Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Tóm Tắt Bắt Đầu Với Sân Hận

AN 2.180–229 Kodhapeyyālavagga

180–184. “Có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và oán hận (anger and acrimony / sự tức giận và thù ghét)… phỉ báng và áp đặt (disdain and contempt / sự nói xấu và lấn át người khác)… ganh tị và keo kiệt (jealousy and stinginess / sự ganh ghét và bỏn xẻn)… xảo trá và gian manh (deceit and deviousness / sự lừa lọc và quỷ quyệt)… vô tàm và vô quý (lack of conscience and prudence / không biết hổ thẹn tội lỗi và không biết ghê sợ tội lỗi). Đây là hai pháp.”

XVI. Phẩm Phẫn Nộ

1-50.

1. - Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp

(Như trên với các pháp sau đây:)

2. Giả dối vào não hại

3. Tật đố và xan lẫn

4. Man trá và phản trắc

5. Không tàm và không quý

185–189. “Có hai pháp này. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và oán hận… không phỉ báng và áp đặt… không ganh tị và keo kiệt… không xảo trá và gian manh… tàm và quý (conscience and prudence / biết hổ thẹn tội lỗi và biết ghê sợ tội lỗi). Đây là hai pháp.”

6. Không phẫn nộ và không hiềm hận

7. Không giả dối và không não hại

8. Không tật đố và không xan tham

9. Không man trá và không phản trắc

10. Tàm và quý

190–194. “Người nào có hai pháp này thì sống đau khổ. Thế nào là hai? Phẫn nộ và oán hận… phỉ báng và áp đặt… ganh tị và keo kiệt… xảo trá và gian manh… vô tàm và vô quý. Người nào có hai pháp này thì sống đau khổ.”

11. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận.

12. Giả dối vào não hại

13. Tật đố và xan tham

14. Man trá và phản trắc

15. Không tàm và không quý

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ.

195–199. “Người nào có hai pháp này thì sống hạnh phúc. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và oán hận… không phỉ báng và áp đặt… không ganh tị và keo kiệt… không xảo trá và gian manh… tàm và quý. Người nào có hai pháp này thì sống hạnh phúc.”

16. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong an lạc. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận.

17. Không giả dối và không não hại

18. Không tật đố và không xan lẫn

19. Không man trá và không phản trắc

20. Tàm và quý

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong an lạc.

200–204. “Hai pháp này dẫn đến sự tổn giảm của vị hữu học (mendicant trainee / vị Tỳ kheo còn đang tu học). Thế nào là hai? Phẫn nộ và oán hận… phỉ báng và áp đặt… ganh tị và keo kiệt… xảo trá và gian manh… vô tàm và vô quý. Hai pháp này dẫn đến sự tổn giảm của vị hữu học.”

21. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận.

22. Giả dối vào não hại

23. Tật đố và xan lẫn

24. Man trá và phản trắc

25. Không tàm và không quý

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.

205–209. “Hai pháp này không dẫn đến sự tổn giảm của vị hữu học. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và oán hận… không phỉ báng và áp đặt… không ganh tị và keo kiệt… không xảo trá và gian manh… tàm và quý. Hai pháp này không dẫn đến sự tổn giảm của vị hữu học.”

26. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận.

27. Không giả dối và không não hại

28. Không tật đố và không xan lẫn

29. Không man trá và không phản trắc

30. Tàm và quý

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.

210–214. “Người nào có hai pháp này thì bị rơi vào địa ngục (hell / cõi khổ cùng cực). Thế nào là hai? Phẫn nộ và oán hận… phỉ báng và áp đặt… ganh tị và keo kiệt… xảo trá và gian manh… vô tàm và vô quý. Người nào có hai pháp này thì bị rơi vào địa ngục.”

31-35. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận … Không tàm và không quý. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng.

215–219. “Người nào có hai pháp này thì được sinh lên thiên giới (heaven / cõi trời, cõi hạnh phúc). Thế nào là hai? Không phẫn nộ và oán hận… không phỉ báng và áp đặt… không ganh tị và keo kiệt… không xảo trá và gian manh… tàm và quý. Người nào có hai pháp này thì được sinh lên thiên giới.”

36-40. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận … Tàm và quý.

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng.

220–224. “Khi có hai pháp này, một số người, sau khi thân hoại mạng chung, bị tái sinh vào cõi dữ (place of loss / nơi khổ đau, đoạ xứ), ác thú (bad place / nơi tái sinh xấu), đọa xứ (underworld / nơi khổ đau), địa ngục. Thế nào là hai? Phẫn nộ và oán hận… phỉ báng và áp đặt… ganh tị và keo kiệt… xảo trá và gian manh… vô tàm và vô quý. Khi có hai pháp này, một số người, sau khi thân hoại mạng chung, bị tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

41-45. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận … Không tàm và không quý.

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

225–229. “Khi có hai pháp này, một số người—sau khi thân hoại mạng chung—được tái sinh vào thiện thú (good place / nơi tái sinh tốt đẹp), cõi trời (heavenly realm / cảnh giới an vui). Thế nào là hai? Không phẫn nộ và oán hận… không phỉ báng và áp đặt… không ganh tị và keo kiệt… không xảo trá và gian manh… tàm và quý. Khi có hai pháp này, một số người—sau khi thân hoại mạng chung—được tái sinh vào thiện thú, cõi trời.”

46-50. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận … Tàm và quý.

Phẩm Kinh Rút Gọn Bắt Đầu Với Bất Thiện

AN 2.230–279 Akusalapeyyālavagga

“Hai pháp này là bất thiện (unskillful / điều xấu, điều ác)… là thiện (skillful / điều tốt, điều lành)… là đáng chê trách… là không đáng chê trách… có khổ là kết quả… có lạc là kết quả… đưa đến kết quả khổ… đưa đến kết quả lạc… là gây tổn hại… là không gây tổn hại. Hai pháp nào? Không phẫn nộ và không oán hận… không hiềm và không não (disdain and contempt / không ganh ghét và không làm hại)… không tật đố và không xan tham (jealousy and stinginess / không ganh tị và không keo kiệt)… không man trá và không xảo quyệt (deceit and deviousness / không lừa dối và không gian xảo)… tàm (conscience / hổ thẹn tội lỗi) và úy (prudence / ghê sợ tội lỗi). Đây là hai pháp không gây tổn hại.”

XVI. Phẩm Phẫn Nộ (2)

51-100.

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.

51-55. Thành tựu hai bất thiện pháp này …

56-60. Thành tựu hai thiện pháp này …

61-65. Thành tựu hai pháp có tội này …

66-70. Thành tựu hai pháp không có tội này …

71-75. Thành tựu hai pháp tăng khổ này …

76-80. Thành tựu hai pháp tăng lạc này …

81-85. Thành tựu hai pháp với quả dị thục là khổ này …

86-90. Thành tựu hai pháp với quả dị thục là lạc này …

91-95. Thành tựu hai pháp não hại này …

96-100. Thành tựu với hai pháp không não hại này …

(mỗi lần là năm pháp như trên, bất thiện pháp và thiện pháp) …