Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Tâm An Tịnh

AN 2.32–41 Samacittavagga (Phẩm Tâm An Tịnh)

32. “Này các Tỳ kheo (Mendicants / vị khất sĩ, vị sư), Ta sẽ giảng cho các thầy về cảnh giới của phi chân nhân và cảnh giới của chân nhân (level of the untrue person and the level of the true person / trạng thái của người xấu và trạng thái của người tốt). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” các vị Tỳ kheo ấy vâng đáp Đức Phật. Đức Phật dạy điều này:

“Thế nào là cảnh giới của phi chân nhân (untrue person / người xấu)? Phi chân nhân là người vong ơn, bội nghĩa (ungrateful and thankless / không biết ơn, phụ bạc), vì kẻ ác chỉ biết vong ơn, bội nghĩa. Hoàn toàn là cảnh giới của phi chân nhân khi là người vong ơn, bội nghĩa. Chân nhân (true person / người tốt) là người biết ơn, đền ơn (grateful and thankful / biết ơn, nhớ ơn), vì người đức hạnh chỉ biết biết ơn, đền ơn. Hoàn toàn là cảnh giới của chân nhân khi là người biết ơn, đền ơn.”

IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng

1-11 Ðất

1.- Này các Tỷ-kheo, ta sẽ giảng cho các Thầy về địa vị bậc không phải Chân nhân và địa vị bậc Chân nhân. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các Tỷ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.

33. "Này các Tỳ kheo, Ta nói rằng có hai hạng người này khó có thể đền ơn được. Hai hạng người nào? Mẹ và cha.

Dù cho có người vai trái cõng mẹ, vai phải cõng cha, đi như vậy suốt một trăm năm; dù có săn sóc, xoa bóp, tắm rửa, đấm bóp cho cha mẹ; và dù cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện ngay trên vai mình đi nữa, người ấy cũng chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ.

Dù có tôn cha mẹ lên làm vua chúa tối cao của quả đất rộng lớn này, đầy đủ thất bảo (seven treasures / bảy báu vật), người ấy cũng vẫn chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ. Tại sao vậy? Cha mẹ rất có công với con cái: nuôi nấng, dưỡng dục, và giới thiệu cho con cái biết thế giới này.

Nhưng nếu người con nào khuyến khích, làm cho an trú, và xác lập cha mẹ chưa có tín (faith / niềm tin) vào tín; cha mẹ chưa có giới (ethical conduct / đạo đức, giới hạnh) vào giới; cha mẹ keo kiệt vào thí (generosity / sự bố thí, rộng rãi); hoặc cha mẹ ngu dốt vào tuệ (wisdom / trí tuệ), thì người ấy đã làm đủ, hơn cả đủ, để đền ơn cha mẹ."

2. Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú, các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.

34. Khi ấy, một vị Bà-la-môn đi đến chỗ Đức Phật, chào hỏi xã giao với Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: “Thưa Tôn giả Gotama, ngài dạy điều gì? Ngài giải thích điều gì?”

“Này Bà-la-môn, Ta dạy về hành động và không hành động (action and inaction).”

“Nhưng Tôn giả Gotama dạy về hành động và không hành động theo cách nào?”

“Ta dạy không hành động đối với thân, khẩu, ý ác (bad bodily, verbal, and mental conduct / hành động xấu ác qua thân, lời, ý), và nhiều loại bất thiện pháp (unskillful things / các pháp bất thiện, điều xấu ác). Ta dạy hành động đối với thân, khẩu, ý thiện (good bodily, verbal, and mental conduct / hành động tốt lành qua thân, lời, ý), và nhiều loại thiện pháp (skillful things / các pháp thiện, điều tốt lành). Đó là loại hành và phi hành mà Ta dạy.”

“Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ tại gia (lay follower / người tại gia theo đạo Phật) đã quy y (gone for refuge / nương tựa) trọn đời.”

3. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm… ngồi xuống một bên. Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama đã nói gì, đã thuyết gì?

− Này Bà-la-môn, Ta thuyết về hành động và Ta thuyết về không hành động.

− Như thế nào, Tôn giả Gotama thuyết về hành động và thuyết về không hành động?

