Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Bà-la-môn

AN 3.51 Hai Vị Bà-la-môn (Thứ nhất) Paṭhamadvebrāhmaṇasutta

Khi ấy, có hai vị Bà-la-môn già, cao niên, trưởng thượng, tuổi đã cao, đi đến giai đoạn cuối của cuộc đời, đã một trăm hai mươi tuổi, đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn già, cao niên, trưởng thượng, tuổi đã cao và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; chúng tôi đã một trăm hai mươi tuổi. Và chúng tôi chưa làm điều lành, điều thiện, cũng chưa tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi. Xin Tôn giả Gotama khuyên dạy chúng tôi, xin Tôn giả Gotama chỉ bảo chúng tôi! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho chúng tôi.”

"Thật vậy, này các Bà-la-môn, các ông đã già, cao niên, trưởng thượng. Và các ông chưa làm điều lành, điều thiện, cũng chưa tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi. Thế giới này bị dẫn dắt bởi già, bệnh và chết. Nhưng sự thu thúc (restraint/chế ngự) nơi thân, khẩu, ý ở đây chính là nơi trú ẩn, nơi bảo vệ, là hòn đảo, là nơi nương tựa, là bến đỗ cho người đã khuất.

Đời này, thật quá ngắn, bị cuốn đi mãi.
Không nơi nương náu cho kẻ
>bị tuổi già dẫn dắt.
Thấy hiểm nguy này trong cái chết,
hãy làm các việc lành mang lại hạnh phúc.

Sự thu thúc thực hành ở đây—
nơi thân, khẩu, và ý—
dẫn dắt người đã khuất đến hạnh phúc,
như các việc lành đã làm khi còn sống."

VI. Phẩm Các Bà La Môn

51.- (a) Hai Người

− Có hai vị Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn, cuộc đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời, đã 120 tuổi, đi đến Thế Tôn … ngồi xuống một bên, những Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời, đã 120 tuổi, nhưng chúng tôi không làm điều lành, không làm điều thiện, không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi. Tôn giả Gotama hãy răn dạy chúng tôi, Tôn giả Gotama hãy giảng dạy chúng tôi. Nhờ vậy, chúng tôi sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

− Thật vậy, các ông là những Bà-la-môn già yếu, … đã 120 tuổi, nhưng các Ông không làm điều lành … không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi. Thật vậy, này các Bà-la-môn, thế giới này đã bị già, bệnh, chết dắt dẫn. Thế giới đã bị già, bệnh, chết dắt dẫn như vậy, này các Bà-la-môn, thời chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý trong đời này, đối với kẻ đã đi đến cõi chết, phải là chỗ nương tựa, là hang trú ẩn, là hòn cù lao (hay ngọn đèn), là chỗ quy y và là đích xứ nó đến.

Ðời sống bị dắt dẫn
Mạng sống chẳng là bao
Bị già kéo dẫn đi
Không có nơi nương tựa
Hãy luôn luôn quán tưởng
Sợ hãi tử vong này
Hãy làm các công đức
Ðưa đến chơn an lạc.
Ở đây chế ngự thân,
Chế ngự lời và ý,
Kẻ ấy dầu có chết,
Cũng được hưởng an lạc,
Vì khi còn đang sống
Ðã làm các công đức.

AN 3.52 Hai Vị Bà-la-môn (Thứ hai) Dutiyadvebrāhmaṇasutta

Khi ấy, có hai vị Bà-la-môn già—cao niên, trưởng thượng, tuổi đã cao, đi đến giai đoạn cuối của cuộc đời, đã một trăm hai mươi tuổi—đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn già, cao niên, trưởng thượng, tuổi đã cao và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; chúng tôi đã một trăm hai mươi tuổi. Và chúng tôi chưa làm điều lành, điều thiện, cũng chưa tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi. Xin Tôn giả Gotama khuyên dạy chúng tôi, xin Tôn giả Gotama chỉ bảo chúng tôi! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho chúng tôi.”

"Thật vậy, này các Bà-la-môn, các ông đã già, cao niên, trưởng thượng. Và các ông chưa làm điều lành, điều thiện, cũng chưa tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi. Thế giới này đang bốc cháy bởi già, bệnh và chết. Nhưng sự thu thúc nơi thân, khẩu, ý ở đây chính là nơi trú ẩn, nơi bảo vệ, là hòn đảo, là nơi nương tựa, là bến đỗ cho người đã khuất.

Khi nhà ông đang cháy,
ông cứu cái nồi
còn hữu dụng,
chứ không phải cái đã cháy.

Và khi thế giới đang bốc cháy
bởi tuổi già và cái chết,
ông nên cứu vớt bằng cách bố thí,
vì những gì đã cho đi là được cứu vớt.

Sự thu thúc thực hành ở đây—
nơi thân, khẩu, và ý—
dẫn dắt người đã khuất đến hạnh phúc,
như các việc lành đã làm khi còn sống."

52.- (b) Hai Người

Rồi Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn … đi đến Thế Tôn, bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời, đã 120 tuổi, nhưng chúng tôi không làm điều lành, không làm điều thiện, không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi. Tôn giả Gotama hãy răn dạy chúng tôi, Tôn giả Gotama hãy giảng dạy chúng tôi. Nhờ vậy, chúng tôi sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

− Thật vậy, các ông là những Bà-la-môn già yếu, … đã 120 tuổi, nhưng các Ông không làm điều lành … là chỗ quy y và là đích xứ nó đến.

Trong ngôi nhà bị cháy,
Ðồ đạc được đem ra,
Ðồ ấy lợi cho nó,
Không phải đồ bị cháy,
Cũng vậy đời bị cháy,
Do già chết thiêu đốt,
Nhờ bố thí tự cứu
Khéo cứu, đồ bố thí.
Ở đây, chế ngự thân,
Chế ngự lời và ý,
Kẻ ấy dầu có chết,
Cũng được hưởng an lạc,
Vì khi còn đang sống
Ðã làm các công đức.

AN 3.53 Một Vị Bà-la-môn Nào Đó Aññatarabrāhmaṇasutta

Khi ấy, một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Ngồi xuống một bên, ông thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, người ta nói về ‘một giáo pháp thiết thực hiện tại (a teaching apparent in the present life/sanditthika dhamma)’. Giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri là như thế nào?”

"Này Bà-la-môn, người tham lam, bị lòng tham chi phối, xâm chiếm, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi lòng tham được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm. Đây là cách giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri.

Người sân hận, bị lòng sân chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi lòng sân được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm. Đây cũng là cách giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri.

Người si mê, bị si mê chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi si mê được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm. Đây cũng là cách giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri."

“Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! Như người dựng lại những gì bị đổ, bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng đoàn Tỳ-kheo (mendicant Saṅgha/Tỳ-kheo Tăng). Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ (lay follower/upasaka) đã quy y trọn đời.”

53.- Vị Bà La Môn

Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?

− Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, … tâm khổ tâm ưu. Sân được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại… không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, … tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

AN 3.54 Một Vị Du Sĩ Paribbājakasutta

Khi ấy, một vị du sĩ (wanderer/paribbājaka) Bà-la-môn đi đến Thế Tôn… Ngồi xuống một bên, ông thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, người ta nói về ‘một giáo pháp thiết thực hiện tại’. Giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri là như thế nào?”

"Này du sĩ, người tham lam, bị lòng tham chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi lòng tham được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm.

Người tham lam làm điều ác qua thân, khẩu, ý. Khi lòng tham được từ bỏ, người ấy không làm điều ác qua thân, khẩu, ý.

Người tham lam không thực sự hiểu rõ lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai. Khi lòng tham được từ bỏ, người ấy thực sự hiểu rõ lợi ích của mình, lợi ích của người, và lợi ích của cả hai. Đây là cách giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri.

Người sân hận… Người si mê, bị si mê chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi si mê được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm.

Người si mê làm điều ác qua thân, khẩu, ý. Khi si mê được từ bỏ, người ấy không làm điều ác qua thân, khẩu, ý.

Người si mê không thực sự hiểu rõ lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai. Khi si mê được từ bỏ, người ấy thực sự hiểu rõ lợi ích của mình, lợi ích của người, và lợi ích của cả hai. Đây cũng là cách giáo pháp thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri."

“Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

54.- Bà La Môn Cư Sĩ

Rồi một Bà-la-môn du sĩ đi đến; Thế Tôn, sau khi đến, … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn du sĩ bạch Thế Tôn:

− Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?

− Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm … cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ … không cảm thọ tâm khổ tâm ưu.

Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, vị ấy làm ác hạnh về thân … ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý. Tham ái được đoạn trừ, vị ấy không làm ác hạnh về thân … ác hạnh về lời nói …, ác hạnh về ý.

Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, vị ấy không như thật rõ biết lợi ích của mình, không như thật rõ biết lo của người, không như thật rõ biết lợi ích của cả hai. Tham ái được đoạn trừ, vị ấy như thật rõ biết lợi ích của mình, như thật rõ biết lo của người, như thật rõ biết lợi ích của cả hai

Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn …

Bị si làm mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ đến hại mình … nên suy nghĩ đến hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại … không cảm thọ tâm khổ tâm ưu.

Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục,tâm bị xâm chiếm, nên làm ác hạnh về thân … ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý. Si được đoạn trừ, thời không làm ác hạnh về thân … ác hạnh về lời nói …, ác hạnh về ý.

Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên không như thật rõ biết lợi ích của mình, không như thật rõ biết lợi ích cho người, không như thật rõ biết lợi ích của cả hai. Si được đoạn trừ, thời như thật rõ biết lợi ích cho mình, như thật rõ biết lợi ích cho người, như thật rõ biết lợi ích của cả hai

Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

AN 3.55 Tịch Diệt Nibbutasutta

Khi ấy, Bà-la-môn Jānussoṇi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, người ta nói rằng ‘sự tịch diệt (extinguishment/nibbāna/niết-bàn) là thiết thực hiện tại’. Sự tịch diệt thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri là như thế nào?”

"Này Bà-la-môn, người tham lam, bị lòng tham chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi lòng tham được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm. Đây là cách sự tịch diệt thiết thực hiện tại.

Người sân hận…

Người si mê, bị si mê chi phối, khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy cảm thọ khổ ưu về tâm. Khi si mê được từ bỏ, người ấy không khởi ý làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Người ấy không cảm thọ khổ ưu về tâm. Đây cũng là cách sự tịch diệt thiết thực hiện tại.

Khi ông kinh nghiệm được sự đoạn tận hoàn toàn tham, sân, si, đó là cách sự tịch diệt thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri."

“Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

55.- Niết-bàn

Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Thiết thực hiện tại là Niết bàn, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?

− Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Bị si làm uế nhiễm, này Bà-la-môn … Bị sân làm mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ đến hại mình … nên suy nghĩ đến hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại … không cảm thọ tâm khổ tâm ưu.

Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Khi vị ấy, này Bà-la-môn, cảm thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ sân được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận, không có dư tàn. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, … được người trí tự mình giác hiểu.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

AN 3.56 Tan Rã Palokasutta

Khi ấy, một vị Bà-la-môn giàu có đi đến Thế Tôn, và ngồi xuống một bên, ông thưa với Ngài:

“Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe các vị Bà-la-môn quá khứ, những người cao niên, trưởng thượng, thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Ngày xưa, thế giới này đông đúc người đến nỗi tưởng như chen chúc nhau. Các làng mạc, thị trấn và kinh thành chỉ cách nhau một tầm gà bay.’ Thưa Ngài, nguyên nhân nào, lý do gì mà ngày nay số lượng người đã suy giảm, sự sụt giảm dân số là rõ ràng, và toàn bộ làng mạc, thị trấn, thành phố, và quốc gia đã biến mất?”

"Này Bà-la-môn, ngày nay, con người chỉ yêu thích ham muốn phi pháp. Họ bị lòng tham phi đạo đức chi phối, và sa lầy vào tà tục. Cầm lấy dao bén, họ sát hại lẫn nhau. Và vì thế nhiều người chết đi. Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao ngày nay số lượng người đã suy giảm.

Hơn nữa, vì ngày nay con người chỉ yêu thích ham muốn phi pháp… nên trời không mưa đủ, vì thế có nạn đói, mất mùa, mùa màng thất bát biến thành rơm rạ. Và vì thế nhiều người chết đi. Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao ngày nay số lượng người đã suy giảm.

Hơn nữa, vì ngày nay con người chỉ yêu thích ham muốn phi pháp… nên các phi nhân (native spirits/yakkha) thả các loài quỷ dữ. Và vì thế nhiều người chết đi. Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao ngày nay số lượng người đã suy giảm."

“Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

56.- Người Giàu Có

Rồi một Bà-la-môn giàu có lớn đi đến Thế Tôn, … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn giàu có lớn bạch Thế Tôn:

− Con có nghe, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn thuở xưa, các trưởng lão lớn tuổi, bậc thầy của các bậc Thầy nói rằng: “Thuở xưa, thế giới này quá sung mãn, với người, - người ta nghĩ như một vực sâu không có sóng, các làng, các thị trấn, các kinh thành quá gần để một con gà trống có thể bước từ chỗ này qua chỗ kia.”

Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ?

− Ngày nay, này Bà-la-môn, loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, chúng cầm gươm sắc bén sát hại lẫn nhau. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bàla-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế … các quốc độ trở thành không quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm … bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm … vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn. Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, vì sao ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế … các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm … bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm … vì bị các tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn. Vì vậy, nhiều người mệnh chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế … các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

AN 3.57 Với Vacchagotta Vacchagottasutta

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

"Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe nói rằng Sa-môn Gotama nói thế này: ‘Chỉ nên cúng dường cho ta, không nên cho người khác. Chỉ nên cúng dường cho đệ tử của ta, không nên cho đệ tử của người khác. Chỉ những gì cúng dường cho ta mới có quả lớn, không phải những gì cúng dường cho người khác. Chỉ những gì cúng dường cho đệ tử của ta mới có quả lớn, không phải những gì cúng dường cho đệ tử của người khác.’

Tôi tin rằng những người nói điều này có lặp lại đúng lời Thế Tôn đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có cơ sở chính đáng nào để phản bác và chỉ trích không? Vì chúng tôi không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama."

"Này Vaccha, những người nói vậy không lặp lại lời Ta nói. Họ xuyên tạc Ta bằng điều sai sự thật, không đúng sự thật.

Bất cứ ai ngăn cản người khác bố thí là tạo ra chướng ngại và rào cản cho ba người. Ba người nào? Người cho bị cản trở tạo phước. Người nhận bị cản trở nhận vật cúng dường. Và tự họ đã làm tổn hại và hủy hoại chính mình. Bất cứ ai ngăn cản người khác bố thí là tạo ra chướng ngại và rào cản cho ba người này.

Này Vaccha, đây là điều Ta nói: ‘Ông thậm chí còn tạo phước bằng cách đổ nước rửa chén vào hố phân hay vũng nước tù đọng có chúng sinh trong đó, với ý nghĩ: “Mong rằng các sinh vật ở đây được nuôi dưỡng!”’ Huống nữa là đối với con người!

Tuy nhiên, Ta cũng nói rằng cúng dường cho người có giới hạnh thì có quả lớn hơn cúng dường cho người không có giới hạnh. Họ đã từ bỏ năm yếu tố, và sở hữu năm yếu tố.

Năm yếu tố họ đã từ bỏ là gì? Dục tham (sensual desire/kāmacchanda), sân hận (ill will/byāpāda), tâm trí lờ đờ và ngủ ngầm (dullness and drowsiness/thīna-middha/hôn trầm và thụy miên), bồn chồn và hối tiếc (restlessness and remorse/uddhacca-kukkucca/trạo cử và hối quá), và nghi ngờ (doubt/vicikicchā). Đây là năm yếu tố họ đã từ bỏ. (Đây là Năm Triền Cái)

Năm yếu tố họ sở hữu là gì? Toàn bộ phạm vi giới, định, tuệ, giải thoát, và tri kiến giải thoát của bậc Thánh (adept’s ethics, immersion, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom/sekha sīlakkhandha, samādhikkhandha, paññākkhandha, vimuttikkhandha, vimuttiñāṇadassanakkhandha). Đây là năm yếu tố họ sở hữu.

Ta nói rằng cúng dường cho bất kỳ ai đã từ bỏ năm yếu tố này và sở hữu năm yếu tố này thì có quả rất lớn.

Bò có thể đen hay trắng,
đỏ hay nâu vàng,
lốm đốm hay một màu,
hoặc màu bồ câu.

Nhưng khi một con được sinh ra giữa chúng,
con bò đực được điều phục—
một con vật khổng lồ, mạnh mẽ,
kéo về phía trước nhịp nhàng—
người ta chỉ att ách cho nó,
bất kể màu lông của nó.

Con người cũng vậy,
dù sinh ra ở đâu—
giữa dòng dõi quý tộc, Bà-la-môn, nông dân,
tiện dân, hay người làm nghề xác chết và nhặt rác—

một người được sinh ra giữa họ,
được điều phục, giữ đúng lời nguyện.
Vững vàng trong nguyên tắc, thành tựu giới hạnh,
chân thật, biết tàm quý,

họ đã từ bỏ sinh và tử.
Hoàn thành phạm hạnh,
đặt gánh nặng xuống, vô nhiễm,
họ đã hoàn thành nhiệm vụ
>và không còn lậu hoặc (defilements/āsava/phiền não).

