Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Kẻ Ngu

AN 2.21–31 Bālavagga

21. "Này các Tỳ kheo, có hai hạng người ngu. Thế nào là hai? Người không nhận ra khi mình phạm lỗi. Và người không chấp nhận đúng pháp lời thú tội của người đã phạm lỗi. Đó là hai hạng người ngu.

Có hai hạng người trí. Thế nào là hai? Người nhận ra khi mình phạm lỗi. Và người chấp nhận đúng pháp lời thú tội của người đã phạm lỗi. Đó là hai hạng người trí."

III. Phẩm Người Ngu

1-10

1. - Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này. Thế nào là hai? Người có phạm tội nhưng không thấy có phạm tội, và người không chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này.

Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí. Thế nào là hai? Người có phạm tội là thấy có phạm tội, và người chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí này.

22. “Này các Tỳ kheo, hai hạng người này xuyên tạc Như Lai (Realized One / Bậc Giác Ngộ). Thế nào là hai? Người có lòng sân hận nhưng che giấu, và người có lòng tin sai lệch. Hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”

2. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.

23. "Này các Tỳ kheo, hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người giải thích điều Như Lai không nói là Như Lai nói. Và người giải thích điều Như Lai nói là Như Lai không nói. Hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.

3. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.

Hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người giải thích điều Như Lai không nói là Như Lai không nói. Và người giải thích điều Như Lai nói là Như Lai nói. Hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai."

4. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai có nói, có thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai không nói, không thuyết. có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai

24. “Này các Tỳ kheo, hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nói kinh cần giải thích (discourse in need of interpretation / kinh cần được giải thích thêm) là kinh nghĩa rõ ràng (discourse whose meaning is explicit / kinh có nghĩa hiển nhiên). Và người nói kinh nghĩa rõ ràng là kinh cần giải thích. Hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”

5. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩ là kinh cần phải giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai.

25. “Hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người giải thích kinh cần giải thích là kinh cần giải thích. Và người giải thích kinh nghĩa rõ ràng là kinh nghĩa rõ ràng. Hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai.”

6. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩ là kinh đã được giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai.

26. "Này các Tỳ kheo, người gian xảo có thể trông đợi một trong hai cảnh giới: địa ngục hoặc súc sinh.

Người thẳng thắn có thể trông đợi một trong hai cảnh giới: làm chư thiên hoặc làm người."

7. Với người có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay bàng sanh. Với người không có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.

27. “Này các Tỳ kheo, người có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm) có thể trông đợi một trong hai cảnh giới: địa ngục hoặc súc sinh.”

28. “Này các Tỳ kheo, người có chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn) có thể trông đợi một trong hai cảnh giới: làm chư thiên hoặc làm người.”

29. "Có hai nơi chờ đón người ác giới (unethical person / người không giữ giới): địa ngục và cảnh giới súc sinh.

Có hai nơi chờ đón người trì giới (ethical person / người giữ giới): cảnh giới chư thiên và loài người."

8. Với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay loại bàng sanh.

Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.

Người theo ác giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: địa ngục hay loài bàng sanh. Người đầy đủ thiện giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: chư Thiên và loài Người.

30. “Này các Tỳ kheo, Ta thấy có hai lý do để thường lui tới những chỗ ở nơi hoang vắng, rừng núi. Thế nào là hai? Thấy được hạnh phúc cho bản thân trong đời này, và có lòng thương tưởng đến thế hệ sau. Ta thấy có hai lý do này để thường lui tới những chỗ ở nơi hoang vắng, rừng núi.”

9. Do quán thấy hai lợi ích, này các Tỷ-kheo, Ta đi đến ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng. Thế nào là hai? Thấy tự mình hiện tại lạc trú, và có lòng thương tưởng đến những chúng sanh về sau. Do quán thấy hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, nên Ta đi đến các ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng.

31. "Hai pháp này dẫn đến sự giác ngộ. Thế nào là hai? Chỉ (serenity / sự tĩnh lặng, định tâm) và quán (discernment / sự quán chiếu, tuệ giác).

Lợi ích của việc tu tập chỉ là gì? Tâm được tu tập. Lợi ích của việc tu tập tâm là gì? Tham (greed / lòng tham) được từ bỏ.

Lợi ích của việc tu tập quán là gì? Trí tuệ được tu tập. Lợi ích của việc tu tập trí tuệ là gì? Vô minh (ignorance / sự thiếu hiểu biết, si mê) được từ bỏ.

Tâm bị tham ô nhiễm thì không được giải thoát; và trí tuệ bị vô minh ô nhiễm thì không phát triển. Như vậy, tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) đến từ sự đoạn tận tham ái, còn tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) đến từ sự đoạn tận vô minh."

10. Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỷ-kheo, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được tu tập. Do vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát