Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Thợ Làm Xe (The Chariot-maker)

AN 3.11 Nổi Tiếng (Well-known / Ñātasutta)

"Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo nổi tiếng có ba phẩm chất sau thì hành động sẽ gây ra sự tổn hại và khổ đau của mọi người, chống lại mọi người, nguy hại, tổn hại và khổ đau của chư Thiên và loài người. Ba phẩm chất đó là gì? Họ khuyến khích các hành động thân và khẩu, cũng như các nguyên tắc, không củng cố các phẩm chất tốt.

Một Tỳ-kheo nổi tiếng có ba phẩm chất này thì hành động vì sự tổn hại và khổ đau của mọi người, chống lại mọi người, vì sự nguy hại, tổn hại và khổ đau của chư Thiên và loài người.

Một Tỳ-kheo nổi tiếng có ba phẩm chất sau thì hành động sẽ tạo ra sự an lạc và hạnh phúc của mọi người, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư Thiên và loài người. Ba phẩm chất đó là gì? Họ khuyến khích các hành động thân và khẩu, cũng như các nguyên tắc, củng cố các phẩm chất tốt.

Một Tỳ-kheo nổi tiếng có ba phẩm chất này thì hành động vì sự an lạc và hạnh phúc của mọi người, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư Thiên và loài người."

II. Phẩm Người Ðóng Xe

11. Ba Pháp

− Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có danh tiếng, sống đem lại bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, không lợi ích cho đa số, đem lại bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loại người. Thế nào là ba? Khuyến khích các thân nghiệp không tùy thuận; khuyến khích các ngữ nghiệp không tuỳ thuận, khuyến khích các pháp không tùy thuận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có danh tiếng sống … cho chư Thiên và loài người.

− Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có danh tiếng, sống đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem lại hạnh phúc an lạc cho chư Thiên và loại người. Thế nào là ba? Khuyến khích các thân nghiệp tùy thuận; khuyến khích các ngữ nghiệp tuỳ thuận; khuyến khích các pháp tùy thuận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có danh tiếng sống đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài người.

AN 3.12 Kỷ Niệm (Commemoration / Sāraṇīyasutta)

"Một vị vua Sát-đế-lỵ được tấn phong nên kỷ niệm ba nơi chốn trong suốt cuộc đời mình. Ba nơi đó là gì? Nơi ngài được sinh ra. Đây là nơi thứ nhất.

Nơi ngài được tấn phong làm vua. Đây là nơi thứ hai.

Nơi ngài giành chiến thắng trong trận chiến, tự khẳng định mình là người đứng đầu trong chiến trận. Đây là nơi thứ ba. Đây là ba nơi mà một vị vua được tấn phong nên kỷ niệm trong suốt cuộc đời mình.

Cũng vậy, một Tỳ-kheo nên kỷ niệm ba nơi chốn trong suốt cuộc đời mình. Ba nơi đó là gì? Nơi Tỳ-kheo cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, và xuất gia từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà. Đây là nơi thứ nhất.

Nơi Tỳ-kheo thực sự hiểu rõ: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguyên nhân của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ’. Đây là nơi thứ hai.

Nơi Tỳ-kheo chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não. Đây là nơi thứ ba. Đây là ba nơi mà một Tỳ-kheo nên kỷ niệm trong suốt cuộc đời mình."

12.- Ba Chỗ

− Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba? Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được sanh ra; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.

Lại nữa, tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh, đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sau khi chiến thắng một trận, tại chỗ vị ấy chiếm như là cầm đầu trong cuộc chiến thắng; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.

Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba pháp này, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?

Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa; xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, môt Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.

Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.

AN 3.13 Hy Vọng (Hopes / Āsaṁsasutta)

"Này các Tỳ-kheo, có ba hạng người được tìm thấy trên thế gian này. Ba hạng đó là gì? Người không có hy vọng, người có hy vọng, và người vượt qua hy vọng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người không có hy vọng? Đó là khi một người được tái sinh vào một gia đình thấp kém—một gia đình làm nghề xử lý xác chết, làm nghề tre, làm nghề săn bắn, làm nghề thợ làm xe, hoặc làm nghề nhặt rác—nghèo khó, ít thức ăn thức uống, cuộc sống khó khăn, và khó tìm được thức ăn và chỗ ở. Và họ xấu xí, khó coi, dị dạng, ốm yếu—một mắt, què quặt, đi khập khiễng, hoặc bị liệt nửa người. Họ không có được thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương liệu, và đồ trang điểm; hoặc giường, nhà, và ánh sáng. Họ nghe điều này: ‘Họ nói rằng các vị Sát-đế-lỵ đã tấn phong vị Sát-đế-lỵ tên là X làm vua.’ Họ không bao giờ nghĩ: ‘Ôi, khi nào các vị Sát-đế-lỵ cũng sẽ tấn phong mình làm vua?’ Đây gọi là người không có hy vọng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Đó là khi một người nào đó là con trai trưởng của một vị vua Sát-đế-lỵ được tấn phong. Ngài chưa được tấn phong, nhưng đủ điều kiện, và đã được xác nhận trong danh sách kế vị. Ngài nghe điều này: ‘Họ nói rằng các vị Sát-đế-lỵ đã tấn phong vị Sát-đế-lỵ tên là X làm vua.’ Ngài nghĩ: ‘Ôi, khi nào các vị Sát-đế-lỵ cũng sẽ tấn phong mình làm vua?’ Đây gọi là người có hy vọng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người vượt qua hy vọng? Đó là khi một vị vua đã được tấn phong. Ngài nghe điều này: ‘Họ nói rằng các vị Sát-đế-lỵ đã tấn phong vị Sát-đế-lỵ tên là X làm vua.’ Ngài không bao giờ nghĩ: ‘Ôi, khi nào các vị Sát-đế-lỵ cũng sẽ tấn phong mình làm vua?’ Tại sao lại như vậy? Bởi vì hy vọng trước đây của ngài về việc được tấn phong giờ đây đã lắng xuống. Đây gọi là người vượt qua hy vọng.

Đây là ba hạng người được tìm thấy trên thế gian này.

Cũng vậy, có ba hạng người được tìm thấy trong hàng Tỳ-kheo. Ba hạng đó là gì? Người không có hy vọng, người có hy vọng, và người vượt qua hy vọng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người không có hy vọng? Đó là khi một người vô đạo đức, có phẩm chất xấu, dơ bẩn, có hành vi đáng ngờ, lén lút, không phải là một Sa-môn hay người tu hành chân chính—mặc dù tự xưng là như vậy—thối nát bên trong, mưng mủ, và đồi bại. Họ nghe điều này: ‘Họ nói rằng Tỳ-kheo tên là X đã chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Họ không bao giờ nghĩ: ‘Ôi, khi nào mình cũng sẽ chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Đây gọi là người không có hy vọng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Đó là khi một Tỳ-kheo có đạo đức, có phẩm hạnh tốt. Họ nghe điều này: ‘Họ nói rằng Tỳ-kheo tên là X đã chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Họ nghĩ: ‘Ôi, khi nào mình cũng sẽ chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Đây gọi là người có hy vọng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người vượt qua hy vọng? Đó là khi một Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, người đã chấm dứt tất cả các phiền não. Họ nghe điều này: ‘Họ nói rằng Tỳ-kheo tên là X đã chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Họ không bao giờ nghĩ: ‘Ôi, khi nào mình cũng sẽ chứng đạt sự giải thoát tâm vô nhiễm và giải thoát bằng tuệ ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng đạt điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các phiền não.’ Tại sao lại như vậy? Bởi vì hy vọng trước đây của họ về việc được giải thoát giờ đây đã lắng xuống. Đây gọi là người vượt qua hy vọng.

Đây là ba hạng người được tìm thấy trong hàng Tỳ-kheo."

13.- Ba Hạng Người

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng?, Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình thấp kém, gia đình một người đổ phân, hay gia đình một người thợ săn hay gia đình một người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc … Và người ấy xấu xí, khó ngó, lùn, thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, còm, què, hay đi khập khễnh, không có được đồ ăn, đồ uống đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở hay đèn. Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đếlỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trưởng nam của vua Sát-đếlỵ đã làm lễ quán đảnh, xứng đáng để được làm lễ quán đảnh, nhưng chưa làm lễ quán đảnh và đạt đến địa vị bất động, (đã đến tuổi thành niên) Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Vị ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ? “Vì cớ sao? Sự hy vọng được làm lễ quán đảnh trước khi chưa làm lễ quán đảnh, hy vọng ấy được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người đã ly hy vọng.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện, có mặt giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ác giới, tánh tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn, nhưng hiện tướng là Samôn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh. Người này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy không suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo giữ tánh tình hiền thiện. Vị ấy nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, đã đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng đạt, chứng ngộ và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, một vị A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Vị này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy … tuệ giải thoát”. Vị ấy không suy nghĩ như sau : “Ðến khi nào, do đoạn tận … tuệ giải thoát”. Vì cớ sao? Hy vọng được giải thoát trước khi chưa giải thoát, này các Tỷ-kheo, hy vọng ấy đã được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, là người ly hy vọng.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt giữa các vị Tỷ-kheo.

AN 3.14 Chuyển Luân Thánh Vương (The Wheel-Turning Monarch / Cakkavattisutta)

“Này các Tỳ-kheo, ngay cả một vị Chuyển Luân Thánh Vương là một vị vua công bằng và có nguyên tắc, vị ấy cũng không là người nắm giữ quyền lực mà có vua của riêng mình.” Khi Đức Phật nói điều này, một Tỳ-kheo hỏi Ngài:

“Nhưng ai là vua của vị Chuyển Luân Thánh Vương, vị vua công bằng và có nguyên tắc?”

