Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Các Đoạn Kinh Tóm Lược Về Luật

AN 2.280–309 Vinayapeyyālavagga

280. "Vì hai lý do mà Như Lai (Realized One / Bậc Giác Ngộ) đã đặt ra các học giới (training rules / các điều luật huấn luyện) cho các đệ tử (disciples / học trò, người đi theo) của mình.

Hai lý do đó là gì? Vì an lạc (well-being / sự tốt đẹp, lợi ích) và thoải mái (comfort / sự dễ chịu, thoải mái) của Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ)… Để kiểm soát những người khó dạy (difficult persons / những người cứng đầu, khó bảo) và vì sự thoải mái của các tỳ kheo thiện tâm (good-hearted mendicants / các vị tu sĩ có lòng tốt)… Để ngăn chặn các phiền não (defilements / những cấu uế, ô nhiễm tâm) ảnh hưởng đến hiện tại (this life / đời này) và bảo vệ khỏi các phiền não ảnh hưởng đến đời sau (lives to come / các đời sống tương lai)… Để ngăn chặn các nguy hiểm (threats / mối đe dọa) ở đời này và bảo vệ khỏi các nguy hiểm ở đời sau… Để ngăn chặn các lỗi lầm (faults / sai phạm) ở đời này và bảo vệ khỏi các lỗi lầm ở đời sau… Để ngăn chặn các tai họa (hazards / rủi ro, nguy cơ) ở đời này và bảo vệ khỏi các tai họa ở đời sau… Để ngăn chặn các bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm không tốt, có hại) ở đời này và bảo vệ khỏi các bất thiện pháp ở đời sau… Vì lòng thương tưởng (sympathy / sự cảm thông, lòng bi mẫn) đối với cư sĩ (laypeople / người tại gia) và để giải tán các phái nhóm tỳ kheo ác dục (factions of mendicants with corrupt wishes / các nhóm tu sĩ có mong muốn xấu xa)… Để khơi dậy tín tâm (confidence / lòng tin) nơi những người chưa có, và tăng trưởng tín tâm nơi những người đã có… Vì sự tiếp nối của Chánh pháp (true teaching / giáo lý chân chính) và sự hỗ trợ giới luật (support of the training / sự duy trì việc thực hành giới luật). Đó là hai lý do tại sao Như Lai đã đặt ra các học giới cho các đệ tử của mình."

XVII. Phẩm Thứ Mười Bảy

1. - Do thấy hai lợi ích này, Như Lai chế lập học giới cho các đệ tử. Thế nào là hai? Cực thiện cho Tăng chúng và an lạc cho Tăng chúng … chế ngự các người ác và lạc thú cho thuần tịnh Tỷ-Kheo … sự phòng hộ các lậu hoặc, các oán thù, các tội phạm, các sợ hãi, các pháp bất thiện ngay trong hiện tại, và sự ngăn chặn các lậu hoặc, các oán thù, các tội phạm, các sợ hãi, các pháp bất thiện trong tương lai,… lòng từ mẫn đối với các gia chủ và đoạn tuyệt các thành phần ác dục … đem lại tâm tín cho kẻ bất tín và làm trăng trưởng những kẻ có tín tâm … cho diệu pháp được an trú và để hộ trì giới luật. Do duyên hai lợi ích này, này các Tỷ-Kheo, Như Lai chế lập học giới cho các đệ tử.

281–309. "Vì hai lý do mà Như Lai đã đặt ra cho các đệ tử của mình giới bổn Pātimokkha (monastic code / bộ giới luật căn bản cho tu sĩ)… việc tụng giới bổn Pātimokkha (recitation of the monastic code / việc đọc lại giới luật)… việc đình chỉ tụng giới bổn Pātimokkha (suspension of the recitation of the monastic code / việc tạm dừng đọc giới luật)… tự tứ (invitation to admonish / thỉnh cầu sự chỉ lỗi, nhắc nhở)… việc hủy bỏ tự tứ (setting aside of the invitation to admonish / việc không thực hiện thỉnh cầu chỉ lỗi)… hành vi khiển trách (disciplinary act of condemnation / hình thức kỷ luật khiển trách)… y chỉ (placing under dependence / sự nương tựa vào vị thầy)… trục xuất (banishment / đuổi ra khỏi Tăng đoàn)… hòa giải (reconciliation / làm hòa, giải quyết mâu thuẫn)… cấm túc (debarment / hình phạt hạn chế đi lại, tiếp xúc)… biệt trú (probation / hình phạt sống riêng biệt)… ma-na-đỏa (being sent back to the beginning / hình phạt thực hành lại từ đầu)… xuất tội (penance / hình phạt sám hối)… phục vị (reinstatement / phục hồi lại địa vị)… phục hồi (restoration / khôi phục)… cách chức (removal / bãi bỏ chức vụ)… tu giới (ordination / lễ xuất gia, thọ giới)… yết-ma đơn bạch (act with a motion / hành sự Tăng đoàn chỉ cần trình bày)… yết-ma bạch nhất (act with a motion and one announcement / hành sự Tăng đoàn cần trình bày và tuyên bố một lần)… yết-ma bạch tứ (act with a motion and three announcements / hành sự Tăng đoàn cần trình bày và tuyên bố ba lần)… chế định điều chưa chế định (laying down what was not previously laid down / ban hành điều luật mới)… sửa đổi điều đã chế định (amending what was laid down / thay đổi điều luật đã có)… việc dàn xếp một vụ việc kỷ luật (settling of a disciplinary matter / giải quyết một vấn đề liên quan đến giới luật) bằng các phương pháp sau: hiện tiền tỳ-ni (face-to-face / giải quyết khi có mặt các bên)… ức niệm tỳ-ni (through recollection / giải quyết dựa trên sự nhớ lại của đương sự)… bất si tỳ-ni (because of past insanity / giải quyết dựa trên tình trạng tâm trí không ổn định trước đây)… tự ngôn trị tỳ-ni (acting according to what has been admitted / giải quyết dựa trên lời thú nhận)… đa nhân mích tội tỳ-ni (majority decision / giải quyết theo ý kiến số đông)… tấn chỉ tỳ-ni (further penalty / giải quyết bằng hình phạt bổ sung)… thảo phú tỳ-ni (covering over as if with grass / giải quyết bằng cách dàn xếp cho qua như cỏ che đất).

Hai lý do đó là gì? Vì an lạc và thoải mái của Tăng đoàn… Để kiểm soát những người khó dạy và vì sự thoải mái của các tỳ kheo thiện tâm… Để ngăn chặn các phiền não ảnh hưởng đến hiện tại và bảo vệ khỏi các phiền não ảnh hưởng đến đời sau… Để ngăn chặn các nguy hiểm ở đời này và bảo vệ khỏi các nguy hiểm ở đời sau… Để ngăn chặn các lỗi lầm ở đời này và bảo vệ khỏi các lỗi lầm ở đời sau… Để ngăn chặn các tai họa ở đời này và bảo vệ khỏi các tai họa ở đời sau… Để ngăn chặn các bất thiện pháp ở đời này và bảo vệ khỏi các bất thiện pháp ở đời sau… Vì lòng thương tưởng đối với cư sĩ và để giải tán các phái nhóm tỳ kheo ác dục… Để khơi dậy tín tâm nơi những người chưa có, và tăng trưởng tín tâm nơi những người đã có… Vì sự tiếp nối của Chánh pháp và sự hỗ trợ giới luật.

Đó là hai lý do tại sao Như Lai đã đặt ra việc dàn xếp một vụ việc kỷ luật bằng phương pháp thảo phú tỳ-ni cho các đệ tử của mình."

2. Do duyên hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Như Lai chế lập giới bổn cho các đệ tử (như số 1 ở trên) … tụng đọc giới bổn … đình chỉ giới bổn … tự tứ … đình chỉ tự tứ … sở tác cần phải quở trách …Sở tác cần phải y chỉ, sở tác cần phải tẩn xuất, sở tác cần phải xin lỗi … sở tác cần phải ngưng chức … cho phép biệt trú … bắt làm lại từ đầu …, cho phép làm … được phục hồi địa vị cũ … được phục chức … cần phải xuất ly … cụ túc … bạch yết-ma (lần đầu tiên) đưa ra biểu quyết lần thứ nhất … đưa ra biểu quyết lần thứ hai … đưa ra biểu quyết lần thứ tư … điều chưa được chế lập … thay đổi điều đã được chế lập … giải quyết với sự hiện diện của hai phe liên hệ … giải quyết theo ức niệm của đương sự phạm tội … giải quyết sau khi đương sự khỏi điên loạn, … giải quyết theo sự chấp nhận của đương sự…giải quyết theo số đông… giải quyết tu theo đương sụ phạm tôị … giải quyết như trải cỏ ra.

Thê nào là hai? Cực thiện cho Tăng chúng và an lạc cho Tăng chúng … chế ngự các người ác và lạc trú cho thuần tịnh Tỷ-kheo … cho diệu pháp được an trú và để hộ trì giới luật. Do duyên hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Như Lai đã chế lập … giải quyết như trải cỏ ra cho các đệ tử.

Phẩm Các Kinh Tóm Lược Bắt Đầu Với Tham

AN 2.310–479 Phẩm Tham - Peyyāla

310–319. “Để thắng trí (insight / sự hiểu biết thấu suốt) tham (greed / lòng tham), hai pháp cần được tu tập. Hai pháp gì? Là chỉ (serenity / sự định tâm) và quán (discernment / sự thấy rõ). Để thắng trí tham, hai pháp này cần được tu tập.”

“Để biến tri (complete understanding / sự hiểu biết toàn diện)… đoạn tận (finishing / sự chấm dứt hoàn toàn)… đoạn trừ (giving up / sự từ bỏ)… diệt tận (ending / sự kết thúc)… tàn diệt (vanishing / sự tan biến)… phai nhạt (fading away / sự phai nhạt)… đoạn diệt (cessation / sự dừng lại)… xả ly (giving away / sự buông bỏ)… vứt bỏ (letting go / sự buông xả) tham, hai pháp cần được tu tập.”

XVII. Phẩm Thứ Mười Bảy (2)

3.- Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, hai pháp cần phải tu tập. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, hai pháp này cần phải tu tập.

4.- Ðể biến tri tham, này các Tỷ-kheo, … để biến tận, để đoạn tận, để trừ diệt, để biến diệt, để ly tham, để đoạn diệt, để xả bỏ, để từ bỏ tham, hai pháp này cần phải tu tập. Thế nào là hai? Chỉ và Quán …

5.- Ðể thắng tri … để biến tri sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan tham, man trá, phản trắc, cứng đầu, cuồng nhiệt, mạn, quá mạn, kiêu căng, phóng dật,… để biến tận, để đoạn tận, để trừ diệt, để biết diệt, để ly tham, để đoạn diệt, để xả bỏ, để từ bỏ sân … phóng dật, hai pháp này cần phải tu tập. Thế nào là hai? Chỉ và Quán … hai pháp này cần phải tu tập.

320–479. “Đối với sân (hate / lòng sân hận)… si (delusion / sự si mê)… phẫn nộ (anger / sự tức giận)… oán hận (acrimony / sự thù oán)… hiềm hận (disdain / sự khinh miệt)… não hại (contempt / sự làm khổ)… tật đố (jealousy / sự ganh tị)… san tham (stinginess / sự keo kiệt)… man trá (deceit / sự lừa dối)… xảo trá (deviousness / sự quanh co)… ngoan cố (obstinacy / sự cứng đầu)… xung động (aggression / sự hung hăng)… mạn (conceit / sự kiêu ngạo)… quá mạn (arrogance / sự kiêu căng)… kiêu mạn (vanity / sự kiêu căng tự mãn)… phóng dật (negligence / sự dễ duôi, lơ là)… để thắng trí… biến tri… đoạn tận… đoạn trừ… diệt tận… tàn diệt… phai nhạt… đoạn diệt… xả ly… vứt bỏ… hai pháp cần được tu tập. Hai pháp gì? Là chỉ và quán. Để vứt bỏ phóng dật, hai pháp này cần được tu tập.”

Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ kheo (mendicants / các vị khất sĩ) hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.