Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Các Hạng Người

AN 3.21 Với Saviṭṭha (Kinh Samiddha) Samiddhasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Rừng Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Bấy giờ, Tôn giả Saviṭṭha và Tôn giả Mahākoṭṭhita đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), và chào hỏi Tôn giả.

Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, họ ngồi xuống một bên và Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Saviṭṭha: “Này Hiền giả Saviṭṭha, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân (direct witness/thân chứng), người đạt đến tri kiến (one attained to view/kiến đáo), và người giải thoát bằng đức tin (one freed by faith/tín giải thoát). Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, Hiền giả tin rằng ai là người cao quý nhất?”

“Này Hiền giả Sāriputta, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân, người đạt đến tri kiến, và người giải thoát bằng đức tin. Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, tôi tin rằng người giải thoát bằng đức tin là cao quý nhất. Tại sao vậy? Bởi vì năng lực đức tin (faculty of faith/tín căn) của người này là vượt trội.”

Rồi Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākoṭṭhita: “Này Hiền giả Koṭṭhika, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân, người đạt đến tri kiến, và người giải thoát bằng đức tin. Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, Hiền giả tin rằng ai là người cao quý nhất?”

“Này Hiền giả Sāriputta, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân, người đạt đến tri kiến, và người giải thoát bằng đức tin. Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, tôi tin rằng người chứng ngộ bằng thân là cao quý nhất. Tại sao vậy? Bởi vì năng lực định tâm (faculty of immersion/định căn) của người này là vượt trội.”

Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta: “Này Hiền giả Sāriputta, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân, người đạt đến tri kiến, và người giải thoát bằng đức tin. Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, Hiền giả tin rằng ai là người cao quý nhất?”

“Này Hiền giả Koṭṭhika, có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng người nào? Người chứng ngộ bằng thân, người đạt đến tri kiến, và người giải thoát bằng đức tin. Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời. Trong ba hạng người này, tôi tin rằng người đạt đến tri kiến là cao quý nhất. Tại sao vậy? Bởi vì năng lực trí tuệ (faculty of wisdom/tuệ căn) của người này là vượt trội.”

Rồi Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Saviṭṭha và Tôn giả Mahākoṭṭhita: “Mỗi người chúng ta đã nói lên từ tấm lòng mình. Nào, các Hiền giả, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và trình bày với Ngài về việc này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Vâng, thưa Hiền giả,” họ đáp. Rồi Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Saviṭṭha, và Tôn giả Mahākoṭṭhita đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, và ngồi xuống một bên. Sau đó, Tôn giả Sāriputta kể lại cho Đức Phật toàn bộ cuộc thảo luận của họ.

"Này Sāriputta, trong vấn đề này, không dễ để tuyên bố một cách dứt khoát rằng một trong ba hạng người này là cao quý nhất. Trong một số trường hợp, một người giải thoát bằng đức tin đang thực hành để đạt đến sự hoàn thiện (arahatta/A-la-hán quả), trong khi người chứng ngộ bằng thân và người đạt đến tri kiến là bậc Nhất lai (once-returner/Tư-đà-hàm) hoặc bậc Bất lai (non-returner/A-na-hàm).

Trong vấn đề này, không dễ để tuyên bố một cách dứt khoát rằng một trong ba hạng người này là cao quý nhất. Trong một số trường hợp, một người chứng ngộ bằng thân đang thực hành để đạt đến sự hoàn thiện, trong khi người giải thoát bằng đức tin và người đạt đến tri kiến là bậc Nhất lai hoặc bậc Bất lai.

Trong vấn đề này, không dễ để tuyên bố một cách dứt khoát rằng một trong ba hạng người này là cao quý nhất. Trong một số trường hợp, một người đạt đến tri kiến đang thực hành để đạt đến sự hoàn thiện, trong khi người giải thoát bằng đức tin và người chứng ngộ bằng thân là bậc Nhất lai hoặc bậc Bất lai.

Này Sāriputta, trong vấn đề này, không dễ để tuyên bố một cách dứt khoát rằng một trong ba hạng người này là cao quý nhất."

III. Phẩm Người

21.- Chứng Thực Với Thân

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Jetanava, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Savittha, Tôn giả Mahàkotthita đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả những lời chào đón hỏi thăm … Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Savittha đang ngồi xuống một bên:

− Có ba hạng người này, này Hiền giả Savittha, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, này Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, này Hiền giả, hạng người nào Hiền giả chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn?

− Có ba hạng người này, này Hiền giả Sàriputta, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, này Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, thưa Hiền giả, hạng người tín giải, hạng người này, tôi chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn. Vì cớ sao? Vì rằng, thưa Hiền giả, với hạng người này, tín căn được tăng thượng.

Rồi Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahàkotthita:

− Có ba hạng người này, này Hiền giả Kotthita, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, thưa Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, này Hiền giả, hạng người nào Hiền giả chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn?

− Có ba hạng người này, này Hiền giả Sàriputta, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, này Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, thưa Hiền giả, hạng người thân chứng, hạng người này, tôi chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn. Vì cớ sao? Vì rằng, thưa Hiền giả, với hạng người này, định căn được tăng thượng.

Rồi Tôn giả Mahàkotthita thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Có ba hạng người này, thưa Hiền giả Sàriputta, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, thưa Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, này Hiền giả, hạng người nào Hiền giả chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn?

− Có ba hạng người này, này Hiền giả Kotthita, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Thân chứng, kiến chí, tín giải. Ba hạng người này, thưa Hiền giả, có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba hạng người này, thưa Hiền giả, hạng người kiến chí, hạng người này, tôi chấp nhận là hy hữu hơn, là thù diệu hơn. Vì cớ sao? Vì rằng, thưa Hiền giả, với hạng người này, tuệ căn được tăng thượng.

Rồi Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Savittha và Tôn giả Mahàkotthita như sau:

− Thưa các Hiền giả, tất cả chúng ta đã trả lời, tuỳ theo biện tài của mình. Thưa các Hiền giả, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến chúng ta sẽ hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta hãy như vậy thọ trì.

− Vâng, thưa Hiền giả.

Tôn giả Savittha và Tôn giả Mahàkotthita vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Rồi Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Savittha và Tôn giả Mahàkotthita đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống, một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta thuật lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện đã xảy ra với Tôn giả Savittha và Tôn giả Mahàkotthita.

− Ở đây, này Sàriputta, thật không dễ gì để trả lời một chiều là hạng người này hy hữu hơn, thù diệu hơn trong ba hạng người kia. Sự kiện này xảy ra, này Sàriputta, là hạng người tín giải này là hạng người đang hướng đến A-la-hán, hạng người thân chứng này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai, hạng người kiến chí này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai.

Ở đây, này Sàriputta, thật không dễ gì để trả lời một chiều là hạng người này hy hữu hơn, thù diệu hơn trong ba hạng người kia. Sự kiện này xảy ra, này Sàriputta, là hạng người thân chứng này là hạng người đang hướng đến A-la-hán, là hạng người tín giải này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai, hạng người kiến chí này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai.

Ở đây, này Sàriputta, thật không dễ gì để trả lời một chiều là hạng người này hy hữu hơn, thù diệu hơn trong ba hạng người kia. Sự kiện này xảy ra, này Sàriputta, là hạng người kiến chí này là hạng người đang hướng đến A-la-hán, còn hạng người tín giải này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai, và hạng người thân chứng này là hạng người Nhất Lai hay Bất Lai.

Ở đây, này Sàriputta, thật không dễ gì để trả lời một chiều rằng hạng người này là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba hạng người kia?

AN 3.22 Bệnh Nhân (Kinh Bệnh Nhân) Gilānasutta

"Có ba hạng bệnh nhân này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào?

Trong một số trường hợp, có bệnh nhân sẽ không hồi phục khỏi bệnh tật, dù có hay không có được thức ăn và thuốc men phù hợp, và người chăm sóc có khả năng.

Trong một số trường hợp, có bệnh nhân sẽ hồi phục khỏi bệnh tật, dù có hay không có được thức ăn và thuốc men phù hợp, và người chăm sóc có khả năng.

Trong một số trường hợp, có bệnh nhân có thể hồi phục khỏi bệnh tật, nhưng chỉ khi họ có được thức ăn và thuốc men phù hợp, và người chăm sóc có khả năng, còn nếu không có những thứ này thì không thể hồi phục.

Này các Tỳ-kheo, chính vì hạng bệnh nhân cuối cùng này—người chỉ hồi phục nếu có được thức ăn và thuốc men phù hợp, và người chăm sóc có khả năng—mà thức ăn, thuốc men, và người chăm sóc được quy định. Nhưng cũng vì hạng bệnh nhân này, mà các bệnh nhân khác cũng nên được chăm sóc.

Đó là ba loại bệnh nhân được tìm thấy ở trên đời.

Tương tự như vậy, có ba hạng người giống như bệnh nhân này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Một số người không đi vào con đường chắc chắn liên quan đến các phẩm chất thiện lành (skillful qualities/thiện pháp), dù có hay không có được gặp một Đấng Như Lai (Realized One/Tathāgata), và được nghe giáo pháp và sự huấn luyện mà Ngài tuyên bố.

Một số người đi vào con đường chắc chắn liên quan đến các phẩm chất thiện lành, dù có hay không có được gặp một Đấng Như Lai, và được nghe giáo pháp và sự huấn luyện mà Ngài tuyên bố.

Một số người có thể đi vào con đường chắc chắn liên quan đến các phẩm chất thiện lành, nhưng chỉ khi họ được gặp một Đấng Như Lai, và được nghe giáo pháp và sự huấn luyện mà Ngài tuyên bố, còn khi không có được những điều đó thì không thể.

Này các Tỳ-kheo, chính vì hạng người cuối cùng này mà việc giảng dạy Pháp (Dhamma/Giáo Pháp) được quy định, tức là người có thể đi vào con đường chắc chắn liên quan đến các phẩm chất thiện lành, nhưng chỉ khi họ được gặp một Đấng Như Lai, và được nghe giáo pháp và sự huấn luyện mà Ngài tuyên bố. Nhưng cũng vì hạng người này, mà những người khác cũng nên được giảng Pháp.

Đó là ba hạng người giống như bệnh nhân được tìm thấy ở trên đời."

22.- Người Bệnh

− Có mặt ba hạng người bệnh này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một hạng người bệnh, dầu có được ăn các món thích hợp, hay không được các món ăn thích hợp, dầu có được các thuốc men thích hợp hay không được các thuốc men thích hợp, dầu có được sự chăm sóc thích đáng hay không được sự chăm sóc thích đáng, không được bình phục từ chứng bệnh ấy.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bệnh, dầu có được ăn các món thích hợp, hay không được các món ăn thích hợp, dầu có được các thuốc men thích hợp hay không được các thuốc men thích hợp, dầu có được sự chăm sóc thích đáng hay không được sự chăm sóc thích đáng, được bình phục từ chứng bệnh ấy.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bệnh, có được ăn các món thích hợp, không phải không được, có các thuốc men thích hợp, không phải không được, có được sự chăm sóc thích đáng, không phải không được, được bình phục từ chứng bệnh ấy.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người bệnh này, có được các món ăn thích hợp, không phải không được, có được các thuốc men thích hợp, không phải không được, có được sự chăm sóc thích đáng, không phải không được, được bình phục khỏi chứng bệnh ấy. Chính do duyên với hạng người bệnh này, này các Tỷ-kheo, các món ăn thích hợp với người bệnh đã được chấp thuận, các thuốc men thích hợp với người bệnh đã được chấp thuận., sự chăm sóc thích đáng với người bệnh đã được chấp thuận. Chính do duyên với hạng người bệnh này, này các Tỷ-kheo, các người bệnh khác cần phải được chăm sóc như vậy.

Ba hạng người bệnh này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này, có mặt, xuất hiện ở đời, có thể so sánh với ba hạng người bệnh này. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được thấy Như Lai hay không được thấy Như Lai, được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, hay không được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, không có đi vào tánh quyết định, tánh chơn chánh đối với các Thiện pháp. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không được thấy Như Lai, được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, hay không được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, đi vào tánh quyết định, tánh chơn chánh đối với các Thiện pháp.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được thấy Như Lai, không phải không được thấy, được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, không phải không được nghe Pháp và Luật do Như Lai trình bày, đi vào tánh quyết định, tánh chơn chánh đối với các Thiện pháp.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được thấy Như Lai, không phải không được thấy, được nghe Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, không phải không được nghe, đi vào tánh quyết định, tánh chơn chánh đối với các Thiện pháp. Chính do duyên hạng người này, này các Tỷ-kheo, thuyết pháp được chấp nhận, và chính do duyên hạng người này, này các Tỷ-kheo, pháp được thuyết giảng cho các người khác.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời được ví dụ với ba hạng người bệnh.

AN 3.23 Sự Lựa Chọn (Kinh Hành) Saṅkhārasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào?

Thứ nhất, có người chọn lựa những thứ (choices/hành) gây đau khổ qua thân, khẩu, và ý. Sau khi theo những lựa chọn này, họ tái sinh vào một thế giới đau khổ, nơi những sự tiếp xúc đau khổ chạm đến họ. Bị chạm bởi những sự tiếp xúc đau khổ, họ trải nghiệm những cảm giác đau khổ hoàn toàn là đau đớn—giống như chúng sinh trong địa ngục.

Thứ hai, có người chọn lựa những thứ mang lại niềm vui qua thân, khẩu, và ý. Sau khi theo những lựa chọn này, họ tái sinh vào một thế giới vui thú, nơi những sự tiếp xúc vui thú chạm đến họ. Bị chạm bởi những sự tiếp xúc vui thú, họ trải nghiệm những cảm giác vui thú của hạnh phúc hoàn hảo—giống như các vị trời ở cõi Quang Âm (gods of universal beauty/quang âm thiên).

Thứ ba, có người chọn lựa cả những sự gây đau khổ lẫn niềm vui qua thân, khẩu, và ý. Sau khi tạo ra những lựa chọn này, họ tái sinh vào một thế giới vừa đau khổ vừa vui thú, nơi những sự tiếp xúc đau khổ và vui thú chạm đến họ. Bị chạm bởi cả những sự tiếp xúc đau khổ và vui thú, họ trải nghiệm cả những cảm giác đau khổ và vui thú lẫn lộn giữa niềm vui và nỗi đau—giống như loài người, một số vị trời, và một số chúng sinh trong các cõi thấp (beings in the underworld/đọa xứ).

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời."

23.- Chất Chứa.

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chất chứa các thân hành có não hại, chất chứa các khẩu hành có não hại, chất chứa các ý hành có não hại. Sau khi chất chứa thân hành có não hại, chất chứa khẩu hành có não hại, chất chứa ý hành có não hại, người ấy sanh trong thế giới có não hại. Vì phải sanh trong thế giới có não hại, người ấy cảm giác các cảm xúc có não hại. Người ấy, vì cảm giác các cảm xúc có não hại, nên cảm giác các cảm thọ có não hại, nhất hướng đau khổ, như các chúng sanh ở trong địa ngục.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chất chứa thân hành không có não hại … chất chứa ý hành không có não hại. Sau khi chất chứa thân hành không có não hại … chất chứa ý hành không có não hại, người ấy được sanh trong thế giới không có não hại. Ðược sanh trong thế giới không có não hại, người ấy cảm giác các cảm xúc không có não hại. Do cảm giác các cảm xúc không có não hại, người ấy cảm giác các cảm thọ không có não hại, nhất hướng lạc, như chư Thiên ở Biến Tịnh Thiên.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chất chứa thân hành có não hại và không có não hại … chất chứa ý hành có não hại và không có não hại. Sau khi chất chứa thân hành có não hại và không có não hại …, sau khi chất chứa ý hành có não hại và không có não hại, được sanh vào thế giới có não hại và không có não hại. Ðược sanh vào thế giới có não hại và không có não hại, người ấy cảm giác các cảm xúc có não hại và không có não hại. Do cảm giác các cảm xúc có não hại và không có não hại, người ấy cảm giác các cảm thọ có não hại và không có não hại, xen lẫn lạc và khổ, ví như loài Người, một loại chư Thiên và một loại sanh trong đọa xứ.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

AN 3.24 Rất Hữu Ích (Kinh Nhiều Lợi Ích) Bahukārasutta

"Này các Tỳ-kheo, có ba hạng người này rất hữu ích cho người khác. Ba hạng nào?

Người đã giúp các thầy quy y (go for refuge/quy y) Phật, Pháp, và Tăng đoàn (Saṅgha/Tăng già). Người này rất hữu ích cho người khác.

Hơn nữa, người đã giúp các thầy hiểu rõ một cách chân thực: ‘Đây là khổ (suffering/khổ)’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ (origin of suffering/tập)’ … ‘Đây là sự diệt khổ (cessation of suffering/diệt)’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ (practice that leads to the cessation of suffering/đạo)’. Người này rất hữu ích cho người khác.

Hơn nữa, người đã giúp các thầy chứng ngộ sự giải thoát tâm không còn ô nhiễm (undefiled freedom of heart/vô lậu tâm giải thoát) và sự giải thoát bằng trí tuệ (freedom by wisdom/tuệ giải thoát) ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của mình do sự chấm dứt các phiền não (defilements/lậu hoặc). Người này rất hữu ích cho người khác.

Đó là ba hạng người rất hữu ích cho người khác.

Và Ta nói rằng không có ai hữu ích cho người khác hơn ba hạng người này. Và Ta cũng nói rằng không dễ để đền đáp công ơn của ba hạng người này bằng cách đảnh lễ họ, đứng dậy chào đón họ, chắp tay chào họ, và giữ đúng lễ nghi đối với họ; hoặc bằng cách cúng dường họ y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh."

24.- Nhiều Lợi Ích

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba?

Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.

Lại nửa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết: “Ðây là khổ”, rõ biết: “Ðây là khổ tập”, rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát. Tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh …

AN 3.25 Giống Như Kim Cương (Kinh Kim Cương Dụ) Vajirūpamasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Người có tâm như vết thương hở, người có tâm như tia chớp, và người có tâm như kim cương.

Và ai là người có tâm như vết thương hở? Đó là người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Ngay cả khi bị chỉ trích nhẹ nhàng, họ cũng nổi giận, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và họ biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Họ giống như một vết thương đang mưng mủ, khi bạn dùng gậy hay đá đánh vào, nó càng chảy mủ nhiều hơn. Tương tự như vậy, có người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Ngay cả khi bị chỉ trích nhẹ nhàng, họ cũng nổi giận, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và họ biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Đây được gọi là người có tâm như vết thương hở.

Và ai là người có tâm như tia chớp? Đó là người hiểu rõ một cách chân thực: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Họ giống như một người có mắt tinh tường trong đêm tối, nhìn thấy được nhờ ánh chớp. Tương tự như vậy, có người hiểu rõ một cách chân thực: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Đây được gọi là người có tâm như tia chớp.

Và ai là người có tâm như kim cương? Đó là người chứng ngộ sự giải thoát tâm không còn ô nhiễm và sự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của mình do sự chấm dứt các phiền não. Giống như kim cương, không có gì có thể cắt được nó, ngay cả đá quý hay đá thường. Tương tự như vậy, có người chứng ngộ sự giải thoát tâm không còn ô nhiễm và sự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này… Đây được gọi là người có tâm như kim cương.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời."

25.- Vết Thương Làm Mủ

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với tâm ví dụ như vết thương, với tâm ví dụ như chớp sáng, với tâm ví dụ như kim cang.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người phẫn nỗ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như môt vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người phẫn nộ và bực tức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người được ví dụ với vết thương đang làm mủ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng ngườivới tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật rõ biết: “Ðây là khổ”,… như thật rõ biết “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, … như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hạng người với tâm được ví như chớp sáng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

AN 3.26 Người Nên Gần Gũi (Kinh Thân Cận) Sevitabbasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Có người mà các thầy không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ. Có người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ. Có người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ với sự tôn kính và tôn trọng.

Ai là người mà các thầy không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ? Đó là người thua kém về giới hạnh (ethics/giới), định tâm (immersion/định), và trí tuệ (wisdom/tuệ). Các thầy không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ một người như vậy, trừ khi vì lòng từ bi và thương xót.

Ai là người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ? Đó là người tương đồng về giới hạnh, định tâm, và trí tuệ. Các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ một người như vậy. Tại sao vậy? Nghĩ rằng: ‘Vì giới hạnh của chúng ta tương đồng, chúng ta có thể thảo luận về giới hạnh, cuộc nói chuyện sẽ trôi chảy, và cả hai chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái. Vì định tâm của chúng ta tương đồng, chúng ta có thể thảo luận về định tâm, cuộc nói chuyện sẽ trôi chảy, và cả hai chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái. Vì trí tuệ của chúng ta tương đồng, chúng ta có thể thảo luận về trí tuệ, cuộc nói chuyện sẽ trôi chảy, và cả hai chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái.’ Đó là lý do tại sao các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ một người như vậy.

Ai là người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ với sự tôn kính và tôn trọng? Đó là người vượt trội về giới hạnh, định tâm, và trí tuệ. Các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ một người như vậy với sự tôn kính và tôn trọng. Tại sao vậy? Nghĩ rằng: ‘Ta sẽ hoàn thiện toàn bộ phạm vi giới hạnh mà ta chưa hoàn thiện, hoặc hỗ trợ bằng trí tuệ trong mọi tình huống đối với giới hạnh mà ta đã hoàn thiện. Ta sẽ hoàn thiện toàn bộ phạm vi định tâm mà ta chưa hoàn thiện, hoặc hỗ trợ bằng trí tuệ trong mọi tình huống đối với định tâm mà ta đã hoàn thiện. Ta sẽ hoàn thiện toàn bộ phạm vi trí tuệ mà ta chưa hoàn thiện, hoặc hỗ trợ bằng trí tuệ trong mọi tình huống đối với trí tuệ mà ta đã hoàn thiện.’ Đó là lý do tại sao các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ người này với sự tôn kính và tôn trọng.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời.

Người giao du với kẻ thấp kém sẽ đi xuống,
Nhưng giao du với người ngang bằng,
bạn sẽ không bao giờ suy thoái;
Theo bậc tốt nhất,
bạn sẽ nhanh chóng vươn lên,
Vì vậy, bạn nên bầu bạn
Với những người tốt hơn mình."

26.- Cần Phải Thân Cận

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Có hạng người này, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, nên thân cận gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thấp kém về giới, định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường, trừ khi vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đồng đẳng với mình về giới định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với ý nghĩ: “(Cả hai) thiện xảo về giới, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về giới, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai chúng ta, và sẽ làm cho hai chúng ta được an lạc. (Cả hai) là thiện xảo về định … (Cả hai) là thiện xảo về tuệ, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về tuệ, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai, và chúng sẽ làm cho hai chúng ta an lạc”. Cho nên, người như vậy nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường? Thế nào là hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thù thắng về giới, định và tuệ. Hạng người ấy, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính tôn trọng, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với y nghĩ: “Như vậy, nếu giới chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu giới được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu định chưa đầy đủ, ta sẽ làm cho đầy đủ, hay nếu định được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu tuệ chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu tuệ được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Cho nên, với hạng người này, sau khi cung kính tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

Người gần kẻ hạ liệt
Rồi cũng bị hạ liệt
Thân cận người đồng đẳng
Ðược khỏi bị thối đọa
Ai gần bậc thù thắng
Mau chóng được thăng tiến
Do vậy hãy sống chung
Bậc ưu thắng hơn mình

AN 3.27 Người Nên Chán Ghét (Kinh Chán Ghét) Jigucchitabbasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Có người mà các thầy nên chán ghét, và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ. Có người mà các thầy nên nhìn với tâm xả (equanimity/xả), và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ. Có người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ.

Ai là người mà các thầy nên chán ghét, và không kết giao, đồng hành, hay phục vụ? Đó là người không có giới hạnh, có phẩm chất xấu xa, ô uế, hành vi đáng ngờ, lén lút, không phải là sa-môn (ascetic/sa-môn) hay người tu hành chân chính (spiritual practitioner/phạm hạnh) thực sự—mặc dù tự nhận là như vậy—bên trong thối rữa, mưng mủ, và đồi bại. Các thầy nên chán ghét một người như vậy, và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ. Tại sao vậy? Ngay cả khi các thầy không noi theo gương xấu của người đó, các thầy vẫn bị mang tiếng xấu: ‘Người này có bạn bè, người đồng hành, và người giao du xấu.’ Họ giống như một con rắn sống trong đống phân. Ngay cả khi nó không cắn, nó vẫn làm bẩn bạn. Tương tự như vậy, ngay cả khi các thầy không noi theo gương xấu của người đó, các thầy vẫn bị mang tiếng xấu: ‘Người này có bạn bè, người đồng hành, và người giao du xấu.’ Đó là lý do tại sao các thầy nên chán ghét một người như vậy, và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ.

Ai là người mà các thầy nên nhìn với tâm xả, và không kết giao, đồng hành, hay phục vụ? Đó là người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Ngay cả khi bị chỉ trích nhẹ nhàng, họ cũng nổi giận, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và họ biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Họ giống như một vết thương đang mưng mủ, khi bạn dùng gậy hay đá đánh vào, nó càng chảy mủ nhiều hơn. Tương tự như vậy, có người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Họ giống như một khúc củi mun cháy dở, khi bạn dùng gậy hay đá đánh vào, nó càng kêu xèo xèo và lách tách hơn. Tương tự như vậy, có người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Họ giống như một cống rãnh, khi bạn dùng gậy hay đá khuấy lên, nó càng bốc mùi hôi thối hơn. Tương tự như vậy, có người hay cáu kỉnh và nóng nảy. Ngay cả khi bị chỉ trích nhẹ nhàng, họ cũng nổi giận, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và họ biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Các thầy nên nhìn một người như vậy với tâm xả, và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ. Tại sao vậy? Nghĩ rằng: ‘Họ có thể lăng mạ hoặc xúc phạm ta, hoặc làm hại ta.’ Đó là lý do tại sao các thầy nên nhìn một người như vậy với tâm xả, và không nên kết giao, đồng hành, hay phục vụ họ.

Ai là người mà các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ? Đó là người có giới hạnh, có phẩm chất tốt đẹp. Các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ một người như vậy. Tại sao vậy? Ngay cả khi các thầy không noi theo gương tốt của người đó, các thầy vẫn có được tiếng tốt: ‘Người này có bạn bè, người đồng hành, và người giao du tốt.’ Đó là lý do tại sao các thầy nên kết giao, đồng hành, và phục vụ một người như vậy.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời.

Người giao du với kẻ thấp kém sẽ đi xuống,
Nhưng giao du với người ngang bằng,
bạn sẽ không bao giờ suy thoái;
Theo bậc tốt nhất,
bạn sẽ nhanh chóng vươn lên,
Vì vậy, bạn nên bầu bạn
Với những người tốt hơn mình."

27.- Ðáng Ghê Tởm

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Có hạng người đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, cần phải nhìn một cách thản nhiên, không cần gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, co hạng người ác giới, tính tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, đầy những tham dục, tánh tình bất tịnh. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì rằng, dầu không thuận theo một chút nào tri kiến của người như vậy, nhưng tiếng xấu được đồn xa về người ấy là có bạn ác, có bằng hữu ác, tôn sùng kẻ ác. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con rắn đi vào trong đống phân, dầu nó không cắn ai, người cũng bị (đống phân) làm cho ô uế. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dầu không thuận theo một chút nào tri kiến của người như vậy … là tôn sùng kẻ ác. Cho nên, hạng người như vậy đáng ghê tởm, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người cần phải nhìn một cách thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít cũng tức tối, phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, hiện rõ phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như, này các Tỷ-kheo, một vết thương làm mủ, nếu bị cây gậy hay mảnh sành đánh phải, thời chảy mủ ra nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có hạng người phẫn nộ, … và bực tức. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que lửa bằng gỗ tindukà, nếu bị cây gậy hay mảnh sành đánh phải, thời xịt lửa xịt khói ra nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, … Ví như, này các Tỷ-kheo, một hố phân được cây gậy hay mảnh sành quật vào, thời mùi hôi thốt lại càng nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có hạng người phẫn nộ, sân hận và bực tức. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nhìn với cặp mắ thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì nghĩ rằng: “Người ấy có thể nhục mạ ta. Người ấy có thể chửi mắng ta. Người ấy có thể làm hại ta.” Cho nên, hạng người như vậy cần phải nhìn một cách thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường.

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người cần gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người giữ giới, tánh tình hiền thiện. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì rằng, dầu không thuận theo chúng nào tri kiến của người như vậy, nhưng tiếng tốt được đồn xa về người ấy là có bạn lành, là có bằng hữu lành, là tôn sùng kẻ lành. Cho nên, hạng người như vậy, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

Người gần kẻ hạ liệt
Rồi cũng bị hạ liệt
Thân cận người đồng đẳng
Ðược khỏi bị thối đọa
Ai gần bậc thù thắng
Mau chóng được thăng tấn
Do vậy hãy sống chung
Bậc ưu thắng hơn mình

AN 3.28 Lời Nói Như Phân (Kinh Lời Nói Như Phân) Gūthabhāṇīsutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Người có lời nói như phân, người có lời nói như hoa, và người có lời nói như mật.

Và ai là người có lời nói như phân? Đó là người được triệu tập đến một hội đồng, một cuộc họp, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến triều đình, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, họ nói ‘Tôi biết.’ Biết, họ nói ‘Tôi không biết.’ Không thấy, họ nói ‘Tôi thấy.’ Và thấy, họ nói ‘Tôi không thấy.’ Vì vậy, họ cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hoặc người khác, hoặc vì một lý do thế tục tầm thường nào đó. Đây được gọi là người có lời nói như phân.

Và ai là người có lời nói như hoa? Đó là người được triệu tập đến một hội đồng, một cuộc họp, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến triều đình, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, họ nói ‘Tôi không biết.’ Biết, họ nói ‘Tôi biết.’ Không thấy, họ nói ‘Tôi không thấy.’ Và thấy, họ nói ‘Tôi thấy.’ Vì vậy, họ không cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hoặc người khác, hoặc vì một lý do thế tục tầm thường nào đó. Đây được gọi là người có lời nói như hoa.

Và ai là người có lời nói như mật? Đó là người từ bỏ lời nói ác độc. Họ nói năng ôn hòa, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và dễ chịu đối với mọi người. Đây được gọi là người có lời nói như mật.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời."

28.- Nói Như Hoa

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: “Ngươi biết gì, hãy nói lên”. Người ấy không biết, nói rằng: “Tôi có biết”; có biết, nói rằng: “Tôi không biết”; không thấy, nói rằng: “Tôi có thấy”; có thấy, nói rằng: “Tôi không thấy”. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói như phân.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: “Ngươi biết gì, hãy nói lên”. Người ấy không biết, nói rằng: “Tôi không biết”; có biết, nói rằng: “Tôi có biết”; không thấy, nói rằng: “Tôi không thấy”; có thấy, nói rằng: “Tôi có thấy”. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói như hoa.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

AN 3.29 Người Mù (Kinh Người Mù) Andhasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Người mù, người một mắt, và người hai mắt.

Ai là người mù? Đó là người không có loại thị kiến cần thiết để kiếm thêm của cải hoặc để làm tăng trưởng của cải họ đã có. Họ cũng không có loại thị kiến cần thiết để biết sự khác biệt giữa các phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối tăm và sáng sủa. Đây được gọi là người mù.

Ai là người một mắt? Đó là người có loại thị kiến cần thiết để kiếm thêm của cải và làm tăng trưởng của cải họ đã có. Nhưng họ không có loại thị kiến cần thiết để biết sự khác biệt giữa các phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối tăm và sáng sủa. Đây được gọi là người một mắt.

Ai là người hai mắt? Đó là người có loại thị kiến cần thiết để kiếm thêm của cải và làm tăng trưởng của cải họ đã có. Và họ có loại thị kiến cần thiết để biết sự khác biệt giữa thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, hoặc các phẩm chất thuộc về phía tối tăm và sáng sủa. Đây được gọi là người hai mắt.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời.

Của cải phù hợp chẳng có,
Công đức cũng chẳng làm.
Họ thua thiệt cả đôi đường,
Những kẻ mù, mắt đã hỏng.

Còn người một mắt đây,
Được giải thích rõ ràng.
Bằng cách tốt lẫn xấu,
Kẻ gian xảo kiếm tiền.

Bằng cả lừa đảo, trộm cắp,
Và cả bằng lời dối gian,
Chàng trai trẻ khéo tích lũy tiền,
Và hưởng thụ thú vui xác thịt.
Từ đây họ xuống địa ngục—
Người một mắt bị hủy hoại.

Còn người hai mắt đây,
Được giải thích rõ ràng,
Là hạng người tốt nhất.
Của cải họ kiếm được chính đáng,
Tiền bạc có được nhờ công sức khó nhọc.

Họ bố thí với tâm ý tốt lành nhất,
Người có tâm hồn bình an ấy.
Họ đi đến nơi tốt đẹp,
Nơi không còn sầu muộn.

Người mù và người một mắt,
Bạn nên tránh xa.
Nhưng hãy giữ người hai mắt gần bên,
Hạng người tốt nhất."

29.- Mù Lòa

− Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Người mù, người một mắt, người có hai mắt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người mù? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người mù.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có một mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; nhưng không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người một mắt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có hai mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; và có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có hai mắt.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

Kẻ mù, mắt bị hư
Cả hai đều bất hạnh
Vừa công đức không làm
Vừa không được tài sản
Thứ đến là hạng người
Ðược gọi là một mắt
Liên hệ pháp phi pháp
Tầm cầu các tài sản
Với trộm và man trá
Cùng với cả nói láo
Vừa khéo góp tài sản
Vừa giỏi hưởng dục lạc
Từ đây đến địa ngục
Người một mắt bị hại.

Còn vị có hai mắt
Ðược gọi người tối thượng
Thâu hoạch các tài sản
Một cách đúng chánh pháp
Các tài sản đã có,
Tăng trưởng đúng chánh pháp
Bố thí, ý tốt đẹp
Không phân vân ngập ngừng
Ðược sanh chỗ hiền thiện
Ði chỗ ấy không sầu

Vậy hãy tránh thật xa
Người mù, người một mắt
Thân cận bậc hai mắt
Bậc tối thắng trượng phu!

AN 3.30 Úp Ngược (Kinh Úp Ngược) Avakujjasutta

"Có ba hạng người này được tìm thấy ở trên đời. Ba hạng nào? Người có trí tuệ úp ngược, người có trí tuệ trên đùi, và người có trí tuệ rộng khắp.

Và ai là người có trí tuệ úp ngược? Đó là người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Nhưng ngay cả khi đang ngồi đó, người ấy không chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Và khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ cũng không chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Giống như khi một cái nồi đầy nước bị úp ngược, nước chảy hết ra ngoài và không còn lại gì. Tương tự như vậy, có người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Nhưng ngay cả khi đang ngồi đó, người ấy không chú tâm vào bài pháp ở phần đầu, phần giữa, hay phần cuối. Và khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ cũng không chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Đây được gọi là người có trí tuệ úp ngược.

Và ai là người có trí tuệ trên đùi? Đó là người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi đang ngồi đó, người ấy chú tâm vào bài pháp ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Nhưng khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ không chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Giống như một người có nhiều loại thức ăn khác nhau chất đầy trên đùi—như vừng, gạo, bánh kẹo, hay táo tàu—đến nỗi nếu họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi mà không chú ý, mọi thứ sẽ rơi vãi hết. Tương tự như vậy, có người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi đang ngồi đó, người ấy chú tâm vào bài pháp ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Nhưng khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ không chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Đây được gọi là người có trí tuệ trên đùi.

Và ai là người có trí tuệ rộng khắp? Đó là người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi đang ngồi đó, người ấy chú tâm vào bài pháp ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Và khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ tiếp tục chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Giống như khi một cái nồi đầy nước được đặt ngay ngắn, nước ở yên trong nồi và không chảy ra ngoài. Tương tự như vậy, có người thường đến tu viện để nghe pháp trước sự hiện diện của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo giảng cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và các vị ấy trình bày một đời sống tu hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi đang ngồi đó, người ấy chú tâm vào bài pháp ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Và khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, họ tiếp tục chú tâm vào phần đầu, phần giữa, hay phần cuối của bài pháp. Đây được gọi là người có trí tuệ rộng khắp.

Đó là ba hạng người được tìm thấy ở trên đời.

Người trí tuệ úp ngược,
Là kẻ ngốc không thấy,
Dù thường xuyên lui tới
Nơi các Tỳ-kheo hiện diện,

Người như vậy chẳng học được
Phần đầu, giữa, hay cuối
Của bài pháp giảng dạy,
Vì trí tuệ thiếu sót.

Người trí tuệ trên đùi
Tốt hơn thế, người ta nói;
Dù thường xuyên lui tới
Nơi các Tỳ-kheo hiện diện,

Người như vậy chỉ học được
Phần đầu, giữa, và cuối
Khi còn ngồi tại chỗ;
Nhưng chỉ nắm bắt lời lẽ,
Vì khi đứng dậy, sự hiểu biết tan biến,
Và những gì đã học đều mất đi.

Người trí tuệ rộng khắp
Tốt hơn thế, người ta nói;
Và nếu họ cũng thường xuyên
Lui tới nơi các Tỳ-kheo hiện diện,

Người như vậy có thể học
Phần đầu, giữa, và cuối
Khi còn ngồi tại chỗ;
Và khi đã nắm bắt lời lẽ,

Họ ghi nhớ với tâm ý tốt lành nhất.
Người có tâm hồn bình an ấy,
Thực hành theo đúng giáo pháp,
Sẽ chấm dứt được khổ đau."

30.- Lộn Ngược

− Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ lộn ngược? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo. các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … Người ấy, tại chỗ ngồi ấy … có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có trí tuệ rộng lớn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè được dựng đứng, nước chứa trong ấy được giữ lại, không có chảy đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ở đây, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có trí tuệ rộng lớn.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Hạng trí tuệ lộn ngược
Không thông minh, không mắt
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Họ không học được gì,
Họ không có trí tuệ

Hạng trí tuệ bắp vế
Ðược gọi là tốt hơn
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Ðứng dậy không hiểu rõ
Quên mất điều đã nắm

Bậc trí tuệ rộng lớn
Ðược gọi tốt hơn cả
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Thọ trì điều được nghe
Suy tư điều tối thắng
Với ý không dao động
Là hạng người như vậy
Thực hành pháp, tùy pháp
Có thể đoạn khổ đau.

Từ ngữ:

  • Người chứng ngộ bằng thân/direct witness/kāyasakkhī: Người đã trải nghiệm một phần sự thật giải thoát qua cơ thể, thường là qua các tầng thiền định sâu, nhưng trí tuệ chưa hoàn toàn phát triển. Giống như nếm thử một món ăn ngon nhưng chưa biết hết công thức.
  • Người đạt đến tri kiến/attained to view/diṭṭhippatta: Người đã hiểu rõ giáo lý, đặc biệt là Tứ Diệu Đế, bằng trí tuệ, nhưng sự thực hành về thiền định có thể chưa sâu bằng người chứng ngộ bằng thân. Giống như biết rõ công thức món ăn nhưng chưa nếm thử nhiều.
  • Người giải thoát bằng đức tin/freed by faith/saddhāvimutta: Người có lòng tin mạnh mẽ vào Phật, Pháp, Tăng và thực hành theo lời dạy, đạt được giải thoát nhờ đức tin đó, dù sự hiểu biết trí tuệ hay kinh nghiệm thiền định có thể không nổi trội bằng hai hạng trên. Giống như tin tưởng đầu bếp và ăn món ăn họ nấu mà không cần biết công thức hay tự nếm thử trước.
  • Định/immersion/samādhi: Sự tập trung tâm trí vào một đối tượng duy nhất, làm cho tâm trở nên yên tĩnh, vững vàng, không bị phân tán. Giống như khi bạn tập trung xem một bộ phim hay mà quên hết mọi thứ xung quanh.
  • Tuệ/wisdom/paññā: Sự hiểu biết đúng đắn về bản chất thật sự của mọi sự vật, hiện tượng, đặc biệt là về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Giống như khi bạn hiểu rõ tại sao một cái máy hoạt động và biết cách sửa chữa nó.
  • Giới/ethics/sīla: Những quy tắc đạo đức giúp chúng ta sống đúng đắn, không làm hại mình và người khác, như không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối… Giống như luật lệ giao thông giúp mọi người đi lại an toàn.
  • Pháp/Dhamma/Dhamma: Lời dạy của Đức Phật về sự thật và con đường dẫn đến giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau. Cũng có nghĩa là bản chất thật sự của mọi thứ. Giống như sách hướng dẫn chỉ cho bạn cách sống tốt đẹp và hạnh phúc.
  • Tăng đoàn/Saṅgha/Saṅgha: Cộng đồng những người tu hành theo lời dạy của Đức Phật, cùng nhau thực hành và hỗ trợ nhau trên con đường tu tập. Giống như một nhóm bạn cùng học tập và giúp đỡ nhau tiến bộ.
  • Phiền não/defilements/āsava: Những trạng thái tâm tiêu cực như tham lam, sân hận, si mê… làm ô nhiễm tâm trí và gây ra khổ đau. Giống như bụi bẩn làm bẩn quần áo và khiến bạn khó chịu.
  • Quy y/go for refuge/saraṇaṃ gacchati: Hành động tìm kiếm sự nương tựa, che chở và hướng dẫn nơi Phật (Đấng Giác Ngộ), Pháp (Lời dạy của Ngài), và Tăng (Cộng đồng tu hành). Giống như tìm đến một nơi an toàn khi gặp nguy hiểm hoặc tìm thầy giỏi để học hỏi.