Vượt qua mọi sự vật,
họ tịch diệt do không còn chấp thủ.
Trong ruộng phước vô thượng đó,
sự cúng dường tôn giáo là dồi dào.

Kẻ ngu không hiểu—
những kẻ khờ khạo vô học—
cúng dường cho những người bên ngoài,
và không thân cận bậc tịch tịnh.

Nhưng những ai thân cận bậc tịch tịnh—
người trí, được xem là tinh cần—
và có niềm tin vào Đấng Thiện Thệ
đã bén rễ sâu xa,

họ đi đến cõi trời,
hoặc được sinh ra ở đây trong gia đình tốt.
Dần dần những người trí ấy
đạt đến Niết-bàn."

57.- Vacchagotta

Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn, … Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

− Tôi có được nghe, thưa Tôn giả Gotama, Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”. Thưa Tôn giả Gotama, những ai nói rằng Sa-môn nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta … không có được quả lớn!”. Những người nói như vậy, có phải nói đúng lời nói của Tôn giả Gotama, không có xuyên tạc Tôn giả Gotama với điều không thật? Có phải họ nói như vậy là đúng pháp và thuận pháp, và những ai là người đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích? Họ không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama?

− Này Vaccha, những ai nói rằng Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho ta … có được quả lớn!”, những người ấy không nói đúng với lời nói của ta, họ đã xuyên tạc ta với điều không thật, họ đã nói láo. Này Vaccha, ai ngăn chận người khác bố thí, người ấy tạo ra ba chướng ngại pháp và đánh cắp mất ba vật. Thế nào là ba?

Người ấy làm chướng ngại người cho không được công đức, người ấy ngăn chặn người nhận không được bố thí, và tự ngã người ấy trước đã mất gốc, lại càng bị thương tổn hơn. Này Vaccha, ai ngăn chặn người cho không bố thí người khác, tạo ra ba chướng ngaị như vậy, và đánh cắp mất ba vật. Này Vaccha, ta nói như sau: “Những ai đổ đồ phế thải trên mâm bàn, hay đồ rửa chén bát vào hố phân hay hố rác rưởi (với ý nghĩ) để các loài hữu tình trong ấy nhờ đấy được ăn để sống”. Do nhân duyên ấy, này Vaccha, ta nói có đem lại công đức, còn nói gì đối với loài người.

Lại nữa, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng, cho người có giới hạnh được quả lớn, cho người ác giới không phải như vậy. Người có giới hạnh là người đã đoạn tận năm pháp và đã đầy đủ năm pháp.

Thế nào là năm pháp đã được đoạn tận? Dục tham đã được đoạn tận, sân đã được đoạn tận, hôn trầm thùy miên đã được đoạn tận, trạo hối đã được đoạn tận, nghi đã được đoạn tận, năm pháp này đã được đoạn tận.

Năm pháp nào đã được đầy đủ?

Ðầy đủ vô học giới uẩn, đầy đủ vô học định uẩn, đầy đủ vô học tuệ uẩn, đầy đủ vô học giải thoát uẩn, đầy đủ vô học giải thoát tri kiến uẩn. Vị ấy được đầy đủ năm pháp này. Ở đây, Ta tuyên bố rằng, bố thí cho người đoạn tận năm pháp, đầy đủ năm pháp có quả lớn.

Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy.
Ai điều phục thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp pháp tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu.
Quả lớn đáng cúng dường;
Như kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bực hiền
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ.
Sanh Thiên hay ở đây
Ðược sanh gia đình tốt
Bậc trí tuần tự tiến
Chứng được cảnh Niết-bàn.

AN 3.58 Với Tikaṇṇa Tikaṇṇasutta

Khi ấy, Bà-la-môn Tikaṇṇa đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Ngồi xuống một bên, trước mặt Thế Tôn, Tikaṇṇa ca ngợi các vị Bà-la-môn thông thạo Tam Veda, “Những vị Bà-la-môn như vậy là bậc thầy Tam Veda! Các vị Bà-la-môn như thế là bậc thầy Tam Veda!”

“Nhưng này Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn mô tả một vị Bà-la-môn là bậc thầy Tam Veda như thế nào?”

“Thưa Tôn giả Gotama, đó là khi một vị Bà-la-môn xuất thân tốt đẹp cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thanh tịnh, với gia phả không thể chối cãi và không tì vết ngược lên đến bảy đời tổ phụ. Vị ấy tụng đọc và ghi nhớ các thánh ca, và đã thông thạo Tam Veda, cùng với từ vựng và nghi lễ thực hành, âm vị học và phân loại từ, và các thánh thư là phần thứ năm. Vị ấy biết chúng từng từ, và ngữ pháp của chúng. Vị ấy thông thạo vũ trụ học và các tướng của bậc đại nhân. Đó là cách các vị Bà-la-môn mô tả một vị Bà-la-môn là bậc thầy Tam Veda.”

“Này Bà-la-môn, một bậc thầy Tam Minh (master of three knowledges/tevijja) theo quan điểm của Bà-la-môn khá khác biệt so với một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, làm thế nào một người là bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh? Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy dạy con điều này.”

“Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” Tikaṇṇa đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Này Bà-la-môn, đó là khi một vị Tỳ-kheo, hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú sơ thiền (first absorption/pathama jhāna), một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Khi tầm và tứ được lắng dịu, vị ấy chứng và trú nhị thiền (second absorption/dutiya jhāna), một trạng thái hỷ lạc do định sinh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Và với sự phai nhạt của hỷ, vị ấy chứng và trú tam thiền (third absorption/tatiya jhāna), nơi vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Với việc xả lạc xả khổ, và sự chấm dứt của hỷ ưu trước đó, vị ấy chứng và trú tứ thiền (fourth absorption/catuttha jhāna), không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Khi tâm vị ấy đã nhập định (immersion/samādhi) như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí nhớ các đời quá khứ (recollection of past lives/pubbenivāsānussati-ñāṇa). Vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ. Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp; nhiều kiếp hoại của thế giới, nhiều kiếp thành của thế giới, nhiều kiếp hoại và thành của thế giới. Vị ấy nhớ: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, hình dáng như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách đời ta kết thúc. Khi ta chết đi từ nơi đó, ta được tái sinh ở nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, hình dáng như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách đời ta kết thúc. Khi ta chết đi từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.’ Và cứ thế, vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Đây là minh thứ nhất mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Khi tâm vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và tái sinh của chúng sinh (knowledge of the death and rebirth of sentient beings/cutūpapāta-ñāṇa). Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi xấu xa. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ: ‘Những chúng sinh thân thương này đã làm điều ác qua thân, khẩu, ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu xa, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sinh thân thương này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi tốt đẹp, cõi trời.’ Và cứ thế, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi xấu xa. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Đây là minh thứ hai mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Khi tâm vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí về sự đoạn tận các lậu hoặc (knowledge of the ending of defilements/āsavakkhaya-ñāṇa). Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự diệt khổ’… ‘Đây là con đường dẫn đến sự diệt khổ’. Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là các lậu hoặc’… ‘Đây là nguồn gốc của các lậu hoặc’… ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’… ‘Đây là con đường dẫn đến sự diệt tận các lậu hoặc’. Biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi lậu hoặc dục vọng, lậu hoặc hữu ái, và lậu hoặc vô minh. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì phải làm ở nơi này nữa.’ Đây là minh thứ ba mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt, và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Với người giới hạnh không lay chuyển,
tỉnh thức, thực hành thiền định;
tâm được làm chủ,
thống nhất, thanh tịnh.

Người tinh cần ấy xua tan bóng tối,
bậc thầy Tam Minh, người chiến thắng tử thần.
Vì lợi ích của trời và người,
vị ấy đã từ bỏ mọi thứ, người ta nói vậy.

Thành tựu Tam Minh,
sống không hoang mang,
mang thân cuối cùng,
họ tôn kính Đức Phật Gotama giác ngộ.

Người biết các đời quá khứ,
thấy cõi trời và nơi đọa xứ,
và đã đạt đến sự chấm dứt tái sinh,
một bậc hiền triết có trí tuệ viên mãn—

chính vì ba minh này
mà một vị Bà-la-môn là bậc thầy Tam Minh.
Đó là người Ta gọi là bậc thầy Tam Minh,
chứ không phải người khác
>chỉ lặp lại những gì họ được kể.

Đây, này Bà-la-môn, là một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh."