Đức Phật đáp: “Đó là Pháp, này Tỳ-kheo.”

"Này Tỳ-kheo, một vị Chuyển Luân Thánh Vương cung cấp sự bảo vệ và an ninh công bằng cho triều đình của mình dựa trên Pháp, tôn kính, kính trọng, và tôn sùng Pháp, lấy Pháp làm cờ hiệu, biểu ngữ, và quyền uy của mình.

Ngài cung cấp sự bảo vệ và an ninh công bằng cho các vị Sát-đế-lỵ, chư hầu, quân đội, Bà-la-môn và gia chủ, dân chúng thành thị và nông thôn, Sa-môn và Bà-la-môn, loài vật và loài chim. Khi đã làm được điều này, ngài nắm giữ quyền lực chỉ theo cách có nguyên tắc. Và quyền lực này không thể bị phá hoại bởi bất kỳ kẻ thù nào của con người.

Cũng vậy, này Tỳ-kheo, một bậc Như Lai, bậc Ứng Cúng, một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, một vị vua công bằng và có nguyên tắc, cung cấp sự bảo vệ và an ninh công bằng đối với các hành động thân, dựa trên Pháp, tôn kính, kính trọng, và tôn sùng Pháp, lấy Pháp làm cờ hiệu, biểu ngữ, và quyền uy của mình. ‘Loại hành động thân này nên được tu tập. Loại hành động thân này không nên được tu tập.’

Hơn nữa, một bậc Như Lai … cung cấp sự bảo vệ và an ninh công bằng đối với các hành động khẩu, nói rằng: ‘Loại hành động khẩu này nên được tu tập. Loại hành động khẩu này không nên được tu tập.’ … Và đối với các hành động ý: ‘Loại hành động ý này nên được tu tập. Loại hành động ý này không nên được tu tập.’

Và khi một bậc Như Lai, bậc Ứng Cúng, một Đức Phật Chánh Đẳng Giác đã cung cấp sự bảo vệ và an ninh công bằng đối với các hành động thân, khẩu, và ý, ngài chuyển bánh xe Pháp tối thượng. Và bánh xe đó không thể bị đẩy lùi bởi bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn hay chư Thiên hay Ma vương hay thần linh hay bất kỳ ai trên thế gian này."

14.- Pháp

− Phàm vua Chuyển Luân nào, đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị), không phải không có vua.

Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương?

− Ðó là pháp, này Tỷ-kheo.

Thế Tôn nói:

− Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng. Lại nữa, này Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương … ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với các Sát-đế-lỵ, đối với các tùy tùng, đối với quân đội, đối với các Bà-la-môn và gia chủ, đối với các thị trấn và quốc độ, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, đối với các loài thú và các loài chim.

Vua Chuyển Luân ấy, này các Tỷ-kheo, đúng pháp … sau khi ra lệnh hộ trì, che chở … đối với các loài thú và các loài chim, chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào.

Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, ý cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp, nghĩ rằng: “Thân nghiệp như vậy cần phải hành trì, thân nghiệp như vậy không được hành trì”.

Lại nữa, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán … ủng hộ đúng pháp đối với khẩu nghiệp, nghĩ rằng: “Khẩu nghiệp như vậy cần phải hành trì, Khẩu nghiệp như vậy không được hành trì, đối với ý nghiệp”, nghĩ rằng “Ý nghiệp như vậy cần phải hành trì, Ý nghiệp như vậy không được hành trì”.

Như Lai ấy, này Tỷ-kheo, bậc A-la-hán … đúng pháp, sau khi ra lệnh hộ trì che chở … đối với thân nghiệp … đối với khẩu nghiệp … đối với ý nghiệp … chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn chặn sự chuyển vận, bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

AN 3.15 Về Pacetana (About Pacetana / Sacetanasutta)

Một thời, Đức Phật đang ở gần thành Ba-la-nại, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ-kheo, “Này các Tỳ-kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Ngày xưa, có một vị vua tên là Pacetana. Bấy giờ, vua Pacetana gọi thợ làm xe của mình, ‘Này thợ làm xe giỏi của ta, sáu tháng nữa sẽ có một trận chiến. Ngươi có thể làm cho ta một cặp bánh xe mới không?’

‘Tâu Đại vương, thần có thể,’ thợ làm xe đáp. Sau đó, khi còn sáu ngày nữa là đủ sáu tháng, thợ làm xe đã hoàn thành một bánh xe.

Bấy giờ, vua Pacetana gọi thợ làm xe của mình, ‘Sáu ngày nữa sẽ có một trận chiến. Cặp bánh xe mới của ta đã xong chưa?’