− Ta thuyết không hành động, này Bà-la-môn, đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Ta thuyết không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Ta thuyết hành động, này Bà-la-môn, đối với thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Ta thuyết hành động đối với nhiều loại pháp thiện. Như vậy, này Bà-la-môn, ta thuyết về hành động và thuyết về không hành động.

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

35. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, trên đời có bao nhiêu người xứng đáng nhận cúng dường tôn giáo? Và nên bố thí ở đâu?”

“Này gia chủ, trên đời có hai hạng người xứng đáng nhận cúng dường tôn giáo: bậc hữu học (trainee / bậc còn phải học) và bậc vô học (adept / bậc không còn phải học, A-la-hán). Hai hạng người này trên đời là ứng cúng (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận cúng dường), và đó là nơi ông nên bố thí.”

Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Rồi bậc Thánh, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Trên đời này, bậc hữu học và bậc vô học,
Xứng đáng nhận phẩm vật cúng dường.
Các vị ấy chân chánh trong thân,
Lời nói, và tâm ý.
Đây là phước điền (field for sponsors of sacrifice / ruộng phước) cho người cúng dường—
Những gì được cho ở đây có quả lớn (very fruitful / kết quả to lớn).”

4. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Anàthapindika bạch Thế Tôn:

− Có bao nhiêu người, bạch Thế Tôn, đáng được cúng dường ở đời? Và chỗ nào cần phải bố thí cúng dường.

− Có hai hạng người, này gia chủ, đáng được cúng dường ở đời: Hữu học và vô học. Ðối với hai hạng người này đáng được cúng dường ở đời, này gia chủ, ở đây cần phải bố thí cúng dường.

Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm: Hữu học và vô học Cả hai ở trong đời Ðều đáng được cúng dường Ðối với người dâng lễ Họ giữ thân chánh trực Cả lời nói ý nghĩ Phước điền người dâng cúng Ðây thí có quả lớn.

36. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong vườn ông Jeta (Kỳ-đà), tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đang trú gần Sāvatthī, tại Đông Viên, trong giảng đường của mẹ Migāra (Lộc Mẫu). Tại đó, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ kheo: “Chư hiền Tỳ kheo!”

“Thưa hiền giả,” các vị ấy đáp lời. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

“Tôi sẽ giảng cho chư hiền về người bị nội kết sử (fettered internally / bị trói buộc bên trong) và người bị ngoại kết sử (fettered externally / bị trói buộc bên ngoài). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa hiền giả,” các vị ấy đáp lời. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

"Ai là người bị nội kết sử? Đó là vị Tỳ kheo trì giới (ethical / giữ giới), phòng hộ trong giới bổn Pāṭimokkha (restrained in the monastic code / thu thúc trong giới luật), có oai nghi chánh hạnh (conducting themselves well / oai nghi tốt đẹp), khất thực đúng nơi, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt (seeing danger in the slightest fault / thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ), thọ trì học giới (keep the rules they’ve undertaken / giữ gìn giới đã nhận). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, vị ấy được tái sinh (reborn / sinh lại) vào một trong các cõi Chư Thiên (orders of gods / cõi trời). Khi mạng chung (pass away / chết, qua đời) ở đó, vị ấy là bậc Nhất lai (returner / bậc Tư-đà-hàm, người trở lại một lần), sẽ trở lại nơi này. Đây gọi là người bị nội kết sử, bậc Nhất lai, sẽ trở lại nơi này.

Ai là người bị ngoại kết sử? Đó là vị Tỳ kheo trì giới, phòng hộ trong giới bổn Pāṭimokkha, có oai nghi chánh hạnh, khất thực đúng nơi, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì học giới. Vị ấy chứng và trú một định tâm giải thoát (peaceful state of freed mind / trạng thái tâm giải thoát an tịnh) nào đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, vị ấy được tái sinh vào một trong các cõi Chư Thiên. Khi mạng chung ở đó, vị ấy là bậc Bất lai (non-returner / bậc A-na-hàm, người không trở lại), không trở lại nơi này. Đây gọi là người bị ngoại kết sử, bậc Bất lai, không trở lại nơi này.

Lại nữa, một vị Tỳ kheo trì giới… thọ trì học giới. Vị ấy chỉ thực hành hướng đến yểm ly (disillusionment / sự nhàm chán, chán lìa), ly tham (dispassion / sự lìa bỏ tham ái), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt) đối với dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan). Vị ấy chỉ thực hành hướng đến yểm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với các hữu (future lives / sự tồn tại, kiếp sống tương lai). Vị ấy thực hành để chấm dứt ái (craving / tham ái, khát ái). Vị ấy thực hành để chấm dứt tham (greed / lòng tham). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, vị ấy được tái sinh vào một trong các cõi Chư Thiên. Khi mạng chung ở đó, vị ấy là bậc Bất lai, không trở lại nơi này. Đây gọi là người bị ngoại kết sử, bậc Bất lai, không trở lại nơi này."

Khi ấy, một số vị Samacitta devatā (peaceful-minded deities / chư thiên có tâm an tịnh) đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, đứng sang một bên và thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đang ở tại Đông Viên, trong giảng đường của mẹ Migāra, nơi ngài đang giảng cho các Tỳ kheo về người có nội kết sử và người có ngoại kết sử. Hội chúng (assembly / chúng hội, tăng đoàn) rất hoan hỷ! Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng thương tưởng (sympathy / lòng bi mẫn) mà đến chỗ Tôn giả Sāriputta.” Đức Phật đã im lặng nhận lời (consented with silence / im lặng đồng ý).

Rồi Đức Phật, nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi vườn Jeta và hiện ra tại Đông Viên, trong giảng đường của mẹ Migāra, trước mặt Tôn giả Sāriputta. Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Sāriputta đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả:

"Này Sāriputta, vừa rồi, một số vị chư thiên có tâm an tịnh đã đến chỗ Ta, đảnh lễ và đứng sang một bên. Các vị chư thiên ấy thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đang ở tại Đông Viên, trong giảng đường của mẹ Migāra, nơi ngài đang giảng cho các Tỳ kheo về người có nội kết sử và người có ngoại kết sử. Hội chúng rất hoan hỷ! Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng thương tưởng mà đến chỗ Tôn giả Sāriputta.’

Những vị chư thiên ấy, dù có mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hay sáu mươi vị, cũng có thể đứng trên đầu một mũi kim mà không chạm vào nhau.

Này Sāriputta, thầy có thể nghĩ rằng: ‘Chắc chắn những vị chư thiên ấy, vì có thể đứng đông như vậy trên đầu mũi kim mà không chạm vào nhau, hẳn đã tu tập tâm (developed their minds / rèn luyện tâm) ở nơi đó.’ Nhưng thầy không nên thấy như vậy. Chính tại nơi này mà các vị chư thiên ấy đã tu tập tâm.

Vì vậy, các thầy nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ có các căn an tịnh (peaceful faculties / giác quan an tịnh) và tâm an tịnh (peaceful minds / tâm trí an tịnh).’ Đó là cách các thầy nên tu tập. Khi các căn và tâm của các thầy được an tịnh, các hành động của thân, khẩu, và ý của các thầy sẽ an tịnh, với suy nghĩ: ‘Chúng ta sẽ trao tặng món quà bình an cho các vị đồng phạm hạnh (spiritual companions / bạn đồng tu).’ Đó là cách các thầy nên tu tập.

Này Sāriputta, những du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / người tu theo tôn giáo khác) kia, những người chưa được nghe pháp môn (exposition of the teaching / bài giảng pháp) này, là những người bị lạc lối."

5. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở tại Sàvatthi, Thắng Lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ngôi lâu đài của mẹ Migàra. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền Tỷ-kheo!

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Này chư Hiền, tôi sẽ giảng về con người bị nội kiết sử trói buộc và vị ngoại kiết sử trói buộc. Hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Này chư Hiền, thế nào là người bị nội kiết sử trói buộc? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một trong các Thiên giới. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy làm người lại trở về, trở về ở thế giới này. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị nội kiết sử trói buộc, người lại trở lại, trở lui trạng thái này.

