Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Ngắn

AN 3.41 Hiện Diện Sammukhībhāvasutta

Này các Tỳ-kheo, khi có ba điều này hiện diện, một người nam cư sĩ có tín tâm (faith/lòng tin) tạo được nhiều công đức (merit/phước báu). Ba điều đó là gì? Khi có tín tâm hiện diện, khi có vật để cho hiện diện, và khi có những người xứng đáng nhận của cúng dường hiện diện. Khi ba điều này hiện diện, một người nam cư sĩ có tín tâm tạo được nhiều công đức.

V. Phẩm Nhỏ

41.- Sự Có Mặt

− Do sự có mặt của ba pháp, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Thế nào là ba?

Do sự có mặt của lòng tin, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Do sự có mặt của vật bố thí, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Do sự có mặt của các vị xứng đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.

Do sự có mặt của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.

AN 3.42 Ba Nền Tảng Tiṭhānasutta

Này các Tỳ-kheo, có ba nền tảng để nhận biết một người có tín tâm và lòng tin vững chắc. Ba điều đó là gì? Họ thích gặp gỡ những người có giới hạnh (ethical people/người đức hạnh). Họ thích nghe Chánh pháp (true teaching/giáo pháp chân chính). Và họ sống tại gia, tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt (stain of stinginess/vết nhơ bỏn xẻn), rộng rãi cho đi, tay luôn mở rộng, thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây là ba nền tảng để nhận biết một người có tín tâm và lòng tin vững chắc.

Thích gặp người đức hạnh;
muốn nghe lời Chánh pháp;
đã trừ sạch vết nhơ keo kiệt:
người như vậy gọi là người có tín tâm.

42.- Sự Kiện

− Do ba sự kiện, này các Tỷ-kheo, một người được biết là có lòng tin. Thế nào là ba?

Ưa thấy người có giới hạnh, ưa nghe diệu pháp, với tâm ly cấu uế của xan tham, sống trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát vật bố thí. Do ba sự kiện này, này các Tỷ-kheo, một người được biết là có lòng tin.

Thích thấy người giới hạnh
Muốn được nghe diệu pháp
Nhiếp phục uế xan tham
Vị ấy gọi có tin

AN 3.43 Lý Do Chính Đáng Atthavasasutta

Này các Tỳ-kheo, xem xét ba lý do này là đủ động lực để giảng Pháp (Dhamma/Giáo pháp) cho người khác. Ba lý do đó là gì? Khi người giảng hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp. Khi người nghe hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp. Khi cả người giảng và người nghe đều hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp.

Xem xét ba lý do này là đủ động lực để giảng Pháp cho người khác.

43.- Ba Lợi Ích

− Thấy rõ ba lợi ích này (lý do, lợi ích) là cần thiết cho một người thuyết pháp cho người khác. Thế nào là ba?

Ai thuyết pháp cần phải liễu giải nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Ai nghe pháp cần phải liễu giải nghĩa và cần phải liễu giải pháp. Người thuyết pháp và cả người nghe pháp cần phải liễu giải nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Thấy rõ ba lợi ích này, này các Tỷ-kheo, là cần thiết cho một người thuyết pháp cho người khác.

AN 3.44 Khi Cuộc Trò Chuyện Trôi Chảy Kathāpavattisutta

Này các Tỳ-kheo, trong ba trường hợp, cuộc trò chuyện sẽ trôi chảy. Ba trường hợp đó là gì? Khi người giảng hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp. Khi người nghe hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp. Khi cả người giảng và người nghe đều hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp. Đây là ba trường hợp mà cuộc trò chuyện sẽ trôi chảy.

44.- Trường Hợp

− Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo, cuộc pháp thoại được diễn tiến có lợi ích. Thế nào là ba?

Ai thuyết pháp cần phải liễu giải nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Ai nghe pháp … liễu giải pháp. Ai thuyết pháp và ai nghe pháp, cả hai cần phải liễu giải nghĩa và cần phải liễu giải pháp. Có ba trường hợp này, này các Tỷ-kheo, là cuộc pháp thoại được diễn tiến có lợi ích.

AN 3.45 Được Người Trí Khuyến Khích Paṇḍitasutta

Này các Tỳ-kheo, ba điều này được những bậc trí (astute true persons/bậc thiện trí, bậc chân nhân) khuyến khích. Ba điều đó là gì? Bố thí (giving/cho đi), xuất gia (going forth/từ bỏ đời sống thế tục), và chăm sóc cha mẹ. Đây là ba điều được những bậc trí khuyến khích.

Người đức hạnh khuyên nên bố thí,
sống không làm hại ai, biết tự kiềm chế, tự chủ;
chăm sóc mẹ cha,
và các vị tu hành ôn hòa.

Đây là những điều người tốt khuyến khích,
mà người trí nên vun bồi.
Bậc thánh, người có tuệ nhãn,
sẽ hưởng cảnh giới an lành.

45.- Bổn Phận

− Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Thế nào là ba?

Bố thí, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Xuất gia, này các Tỷ-kheo, được bậc Chân nhân tuyên bố. Hầu hạ cha mẹ, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố.

Biết bố thí thiện sĩ
Bất hại, chế ngự căn
Tự điều, hầu cha mẹ,
Các vị sống phạm hạnh,
Bổn phận kẻ thiện khen
Người Hiền thực hiện chúng
Bậc Thánh thấy rõ vậy
Ðạt được đời an lạc.

AN 3.46 Người Có Giới Hạnh Sīlavantasutta

Này các Tỳ-kheo, khi những người xuất gia (renunciates/người sống đời phạm hạnh) có giới hạnh được một thị trấn hay làng mạc hộ trì, người dân ở đó tạo được nhiều công đức qua ba cách. Ba cách đó là gì? Qua thân, khẩu và ý. Khi những người xuất gia có giới hạnh được một thị trấn hay làng mạc hộ trì, người dân ở đó tạo được nhiều công đức qua ba cách này.

46.- Bậc Giới Hạnh

− Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỷ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện được gặt nhiều công đức. Thế nào là ba? Bởi thân, bởi lời nói, bởi ý.

Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỷ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện này, được gặt nhiều công đức.

AN 3.47 Đặc Tính Của Pháp Hữu Vi Saṅkhatalakkhaṇasutta

Này các Tỳ-kheo, pháp hữu vi (conditioned/pháp do duyên tạo) có ba đặc tính này. Ba đặc tính đó là gì? Sự sinh khởi (arising/sanh) hiện rõ, sự diệt đi (vanishing/diệt) hiện rõ, và sự biến đổi trong khi tồn tại hiện rõ. Đây là ba đặc tính của pháp hữu vi.

Đặc Tính Của Pháp Vô Vi

Pháp vô vi (unconditioned/pháp không do duyên tạo) có ba đặc tính này. Ba đặc tính đó là gì? Không có sự sinh khởi hiện rõ, không có sự diệt đi hiện rõ, và không có sự biến đổi trong khi tồn tại hiện rõ. Đây là ba đặc tính của pháp vô vi.

47.- Hửu Vi

− Có ba tướng hữu vi này, này các Tỷ-kheo, cho các pháp hữu vi. Thế nào là ba?

Sanh được trình bày rõ, diệt được trình bày rõ, sự biến dị khi đang trú được trình bày rõ. Có ba tướng hữu vi này, này các Tỷ-kheo, cho các pháp hữu vi.

− Có ba tướng vô vi này, này các Tỷ-kheo, cho các pháp vô vi. Thế nào là ba?

Sanh không được trình bày rõ, diệt không được trình bày rõ, sự biến dị khi đang trú không được trình bày rõ. Có ba tướng vô vi này, này các Tỷ-kheo, cho các pháp vô vi.

AN 3.48 Vua Của Các Loài Núi Pabbatarājasutta

Này các Tỳ-kheo, những cây Sa-la lớn nhờ dựa vào Hy-mã-lạp sơn, vua của các loài núi, mà tăng trưởng theo ba cách. Ba cách đó là gì? Cành, lá và tán lá; vỏ cây và chồi non; và giác cây và lõi cây. Những cây Sa-la lớn nhờ dựa vào Hy-mã-lạp sơn, vua của các loài núi, mà tăng trưởng theo ba cách này.

Cũng vậy, một gia đình nhờ dựa vào người chủ gia đình có tín tâm mà tăng trưởng theo ba cách. Ba cách đó là gì? Tín tâm, giới hạnh, và trí tuệ (wisdom/tuệ). Một gia đình nhờ dựa vào người chủ gia đình có tín tâm mà tăng trưởng theo ba cách này.

Dựa vào núi đá vững chãi
nơi hoang dã, rừng sâu hiểm trở,
cây lớn lên
thành chúa tể sơn lâm.

Cũng vậy, khi người chủ gia đình
có giới hạnh và tín tâm,
nhờ họ mà gia đình tăng trưởng:
con cái, vợ chồng, và họ hàng,
đồng nghiệp, thân quyến,
và những người nương nhờ sinh kế.

Thấy được hạnh kiểm của người đức hạnh,
lòng quảng đại và việc thiện,
những người thấy rõ
cũng làm theo như vậy.

Đã thực hành giáo pháp ở đời này,
con đường dẫn đến cảnh giới tốt đẹp,
họ hoan hỷ trong cõi trời,
hưởng thụ mọi lạc thú mong muốn.

48.- Núi

− Dựa vào vua núi Tuyết Sơn, này các Tỷ-kheo, các cây sàlà to lớn được lớn lên ba sự tăng trưởng. Thế nào là ba?

Chúng lớn lên về cành, về lá, về toàn bộ lá cây, chúng lớn lên về vỏ trong và vỏ ngoài hay mầm non, chúng lớn lên về giác cây và lõi cây. Dựa vào vua núi Tuyết Sơn, này các Tỷ-kheo, các cây sàlà to lớn được lớn lên ba sự tăng trưởng này.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dựa vào thiện nam tử có lòng tin, các người trong gia đình được lớn lên ba sự tăng trưởng. Thế nào là ba?

Tăng trưởng về lòng tin, tăng trưởng về giới, tăng trưởng về trí tuệ. Dựa vào thiện nam tử có lòng tin, này các Tỷ-kheo, các người trong gia đình được lớn lên ba sự tăng trưởng này.

Như núi đá sừng sựng
Trong rừng sâu rừng rậm
Các cây lớn dựa vào
Lớn lên những thần rừng
Cũng vậy, thiện nam tử
Có lòng tin giới đức
Vợ con và gia quyến
Dựa vào để lớn mạnh
Với tùy tùng bà con
Nhờ cậy để sinh sống
Thấy vị giới hạnh làm
Giới, bố thí, thiện hành
Nếu chúng có mắt sáng
Chúng làm theo vị ấy
Ở đây, làm đúng pháp
Con đường đến cõi lành
Trong Thiên giới hỷ lạc
Ước muốn được hoàn hỷ.

AN 3.49 Nhiệt Tâm Ātappakaraṇīyasutta

Này các Tỳ-kheo, trong ba trường hợp, các thầy nên nhiệt tâm (keen/tinh cần, nỗ lực). Ba trường hợp đó là gì? Các thầy nên nhiệt tâm ngăn chặn các pháp bất thiện (bad, unskillful qualities/điều xấu ác) chưa sinh khởi không cho sinh khởi. Các thầy nên nhiệt tâm làm phát sinh các pháp thiện (skillful qualities/điều tốt lành). Và các thầy nên nhiệt tâm chịu đựng những cơn đau thể xác—như dao cắt, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, đe dọa tính mạng. Trong ba trường hợp này, các thầy nên nhiệt tâm.

Một vị Tỳ-kheo nhiệt tâm ngăn chặn các pháp bất thiện chưa sinh khởi không cho sinh khởi. Họ nhiệt tâm làm phát sinh các pháp thiện. Và họ nhiệt tâm chịu đựng những cơn đau thể xác—như dao cắt, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, đe dọa tính mạng. Vị ấy được gọi là Tỳ-kheo nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm (mindful/luôn ghi nhớ) để chân chính chấm dứt khổ đau.

49.- Nhiệt Tình Tinh Tấn

− Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo, nhiệt tình cần phải làm mạnh. Thế nào là ba?

Các ác bất thiện pháp chưa sanh, cần nhiệt tình làm mạnh đừng cho sanh. Các Thiện pháp chưa sanh, cần nhiệt tình làm mạnh để cho sanh. Ðể chịu đựng các thân thọ khổ đã sanh, nhói đau, da diết đau, gay gắt đau, không thích thú, không thích ý, đoạt mạng sống, cần nhiệt tình làm mạnh. Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo, nhiệt tình cần phải làm mạnh.

Khi nào Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, nhiệt tình làm mạnh đừng để cho sanh, đối với các pháp thiện chưa sanh, nhiệt tình làm mạnh để cho sanh khởi. Ðể chịu đựng các thân thọ đã sanh, khổ đau, nhói đau, da diết đau, gay gắt đau, không thích thú, không thích ý, đoạt mạng sống, nhiệt tình làm mạnh. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị có nhiệt tình, thận trọng, chánh niệm để chơn chánh đoạn tận khổ đau.

AN 3.50 Tên Đại Trộm Mahācorasutta

Này các Tỳ-kheo, một tên đại trộm có ba yếu tố sẽ đột nhập nhà cửa, cướp đoạt tài sản, trộm cắp ở những ngôi nhà biệt lập, và chặn đường cướp bóc. Ba yếu tố đó là gì?

Một tên đại trộm dựa vào địa hình hiểm trở, nơi ẩn nấp kín đáo, và những người có quyền thế. Và làm thế nào một tên đại trộm dựa vào địa hình hiểm trở? Đó là khi tên đại trộm dựa vào những vùng ven sông khó tiếp cận hoặc núi non hiểm trở. Đó là cách một tên đại trộm dựa vào địa hình hiểm trở.

Và làm thế nào một tên đại trộm dựa vào nơi ẩn nấp kín đáo? Đó là khi tên đại trộm dựa vào đám cỏ dày, cây cối rậm rạp, một góc khuất, hoặc một khu rừng lớn. Đó là cách một tên đại trộm dựa vào nơi ẩn nấp kín đáo.

Và làm thế nào một tên đại trộm dựa vào những người có quyền thế? Đó là khi tên đại trộm dựa vào các nhà cai trị hoặc các đại thần của họ. Họ nghĩ: ‘Nếu ai đó tố cáo ta điều gì, những nhà cai trị hoặc đại thần này sẽ bênh vực ta trong vụ việc.’ Và điều đó xảy ra đúng như vậy. Đó là cách một tên đại trộm dựa vào những người có quyền thế.

Một tên đại trộm có ba yếu tố này sẽ đột nhập nhà cửa, cướp đoạt tài sản, trộm cắp ở những ngôi nhà biệt lập, và chặn đường cướp bóc.

Cũng vậy, khi một Tỳ-kheo (mendicant/vị khất sĩ Phật giáo) xấu ác có ba yếu tố, họ tự làm cho mình tan nát và hư hỏng. Họ đáng bị người trí quở trách và chỉ trích, và họ tạo ra nhiều điều ác. Ba yếu tố đó là gì?

Một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào địa hình hiểm trở, nơi ẩn nấp kín đáo, và những người có quyền thế.

Và làm thế nào một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào địa hình hiểm trở? Đó là khi một Tỳ-kheo xấu ác có hành vi bất thiện qua thân, khẩu và ý. Đó là cách một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào địa hình hiểm trở.

Và làm thế nào một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào nơi ẩn nấp kín đáo? Đó là khi một Tỳ-kheo xấu ác có tà kiến (wrong view/thấy biết sai lầm), họ chấp chặt vào một quan điểm cực đoan. Đó là cách một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào nơi ẩn nấp kín đáo.

Và làm thế nào một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào những người có quyền thế? Đó là khi một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào các nhà cai trị hoặc các đại thần của họ. Họ nghĩ: ‘Nếu ai đó tố cáo ta điều gì, những nhà cai trị hoặc đại thần này sẽ bênh vực ta trong vụ việc.’ Và điều đó xảy ra đúng như vậy. Đó là cách một Tỳ-kheo xấu ác dựa vào những người có quyền thế.

Khi một Tỳ-kheo xấu ác có ba phẩm chất này, họ tự làm cho mình tan nát và hư hỏng. Họ đáng bị người trí quở trách và chỉ trích, và họ tạo ra nhiều điều ác.

50.- Giặc Cướp

− Do đầy đủ ba điều kiện, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kể cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm, dựa vào kẻ có quyền lực.

Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào con sông khó lội qua, hay sự quanh co hiểm trở của núi non. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào sự quanh co hiểm trở.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm cỏ, hay rừng rậm cây, hay khóm rừng, hay đám rừng lớn rậm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua và nghĩ như sau: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy hay các vị đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực.

Do đầy đủ ba điều kiện này, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kể cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo đầy đủ ba pháp, tự mình sử sự một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm và dựa vào kẻ có quyền lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào sự hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo đầy đủ với thân hành quanh co hiểm trở, với ngữ hành quanh co hiểm trở, với ý hành quanh co hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến, đầy đủ những tri kiến đi đến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, dựa vào các vua hay các đại thần của vua, ác Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy, hay các đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền lực.

Ðầu đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.

Từ ngữ:

  • Tín tâm / faith / saddhā: Lòng tin trong sạch, vững chắc vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và các nguyên lý đạo đức như nghiệp và quả của nghiệp.
  • Công đức / merit / puñña: Việc làm tốt lành, thiện lành mang lại kết quả tốt đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Giống như mình gieo hạt tốt thì sẽ gặt quả ngon.
  • Giới hạnh / ethical / sīla: Việc giữ gìn các quy tắc đạo đức, không làm điều xấu bằng thân (hành động), khẩu (lời nói), ý (suy nghĩ). Giống như giữ gìn hàng rào để bảo vệ khu vườn tâm hồn.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật về sự thật của cuộc sống và con đường dẫn đến hết khổ đau. Cũng có nghĩa là “sự thật”, “quy luật tự nhiên”.
  • Bố thí / giving / dāna: Sự cho đi, chia sẻ vật chất hoặc tinh thần (như kiến thức, lời khuyên tốt) với người khác mà không mong cầu đền đáp.
  • Xuất gia / going forth / pabbajjā: Từ bỏ cuộc sống gia đình, thế tục để sống đời sống không nhà cửa, tu tập theo lời Phật dạy nhằm mục đích giải thoát.
  • Hữu vi / conditioned / saṅkhata: Những gì được tạo ra bởi các điều kiện, có sinh có diệt, luôn thay đổi (ví dụ: cơ thể, cảm xúc, suy nghĩ, thế giới vật chất).
  • Vô vi / unconditioned / asaṅkhata: Trạng thái không bị tạo tác bởi điều kiện, không sinh, không diệt, không thay đổi. Niết-bàn là pháp vô vi.
  • Nhiệt tâm / keen / ātappa: Sự cố gắng, nỗ lực hết mình, siêng năng trong việc tu tập, làm điều thiện, tránh điều ác.
  • Tỳ-kheo / mendicant / bhikkhu: Vị tu sĩ nam trong Phật giáo đã thọ giới cụ túc (giới luật cao nhất), sống đời sống khất thực, tu tập để đạt đến giải thoát.