loạn và biến mất của diệu pháp.

Có hai điều này đưa đến sự tồn tại, duy trì và trường tồn của Chánh pháp. Thế nào là hai? Văn cú được sắp xếp khéo léo, và ý nghĩa được giải thích đúng đắn. Khi văn cú được sắp xếp khéo léo, thì ý nghĩa được giải thích đúng đắn. Hai điều này đưa đến sự tồn tại, duy trì và trường tồn của Chánh pháp."

11. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến an trú, không biến loạn, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú phối trí chơn chánh và ý nghĩa được hiểu chơn chánh. nếu văn cú được phối trí chơn chánh thời ý nghĩa được hiểu chơn chánh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến an trú, không hỗn loạn, không biến mất của diệu pháp.