‘Tâu Đại vương, giờ đây còn sáu ngày nữa là đủ sáu tháng, thần đã hoàn thành một bánh xe.’

‘Ngươi có thể hoàn thành bánh xe thứ hai trong sáu ngày này không?’

Nói, ‘Tâu Đại vương, thần có thể,’ thợ làm xe đã hoàn thành bánh xe thứ hai trong sáu ngày. Cầm cặp bánh xe, ông đến gặp vua Pacetana, và nói với vua: ‘Tâu Đại vương, đây là hai bánh xe mới của ngài, đã hoàn thành.’

‘Nhưng, này thợ làm xe giỏi của ta, có gì khác biệt giữa bánh xe hoàn thành trong gần sáu tháng, và bánh xe chỉ hoàn thành trong sáu ngày? Bởi vì ta không thấy có sự khác biệt nào giữa chúng.’

‘Nhưng, Tâu Đại vương, có sự khác biệt. Xin ngài hãy xem sự khác biệt đó là gì.’

Rồi thợ làm xe lăn bánh xe đã hoàn thành trong sáu ngày. Nó lăn xa theo đà ban đầu, rồi lắc lư và ngã xuống. Rồi ông lăn bánh xe đã hoàn thành trong gần sáu tháng. Nó lăn xa theo đà ban đầu, rồi đứng yên như thể được gắn vào trục.

‘Nhưng nguyên nhân là gì, này thợ làm xe giỏi của ta, lý do gì khiến bánh xe hoàn thành trong sáu ngày lại lắc lư và ngã xuống, trong khi bánh xe hoàn thành trong gần sáu tháng lại đứng yên như thể được gắn vào trục?’

‘Tâu Đại vương, bánh xe hoàn thành trong sáu ngày bị cong, vênh, và có lỗi ở vành, nan hoa, và trục. Đó là lý do nó lắc lư và ngã xuống. Tâu Đại vương, bánh xe hoàn thành trong gần sáu tháng không bị cong, vênh, và có lỗi ở vành, nan hoa, và trục. Đó là lý do nó đứng yên như thể được gắn vào trục.’

Này các Tỳ-kheo, các thầy có thể nghĩ: ‘Chắc chắn thợ làm xe đó phải là người khác vào thời điểm đó?’ Nhưng các thầy không nên nghĩ như vậy. Chính Ta là thợ làm xe vào thời điểm đó. Bấy giờ, Ta khéo léo trong việc nhận biết sự cong, vênh, và lỗi của gỗ.

Giờ đây, khi Ta là bậc Ứng Cúng, một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, Ta khéo léo trong việc nhận biết sự cong, vênh, và lỗi của các hành động thân, khẩu, và ý. Bất kỳ Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào chưa từ bỏ sự cong, vênh, và lỗi của thân, khẩu, và ý thì đã sa sút khỏi giáo pháp và sự tu tập, giống như bánh xe hoàn thành trong sáu ngày.

Bất kỳ Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào đã từ bỏ sự cong, vênh, và lỗi của thân, khẩu, và ý thì đã vững vàng trong giáo pháp và sự tu tập, giống như bánh xe hoàn thành trong gần sáu tháng.

Vì vậy, các thầy nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ từ bỏ sự cong, vênh, và lỗi của thân, khẩu, và ý.’ Đó là cách các thầy nên tu tập."

15.- Người Ðóng Xe Hay Pacetana.

1. Một thời Thế Tôn ở tại Bàranàsi, Isipatana, chỗ Vườn Nai, tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Pacetana. Rồi, này các Tỷ-kheo, vua Pacetana cho gọi người thợ đóng xe:

− “Này người đóng xe, sau sáu tháng, sẽ có trận chiến. Này người đóng xe, ông có thể làm cho ta một cặp bánh xe mới được không?”

− “Thưa Ðại Vương, có thể được”.

Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.

Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe, sau sáu tháng trừ sáu ngày, làm xong một bánh xe. Rồi vua Pacetana bảo người đóng xe:

− “Sau sáu ngày, này người đóng xe, sẽ có trận chiến. Ðôi bánh xe mới có thể làm xong được không?”

− “Thưa Ðại vương, sau sáu tháng trừ sáu ngày, một bánh xe đã làm xong”.

− “Này người đóng xe, Ông có thể, với sáu ngày (còn lại) này, làm xong bánh xe thứ hai?” − “Thưa Ðại vương, con có thể làm được”.

Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.

2.- Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe trong sáu ngày, sau khi làm xong bánh xe thứ hai, cầm cặp bánh xe mới, đi đến vua Pacetana; sau khi đến, thưa với vua Pacetana:

− “Thưa Ðại vương, cặp bánh xe mới này đã làm xong cho Ngài”.

− “Này người đóng xe, cái bánh xe này làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày và cái bánh xe này làm xong trong sáu ngày, có cái gì sai khác giữa hai cái này, ta không thấy có các gì sai khác hết”.

− “Có sự sai khác giữa hai cái này, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, hãy nhìn sự sai khác”.

Rồi, này các Tỷ-kheo, người đóng xe đẩy cho chạy bánh xe được làm xong trong sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Rồi nó đẩy cho chạy bánh được làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như đang mắc vào trong trục xe.

3- “Do nhân gì, này người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Do nhân gì, này Người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu tháng trừ sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như mắc vào trục xe?”

− “Thưa Ðại vương, cái bánh xe này được làm xong sau sáu ngày, vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm. Vì rằng vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; vì rằng các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, vì rằng trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng rồi rơi xuống đất. Còn bánh kia, thưa Ðại Vương, được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày, bánh xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; trục xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm. Vì rằng vành xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; vì rằng các căm xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm, vì rằng trục xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, nó đứng lại như đang mắc vào ở trong trục xe.

4.- Rất có thể, này các Tỷ-kheo, các thầy nghĩ rằng trong thời ấy, người đóng xe ấy là một người khác. Này các Tỷ-kheo, chớ có nghĩ như vậy. Trong thời ấy, ta chính là người đóng xe. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, ta khéo léo về chỗ cong của gỗ, về chỗ hỏng của gỗ, về khuyết điểm của gỗ. Nay, này các Tỷ-kheo, ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo về chỗ cong của thân, về chỗ hỏng của thân, về khuyết điểm của thân; khéo léo về chỗ cong của lời nói, về chỗ hỏng của lời nói, về khuyết điểm của lời nói; khéo léo về chỗ cong của ý, về chỗ hỏng của ý, về khuyết điểm của ý.

5.-Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong không có đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (không có đoạn tận), lời nói cong không có đoạn tận, lời nói hư hỏng, lời nói khuyết điểm (không có đoạn tận), ý cong không có đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (không có đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy rời khỏi pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu ngày.

Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong được đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (được đoạn tận), lời nói cong … ý cong được đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (được đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy an trú trong pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng tôi sẽ đoạn tận thân cong, thân hư hỏng, thân khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận lời nói cong, lời hư hỏng, lời nói khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận ý cong, ý hư hỏng, ý khuyết điểm”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.16 Không Sai Lầm (Unfailing / Apaṇṇakasutta)

"Này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo có ba điều, sự tu tập của họ không sai lầm, và họ đã đặt nền tảng cho sự chấm dứt các phiền não. Ba điều đó là gì? Đó là khi một Tỳ-kheo hộ trì các căn(sense doors/giác quan), tiết độ trong ăn uống, và chuyên chú vào sự tỉnh thức.

Và thế nào là một Tỳ-kheo hộ trì các căn? Khi một Tỳ-kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, họ không bị mắc kẹt vào các đặc điểm và chi tiết. Nếu nhãn căn bị bỏ mặc không chế ngự, các ác bất thiện pháp tham và ưu sẽ trở nên lấn át. Vì lý do này, họ thực hành chế ngự, bảo vệ nhãn căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Khi họ nghe một âm thanh bằng tai … Khi họ ngửi một mùi hương bằng mũi … Khi họ nếm một vị bằng lưỡi … Khi họ cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân … Khi họ biết một ý niệm bằng ý, họ không bị mắc kẹt vào các đặc điểm và chi tiết. Nếu ý căn bị bỏ mặc không chế ngự, các ác bất thiện pháp tham và ưu sẽ trở nên lấn át. Vì lý do này, họ thực hành chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Đó là cách một Tỳ-kheo hộ trì các căn.

Và thế nào là một Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống? Đó là khi một Tỳ-kheo quán chiếu như lý về thức ăn mà họ ăn: ‘Không phải để vui chơi, hưởng thụ, trang điểm, hay làm đẹp, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh tổn hại, và để hỗ trợ sự tu tập phạm hạnh. Bằng cách này, tôi sẽ chấm dứt sự khó chịu cũ và không làm phát sinh sự khó chịu mới, và tôi sẽ có phương tiện để tiếp tục, không có lỗi lầm, và sống một cách thoải mái.’ Đó là cách một Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống.

Và thế nào là một Tỳ-kheo chuyên chú vào sự tỉnh thức? Đó là khi một Tỳ-kheo thực hành kinh hành và tọa thiền vào ban ngày, tẩy sạch tâm khỏi các chướng ngại. Trong canh đầu của đêm, họ tiếp tục thực hành kinh hành và tọa thiền. Trong canh giữa, họ nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng về bên phải, đặt một chân lên trên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác, và tập trung vào thời gian thức dậy. Trong canh cuối, họ thức dậy và tiếp tục thực hành kinh hành và tọa thiền, tẩy sạch tâm khỏi các chướng ngại. Đây là cách một Tỳ-kheo chuyên chú vào sự tỉnh thức.

Khi một Tỳ-kheo có ba điều này, sự tu tập của họ không sai lầm, và họ đã đặt nền tảng cho sự chấm dứt các phiền não."

16.- Con Ðường Không Có Lỗi Lầm

− Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường không có lầm lỗi, và có những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm cảnh giác.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được bảo vệ, khiến tham ưu, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự bảo vệ nguyên nhân ấy, phòng hộ nhãn căn, thật hành phòng hộ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, ví ý căn không được bảo vệ, khiến tham mưu, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo bảo vệ nguyên nhân ấy, phòng hộ ý căn, thật hành phòng hộ ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như lý gác sát thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “, Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chú tâm cảnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái, ban đêm trong canh giữa, nằm xuống như con sư tử về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy, ban đêm trong canh cuối, sau khi thức dậy trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chú tâm cảnh giác.

Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường không có lỗi lầm, và có những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 3.17 Tự Làm Tổn Thương (Hurting Yourself / Attabyābādhasutta)

"Này các Tỳ-kheo, ba điều này dẫn đến việc tự làm tổn thương mình, làm tổn thương người khác, và làm tổn thương cả hai. Ba điều đó là gì? Ác hạnh về thân, khẩu, và ý.

Đây là ba điều dẫn đến việc tự làm tổn thương mình, làm tổn thương người khác, và làm tổn thương cả hai.

Ba điều này, này các Tỳ-kheo, không dẫn đến việc tự làm tổn thương mình, làm tổn thương người khác, hoặc làm tổn thương cả hai. Ba điều đó là gì? Thiện hạnh về thân, khẩu, và ý.

Đây là ba điều không dẫn đến việc tự làm tổn thương mình, làm tổn thương người khác, hoặc làm tổn thương cả hai."

17.- Ba Pháp

− Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thế nào là ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai.

Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai. Thế nào là ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai.

AN 3.18 Cõi Trời (The Realm of the Gods / Devalokasutta)

“Này các Tỳ-kheo, nếu những người du sĩ theo tôn giáo khác hỏi các thầy: ‘Thưa Tôn giả, các vị có sống đời phạm hạnh với Sa-môn Cồ-đàm để được tái sinh vào cõi trời không?’ Khi bị hỏi như vậy, các thầy có kinh hãi, ghê tởm, và nhàm chán không?”

“Bạch Thế Tôn, có.”

“Vậy thì, dường như các thầy kinh hãi, ghê tởm, và nhàm chán với tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, vinh quang, và quyền lực trên trời. Vậy thì các thầy càng nên kinh hãi, xấu hổ, và ghê tởm biết bao đối với ác hạnh về thân, khẩu, và ý.”

18.- Thiên Giới

− Nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy như sau: “Chư Hiền, có phải Sa-môn Gotama sống Phạm hạnh để được sanh lên cõi Trời? “Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có bực phiền, tủi nhục, chán ngấy hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Như vậy, này các Tỷ Kheo, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy đối với thiên thọ mạng; các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy đối với thiên sắc, thiên lạc, thiên danh vọng, thiên thù thắng, còn nói gì, này các Tỷ Kheo, đối vói thân làm ác, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào, đối với miệng nói ác… đối với ý nghĩ ác, các Thầy cảm thấy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào.

AN 3.19 Người Bán Hàng (1) (A Shopkeeper (1st) / Paṭhamapāpaṇikasutta)

"Này các Tỳ-kheo, một người bán hàng có ba yếu tố thì không thể kiếm thêm tài sản hoặc gia tăng tài sản đã có. Ba yếu tố đó là gì? Đó là khi một người bán hàng không chú tâm cẩn thận vào công việc của mình vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi chiều. Một người bán hàng có ba yếu tố này thì không thể kiếm thêm tài sản hoặc gia tăng tài sản đã có.

Cũng vậy, một Tỳ-kheo có ba phẩm chất thì không thể kiếm thêm thiện pháp hoặc gia tăng thiện pháp đã có. Ba phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỳ-kheo không chú tâm cẩn thận vào một đề mục thiền định làm nền tảng cho sự nhập định vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi chiều.

Một Tỳ-kheo có ba phẩm chất này thì không thể kiếm thêm thiện pháp hoặc gia tăng thiện pháp đã có.

Một người bán hàng có ba yếu tố thì có thể kiếm thêm tài sản hoặc gia tăng tài sản đã có. Ba yếu tố đó là gì? Đó là khi một người bán hàng chú tâm cẩn thận vào công việc của mình vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi chiều. Một người bán hàng có ba yếu tố này thì có thể kiếm thêm tài sản hoặc gia tăng tài sản đã có.

Cũng vậy, một Tỳ-kheo có ba phẩm chất thì có thể kiếm thêm thiện pháp hoặc gia tăng thiện pháp đã có. Ba phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỳ-kheo chú tâm cẩn thận vào một đề mục thiền định làm nền tảng cho sự nhập định vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi chiều.

Một Tỳ-kheo có ba phẩm chất này thì có thể kiếm thêm thiện pháp hoặc gia tăng thiện pháp đã có."

19.- Người Buôn Bán

− Thành tựu ba chi phần, này các Tỷ-kheo, một người buôn bán không thâu nhận được tài sản chưa thâu nhận và không tăng trưởng tài sản đã được thâu nhận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán, vào buổi sáng không có nhiệt tâm chăm chú vào công việc, vào buổi trưa không có nhiệt tâm chăm chú vào công việc, vào buổi chiều không có nhiệt tâm chăm chú vào công việc. Thành tựu với ba chi phần này, này các Tỷ-kheo, một người buôn bán không thâu nhận được tài sản chưa được thâu nhận và không tăng trưởng tài sản đã được thâu nhận.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo thành tựu ba chi phần, không thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, và không tăng trưởng được thiện pháp đã được thâu nhận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vào buổi sáng không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi trưa không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi chiều không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng. Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo không thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, và không tăng trưởng thiện pháp đã được thâu nhận.

Thành tựu ba chi phần, này các Tỷ-kheo, một người buôn bán thâu nhận được tài sản chưa thâu nhận, tăng trưởng tài sản đã được thâu nhận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán, vào buổi sáng có nhiệt tâm chăm chú vào công việc, vào buổi trưa có nhiệt tâm chăm chú vào công việc, vào buổi chiều có nhiệt tâm chăm chú vào công việc. Thành tựu với ba chi phần này, này các Tỷ-kheo, một người buôn bán thâu nhận được tài sản chưa được thâu nhận và không tăng trưởng tài sản đã được thâu nhận.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu ba pháp, Tỷ kheo thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, tăng trưởng thiện pháp đã được thâu nhận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo vào buổi sáng có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi trưa có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi chiều có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, và tăng trưởng thiện pháp đã được thâu nhận.

AN 3.20 Người Bán Hàng (2) (A Shopkeeper (2nd) / Dutiyapāpaṇikasutta)

"Này các Tỳ-kheo, một người bán hàng có ba yếu tố thì sớm kiếm được tài sản lớn và dồi dào. Ba yếu tố đó là gì? Đó là khi một người bán hàng thấy rõ, không mệt mỏi, và có người hỗ trợ.

Và thế nào là một người bán hàng thấy rõ? Đó là khi một người bán hàng biết về một sản phẩm: ‘Sản phẩm này được mua với giá này và bán với giá này. Với số vốn đầu tư này, nó sẽ mang lại lợi nhuận chừng này.’ Đó là cách một người bán hàng thấy rõ.

Và thế nào là một người bán hàng không mệt mỏi? Đó là khi một người bán hàng khéo léo trong việc mua bán sản phẩm. Đó là cách một người bán hàng không mệt mỏi.

Và thế nào là một người bán hàng có người hỗ trợ? Đó là khi các gia chủ giàu có, sung túc, và có tài sản hoặc con cái của gia chủ biết về ông ta: ‘Người bán hàng giỏi này thấy rõ và không mệt mỏi. Họ có khả năng chu cấp cho vợ con, và trả lại tiền cho chúng ta theo thời gian.’ Họ gửi tiền cho người bán hàng, nói: ‘Với số tiền này, này bạn bán hàng, hãy kiếm tiền để chu cấp cho vợ con, và trả lại cho chúng tôi theo thời gian.’ Đó là cách một người bán hàng có người hỗ trợ.

Một người bán hàng có ba yếu tố này thì sớm kiếm được tài sản lớn và dồi dào.

Cũng vậy, một Tỳ-kheo có ba phẩm chất thì sớm kiếm được thiện pháp lớn và dồi dào. Ba phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỳ-kheo thấy rõ, không mệt mỏi, và có người hỗ trợ.

Và thế nào là một Tỳ-kheo thấy rõ? Đó là khi một Tỳ-kheo thực sự hiểu rõ: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguyên nhân của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ’. Đó là cách một Tỳ-kheo thấy rõ.

Và thế nào là một Tỳ-kheo không mệt mỏi? Đó là khi một Tỳ-kheo sống với tinh tấn đã được khơi dậy để từ bỏ bất thiện pháp và nắm giữ thiện pháp. Họ mạnh mẽ, kiên cường tinh tấn, không lười biếng khi nói đến việc phát triển thiện pháp. Đó là cách một Tỳ-kheo không mệt mỏi.

Và thế nào là một Tỳ-kheo có người hỗ trợ? Đó là khi theo thời gian, một Tỳ-kheo đến gặp những Tỳ-kheo đa văn—người thừa kế giáo pháp, người đã ghi nhớ kinh, luật, và các bài giảng—và hỏi họ những câu hỏi: ‘Bạch Tôn giả, tại sao lại nói điều này? Điều đó có nghĩa là gì?’ Những vị Tôn giả đó làm sáng tỏ điều chưa rõ, làm hiển lộ điều ẩn khuất, và giải trừ nghi ngờ đối với nhiều vấn đề còn nghi ngờ. Đó là cách một Tỳ-kheo có người hỗ trợ.

Một Tỳ-kheo có ba phẩm chất này thì sớm kiếm được thiện pháp lớn và dồi dào."

20.- Người Buôn Bán

− Thành tựu với ba chi phần, này các Tỷ-kheo, người buôn bán không bao lâu đạt được về tài sản lớn mạnh và rộng lớn. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán có mắt, khéo phấn đấu xây dựng được cơ bản.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người buôn bán có mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán biết các thương phẩm. Vật này mua như vậy, bán như vậy, sẽ đưa lại tiền như vậy, tiền lời như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán có mắt.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thương gia khéo léo mua và bán các thương phẩm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người thương gia xây dựng được căn bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán được các gia chủ hay con các gia chủ, được các nhà giàu, có tiền bạc lớn, có tài sản lớn biết đến như sau: “Người buôn bán này là người có mắt, khéo phấn đấu, có đủ sức cấp dưỡng vợ con, và thường trả tiền lời cho chúng ta. Chúng ta trao hàng hóa cho người này: “Này bạn thương gia, hãy lấy tiền này, xây dựng tài sản để nuôi dưỡng vợ con và thường thường trả tiền lời cho chúng tôi”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán xây dựng do có cơ bản.

Thành tưụ với ba chi phần này, này các Tỷ kheo, người buôn bán, không bao lâu đạt dến tài sản lớn mạnh và rộng lớn.

Cũng vậy, này các Tỷ kheo, thành tựu với ba pháp, vị Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến lớn mạnh và rộng lớn về các Thiện pháp. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có mắt khéo phấn đấu và xây dựng được cơ bản.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có mắt? ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ” … như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo có mắt.

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tin cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, làm cho sanh khởi các pháp thiện, dõng mãnh, kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-gà-ma (A-hàm) bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, thường thường đến yết kiến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Pháp này ý nghĩa gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác còn có những chỗ nghi ngờ, các vị ấy giải thích các sự nghi ngờ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản.

Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến sự lớn mạnh và rộng lớn về các thiện pháp.

Từ ngữ:

  • Tỳ-kheo/Mendicant /Bhikkhu: Người xuất gia theo đạo Phật, sống đời không nhà, giữ giới luật và tu tập để đạt giác ngộ.
  • Pháp/Principle /Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về cuộc sống và vũ trụ, con đường tu tập.
  • Như Lai/Realized One /Tathāgata: Một trong những danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”, chỉ sự giác ngộ hoàn toàn.
  • Pháp Luân/Wheel of Dhamma /Dhamma-cakka: Biểu tượng cho giáo pháp của Đức Phật, sự chuyển động của giáo pháp mang lại lợi ích cho chúng sinh.
  • Hộ trì các căn môn/Guarding the sense doors /Indriya-saṁvara: Giữ gìn các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không để chúng bị cuốn theo cảnh vật bên ngoài mà sinh ra tham lam, giận dữ.
  • Thiện pháp/Skillful qualities /Kusala-dhamma: Những điều tốt đẹp, có lợi ích cho bản thân và người khác, giúp tâm thanh tịnh (ví dụ: lòng từ bi, trí tuệ, sự bố thí).
  • Bất thiện pháp/Unskillful qualities /Akusala-dhamma: Những điều xấu, có hại cho bản thân và người khác, làm tâm ô nhiễm (ví dụ: tham lam, giận dữ, si mê).
  • Phiền não/Defilements /Kilesa: Những tâm trạng xấu làm ô nhiễm tâm trí, khiến chúng ta khổ đau (ví dụ: tham, sân, si, kiêu mạn, nghi ngờ).
  • Giải thoát tâm và giải thoát bằng tuệ/Freedom of heart and freedom by wisdom /Ceto-vimutti paññā-vimutti: Sự giải thoát khỏi phiền não bằng cách làm cho tâm thanh tịnh (giải thoát tâm) và bằng cách hiểu rõ sự thật về cuộc sống (giải thoát bằng tuệ).
  • Thân, khẩu, ý/Body, speech, and mind /Kāya, vacī, mano: Ba cách chúng ta hành động và tạo nghiệp: qua thân thể, qua lời nói, và qua suy nghĩ.