Thế nào, này chư Hiền, là người bị ngoại kiết sử trói buộc? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy, chứng đạt và an trú tịch tịnh tâm giải thoát. Sau khi thân hoại mạng chung, Vị ấy sanh vào một loại chư Thiên. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị ngoại kiết sử trói buộc, không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy thực hiện sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt các dục vọng. Vị ấy thực hiện sự đoạn diệt khát ái. Vị ấy thực hiện sự đoạn diệt tham. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một trong các Thiên giới. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị ngoại kiết sử trói buộc, không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa. Rồi một số đông chư Thiên với tâm thăng bằng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, chư Thiên ấy bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Sàriputta này, bạch Thế Tôn, tại Ðông viên, ở lâu đài mẹ Migàra, thuyết pháp về người bị nội kiết sử trói buộc và người bị ngoại kiết sử trói buộc. Hội chúng rất hoan hỷ, bạch Thế Tôn. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến Tôn giả Sàriputta.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn, rồi như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy, biến mất ở Thắng Lâm, hiện ra ở tại Ðông viên, tại lâu đài mẹ Migàra, trước mặt Tôn giả Sàriputta. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Tôn giả Sàriputta đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

− Ở đây, này Sàriputta, có một số đông chư Thiên, với tâm thăng bằng, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, chư Thiên ấy thưa với Ta: “Tôn giả Sàriputta này, bạch Thế Tôn, tại Ðông viên, ở lâu đài mẹ Migàra, thuyết pháp về người bị nội kiết sử trói buộc và người bị ngoại kiết sử trói buộc. Hội chúng rất hoan hỷ, bạch Thế Tôn. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến Tôn giả Sàriputta”. Này Sàriputta, chư Thiên ấy tuy con số đến 10, 20, 30, 40, 50, 60, nhưng cùng đứng chỉ trong khoảng trống đầu một cây kim, không có chen lấn nhau. Này Sàriputta, Thầy có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn, tại chỗ kia (trên thế giới) đã tu tập, nhờ vậy, chư Thiên ấy, tuy con số đến 10, 20, 30, 40, 50, 60, nhưng cùng đứng chỉ trong khoảng trống đầu một cây kim, không có chen lấn nhau”. Này Sàriputta, Thầy chớ có thấy như vậy. Chính tại đây, này Sàriputta, chư Thiên ấy đã tu tập tâm, nhờ như vậy chư Thiên ấy tuy con số đến … không chen lấn nhau. Do vậy, này Sàriputta, cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ có các căn an tịnh, các ý an tịnh”. Này Sàriputta, cần phải học tập như vậy. Với những ai có các căn an tịnh, này Sàriputta, với những ai có các ý an tịnh, thời thân nghiệp cũng sẽ được an tịnh, khẩu nghiệp được an tịnh, ý nghiệp được an tịnh. “Chúng ta sẽ đem tặng cho các vị đồng Phạm hạnh một quà tặng an tịnh”. Như vậy, này Sàriputta, các Thầy cần phải học tập. Các du sĩ ngoại đạo nào, này Sàriputta, không được nghe pháp môn này, họ sẽ bị thiệt hại.

37. Tôi nghe như vầy. Một thời Tôn giả Mahā Kaccāna (Ca-chiên-diên) trú tại Varaṇā, bên bờ hồ Kaddama.

Khi ấy, Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna, chào hỏi xã giao với ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Mahākaccāna:

“Thưa Tôn giả Kaccāna, do nhân gì, duyên gì mà các vị Sát-đế-lỵ tranh chấp với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, và gia chủ tranh chấp với gia chủ?”

“Chính vì dục thủ (insistence on sensual desire / sự chấp thủ vào dục lạc), vì triền phược (shackles / sự trói buộc), san tham (avarice / lòng bỏn xẻn), và chấp thủ (attachment / sự bám víu, chấp trước) mà các vị Sát-đế-lỵ tranh chấp với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, và gia chủ tranh chấp với gia chủ.”

“Thưa Tôn giả Kaccāna, do nhân gì, duyên gì mà các vị Sa-môn (ascetics / tu sĩ) tranh chấp với Sa-môn?”

“Chính vì kiến thủ (insistence on views / sự chấp thủ vào quan điểm, tà kiến), vì triền phược, san tham, và chấp thủ mà các vị Sa-môn tranh chấp với Sa-môn.”

“Thưa Tôn giả Kaccāna, trên đời này có ai đã vượt qua được sự chấp thủ vào dục lạc và sự chấp thủ vào quan điểm không?”

“Có đấy, này Bà-la-môn.”

“Ai trên đời này đã vượt qua được sự chấp thủ vào dục lạc và sự chấp thủ vào quan điểm?”

“Ở phương Đông có một thành phố tên là Sāvatthī. Tại đó, Thế Tôn (Blessed One / Đức Phật, Bậc tôn quý) hiện đang trú ngụ, bậc A-la-hán (perfected one / bậc xứng đáng cúng dường), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn). Này Bà-la-môn, chính Ngài đã vượt qua được sự chấp thủ vào dục lạc và sự chấp thủ vào quan điểm.”

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật và thốt lên lời cảm thán chân thành này ba lần:

"Nam mô (Homage / Kính lễ) Đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác!

Nam mô Đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác!

Nam mô Đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác!

Ngài là người đã vượt qua sự chấp thủ vào dục lạc và sự chấp thủ vào quan điểm.

Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kaccāna! Thật tuyệt vời! Như người dựng lại những gì bị đổ, hay phơi bày những gì bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được những gì ở đó, Tôn giả Kaccāna đã làm sáng tỏ Pháp (Teaching / Giáo pháp) bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỳ kheo (Mendicant Saṅgha / Chúng Tăng). Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Kaccāna ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."

6. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna ở tại Vanara, trên bờ sông Kaddamada. Rồi Bà-la-môn Aràmadanda đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Aràmadanda thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các người Sát-đế-lỵ tranh chấp với các người Sát-đế-lỵ, các người Bà-la-môn tranh chấp với các người Bà-la-môn, các người gia chủ tranh chấp với các người gia chủ?

− Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham, này Bà-lamôn, nên các quý tộc tranh chấp với các quý tộc, các người Bà-la-môn tranh chấp với các Bà La môn, các người gia chủ tranh chấp với các người gia chủ.

− Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các Sa-môn tranh chấp với các Sa-môn?

− Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham, này Bà-lamôn, nên các Sa-môn tranh chấp với các Sa-môn.

− Nhưng thưa Tôn giả Kaccàna, có người nào ở đời có thể vượt qua thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham này, có thể vượt qua thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham này?

− Có người ở đời này, này Bà-la-môn, có thể vượt qua thiên chấp, trói buộc, đắm say, xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham này, có thể vượt qua thiên chấp, trói buộc, đắm say, xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham này.

Vị ấy là ai, này các Bà-la-môn, có thể vượt qua thiên chấp … kiến tham này?

Ở quốc độ phương Ðông, này Bà-la-môn, có một thành phố tên là Sàvatthi, Tại đấy, Thế Tôn nay đang trú, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị Thế Tôn ấy, này Bà-la-môn, đã vượt qua thiên chấp … kiến tham này.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Aràmadanda từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phía hữu quỳ trên đất, chắp tay hướng về phía Thế Tôn, và nói lên ba lần lời cảm hứng như sau:

− Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Vị Thế Tôn ấy, đã vượt qua thiên chấp … kiến tham này.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Kaccàna! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Kaccàna! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, thưa Tôn giả Kaccàna, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, hay đem đèn vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Kaccàna dùng nhiều pháp môn để giải thích. Thưa Tôn giả Kaccàna, con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng! Mong Tôn giả Kaccàna chấp nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

38. Một thời Tôn giả Mahā Kaccāna trú gần Madhurā, trong rừng Gunda.

Khi ấy, Bà-la-môn Kandarāyana đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna, chào hỏi xã giao với ngài… Vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Mahākaccāna:

“Thưa Tôn giả Kaccāna, tôi nghe nói rằng Sa-môn Kaccāna không đảnh lễ các vị Bà-la-môn già cả, lớn tuổi, cao niên, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi. Và điều này quả thực là như vậy, vì Sa-môn Kaccāna không đảnh lễ các vị Bà-la-môn già cả, lớn tuổi, cao niên, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi. Điều này là không thích hợp, thưa Tôn giả Kaccāna.”

“Có địa vị trưởng lão và địa vị thanh niên (stage of an elder and the stage of youth / vị trí người lớn tuổi và vị trí người trẻ tuổi) như đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác giải thích. Nếu một người lớn tuổi, dù đã tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi, mà vẫn sống giữa dục lạc, hưởng thụ chúng, bị thiêu đốt bởi những suy nghĩ về chúng, nóng lòng vì chúng, và háo hức tìm kiếm thêm, thì người ấy được xem là một đứa trẻ, không phải là bậc trưởng lão. Nếu một người trẻ tuổi, còn son trẻ, tóc đen nhánh, đang độ thanh xuân, ở thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời, mà không sống giữa dục lạc, không hưởng thụ chúng, không bị thiêu đốt bởi những suy nghĩ về chúng, không nóng lòng vì chúng, và không háo hức tìm kiếm thêm, thì người ấy được xem là bậc trí (astute / người khôn ngoan, bậc trí tuệ), là bậc trưởng lão.”

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Kandarāyana từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt y qua một bên vai, và cúi đầu dưới chân các vị Tỳ kheo trẻ tuổi, nói rằng: "Các tôn giả là bậc trưởng lão, ở địa vị trưởng lão; chúng tôi là thanh niên, ở địa vị thanh niên.

Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kaccāna! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Kaccāna ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."

7. Một thời, Tôn giả Mahà Kaccàna trú ở Madhurà, tại rừng Gundhà. Rồi Bà-la-môn Kandaràyana đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kandaràyana thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Tôi có nghe như sau, thưa Tôn giả Kaccàna: “Sa-môn Kaccàna không kính lễ, không đứng dậy, không lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt mức cuối tuổi đời”. Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn giả Kaccàna không kính lễ, không đứng dậy, không lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả Kaccàna, là không được tốt đẹp.

− Này Bà-la-môn, có Thế Tôn, bậc Tri giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố về địa vị của tuổi trưởng lão và về địa vị của tuổi trẻ. Vị trưởng lão, này Bà-la-môn, 80 tuổi hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, nếu vị ấy thọ hưởng các dục vọng, sống giữa các dục vọng, bị đốt cháy bởi lửa nhiệt não của dục vọng, bị nhai nghiến bởi các tầm tư dục vọng, cố gắng tìm cầu các dục vọng; người như vậy được gọi là kẻ ngu, không phải là bậc trưởng lão. Dầu cho này Bà-la-môn, một người còn trẻ, một thanh niên trẻ trung với tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi trẻ hiền thiện trong thời sơ khởi của tuổi đời, mà người ấy không hưởng thọ các dục vọng, không sống giữa các dục vọng, không bị đốt cháy bởi lửa nhiệt não của dục vọng, không bị nhai nghiến bởi các tầm tư dục vọng, không có cố gắng tìm cầu các dục vọng; người như vậy được gọi là bậc có trí, bậc trưởng lão.

− Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Kandarãyana từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân các Tỷ-kheo còn trẻ tuổi và nói: − Trưởng lão là chư Tôn giả, đã đứng trên địa vị trưởng lão. Trẻ tuổi là chúng con, đã đứng trên địa vị trẻ tuổi.

Thật vi diệu, Tôn giả Kaccàna, … Mong Tôn giả Kaccàna chấp nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

39. "Vào thời điểm bọn cướp mạnh, vua chúa yếu. Khi đó, nhà vua không được an ổn khi đi ra, đi vào hay khi tuần du các tỉnh. Các Bà-la-môn và gia chủ cũng vậy, không được an ổn khi đi ra, đi vào, hay khi kiểm tra công việc kinh doanh của họ. Tương tự như vậy, vào thời điểm các Tỳ kheo xấu ác mạnh, các Tỳ kheo có tâm tốt yếu. Khi đó, các Tỳ kheo có tâm tốt thường giữ im lặng giữa Tăng đoàn, hoặc họ ở lại các vùng biên địa. Điều này dẫn đến bất hạnh và đau khổ (detriment and suffering / tổn hại và khổ đau) cho dân chúng, chống lại dân chúng, gây tổn hại, bất hạnh và đau khổ cho chư thiên và loài người.

Vào thời điểm vua chúa mạnh, bọn cướp yếu. Khi đó, nhà vua được an ổn khi đi ra, đi vào hay khi tuần du các tỉnh. Các Bà-la-môn và gia chủ cũng vậy, được an ổn khi đi ra, đi vào, hay khi kiểm tra công việc kinh doanh của họ. Tương tự như vậy, vào thời điểm các Tỳ kheo có tâm tốt mạnh, các Tỳ kheo xấu ác yếu. Khi đó, các Tỳ kheo xấu ác thường giữ im lặng giữa Tăng đoàn, hoặc họ bỏ đi nơi nào đó. Điều này mang lại an lạc và hạnh phúc (welfare and happiness / lợi ích và hạnh phúc) cho dân chúng, vì dân chúng, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người."

8. - Khi nào các người ăn trộm cường mạnh, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, các vua chúa yếu đuối, trong khi ấy, thật không an toàn cho các vua chúa để đi qua lại, đi ra, đi quan sát các biên cương. Và trong khi ấy, thật không an toàn cho các Bà-la-môn, các gia chủ để đi qua lại, đi ra, đi giám sát các công việc làm ở ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các ác Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các thuần tịnh Tỷ-kheo yếu đuối. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuần tịnh giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi đến các quốc độ biên địa. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là bất hạnh cho đa số, là không an lạc cho đa số, là không lợi ích cho đa số, là bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua chúa cường mạnh, trong khi ấy, các trộm cướp yếu đuối, trong khi ấy, thật an toàn cho các vua chúa để đi qua lại, đi ra, đi quan sát các biên cương. Và trong khi ấy, thật an toàn cho các Bà-la-môn, các gia chủ để đi qua lại, đi ra, đi giám sát các công việc làm ở ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các thuần tịnh Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các ác Tỷ-kheo yếu đuối. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các ác Tỷ-kheo giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi các chỗ khác. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạnh phúc cho đa số, là an lạc cho đa số, là lợi ích cho đa số, là hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

40. "Này các Tỳ kheo, Ta không tán thán tà hạnh (wrong practice / thực hành sai lầm) đối với hai hạng người này, đối với người tại gia và người xuất gia. Do tà hạnh, cả người tại gia lẫn người xuất gia đều không thành công trong việc hoàn thiện chánh pháp thiện lành (system of the skillful teaching / giáo pháp thiện lành).

Ta tán thán chánh hạnh (right practice / thực hành đúng đắn) đối với hai hạng người này, đối với người tại gia và người xuất gia. Do chánh hạnh, cả người tại gia lẫn người xuất gia đều thành công trong việc hoàn thiện chánh pháp thiện lành."

9. Ta không tán thán hai loại tà hạnh, này các Tỷ-kheo, ở người gia chủ hay ở người xuất gia. Người gia chủ, này các Tỷ-kheo, hay người xuất gia theo tà hạnh, do nhân duyên tà hạnh, không thể đem lại chánh lý, thiện pháp.

Ta tán thán hai loại chánh hạnh, này các Tỷ-kheo, ở người gia chủ hay ở người xuất gia. Người gia chủ, này các Tỷ-kheo, hay người xuất gia theo chánh hạnh, do nhân duyên chánh hạnh, có thể đem lại chánh lý, thiện pháp.

41. "Này các Tỳ kheo, do thọ trì kinh điển sai lệch, nắm bắt văn cú sai lạc (memorizing the discourses incorrectly, taking only a semblance of the phrasing / ghi nhớ kinh sai, hiểu sai câu chữ), một số Tỳ kheo đã che lấp ý nghĩa và giáo pháp (shut out the meaning and the teaching / làm lu mờ ý nghĩa và giáo pháp). Họ hành động vì sự bất hạnh và đau khổ của dân chúng, chống lại dân chúng, vì sự tổn hại, bất hạnh và đau khổ của chư thiên và loài người. Họ tạo ra nhiều ác nghiệp (wickedness / điều ác, tội lỗi) và làm cho chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính) biến mất.

Nhưng do thọ trì kinh điển đúng đắn, không nắm bắt văn cú sai lệch (memorizing the discourses well, not taking only a semblance of the phrasing / ghi nhớ kinh đúng, không hiểu sai câu chữ), một số Tỳ kheo đã củng cố ý nghĩa và giáo pháp (reinforce the meaning and the teaching / làm vững mạnh ý nghĩa và giáo pháp). Họ hành động vì sự an lạc và hạnh phúc của dân chúng, vì dân chúng, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Họ tạo ra nhiều phước đức (merit / công đức) và làm cho chánh pháp tiếp tục."

10. Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, chặn đứng cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ sai lạc các kinh điển và những văn tự thích ứng, thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách nhiệm về bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, không lợi ích cho đa số, bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chất chứa nhiều vô phước làm cho diệu pháp biến mất.

Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, tùy thuận cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ đúng đắn các kinh điển và những văn tự thích ứng, thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách nhiệm về hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chất chứa nhiều phước đức, làm cho diệu pháp an trú