"Thưa Tôn giả Gotama, một bậc thầy Tam Minh theo quan điểm của Bà-la-môn khá khác biệt so với một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh. Và, thưa Tôn giả Gotama, một bậc thầy Tam Minh theo quan điểm của Bà-la-môn không bằng một phần mười sáu của một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."

58.- Tikanna

1-6

Rồi Bà-la-môn Tikanna đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn … Ngồi xuống một bên, Bà-lamôn Tikanna, trước mặt Thế Tôn, tán thán các bậc Bà-la-môn có đầy đủ ba minh.

− Phải, này Bà-la-môn, họ là các bậc có ba minh. Phải, các Bà-la-môn có ba minh. Cho đến như thế nào, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn?

− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và các cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của các vị đại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn diễn tả ba minh các vị Bàla-môn.

− Thật là khác, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác ba minh trong luật của bậc thánh.

− Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh trong giới luật của bậc thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng tôi về ba minh trong Luật của bậc Thánh.

− Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Tikana vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ, làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

3- Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời. Nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây.” Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các nét chi tiết. Ðây là minh thứ nhất đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi trời, cõi đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

5.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Ðây là minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Giới hạnh không cao thấp
Khôn khéo và thiền tịnh,
Với tâm được chinh phục,
Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Bậc trí đoạn mê ám,
Ba minh, diệt tử thần,
Vị ấy được tôn xưng,
Ðại hạnh cho Trời Người,
Bậc “Ðoạn tận tất cả”,
Ðầy đủ cả ba minh
An trú không mê vọng,
Ðức Phật, bậc Giác Ngộ,
Bậc chứng thân tối hậu,
Chúng lễ Gotama.
Ai biết được đời trước,
Thấy Thiên giới, đọa giới,
Vị ấy là đạo sĩ,
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.

Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh trong Luật của bậc Thánh.

− Thật khác, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác là ba minh trong Luật của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười sáu của vị chứng minh trong Luật của bậc Thánh.

AN 3.59 Với Jānussoṇi Jāṇussoṇisutta

Khi ấy, Bà-la-môn Jānussoṇi đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Ngồi xuống một bên, ông thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, bất cứ ai có lễ tế, lễ cúng dường tổ tiên, món cơm sữa chuẩn bị cho nghi lễ tốt lành, hoặc quà tặng để cho đi, nên cúng dường cho các vị Bà-la-môn đã thông thạo Tam Veda.”

“Nhưng này Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn mô tả một vị Bà-la-môn thông thạo Tam Veda như thế nào?”

“Thưa Tôn giả Gotama, đó là khi một vị Bà-la-môn xuất thân tốt đẹp cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thanh tịnh, với gia phả không thể chối cãi và không tì vết ngược lên đến bảy đời tổ phụ. Vị ấy tụng đọc và ghi nhớ các thánh ca, và đã thông thạo Tam Veda, cùng với từ vựng và nghi lễ thực hành, âm vị học và phân loại từ, và các thánh thư là phần thứ năm. Vị ấy biết chúng từng từ, và ngữ pháp của chúng. Vị ấy thông thạo vũ trụ học và các tướng của bậc đại nhân. Đó là cách các vị Bà-la-môn mô tả một vị Bà-la-môn thông thạo Tam Veda.”

“Này Bà-la-môn, một bậc thầy Tam Minh theo quan điểm của Bà-la-môn khá khác biệt so với một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, làm thế nào một người là bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh? Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy dạy con điều này.”

“Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” Jānussoṇi đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Này Bà-la-môn, đó là khi một vị Tỳ-kheo, hoàn toàn ly dục… chứng và trú tứ thiền.

Khi tâm vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí nhớ các đời quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết. Đây là minh thứ nhất mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Khi tâm vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu việt hơn con người, vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Đây là minh thứ hai mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Khi tâm vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi các cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động—vị ấy hướng tâm đến trí về sự đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự diệt khổ’… ‘Đây là con đường dẫn đến sự diệt khổ’. Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là các lậu hoặc’… ‘Đây là nguồn gốc của các lậu hoặc’… ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’… ‘Đây là con đường dẫn đến sự diệt tận các lậu hoặc’. Biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi lậu hoặc dục vọng, lậu hoặc hữu ái, và lậu hoặc vô minh. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì phải làm ở nơi này nữa.’ Đây là minh thứ ba mà vị ấy đạt được. Vô minh bị hủy diệt và minh đã sinh khởi; bóng tối bị hủy diệt, và ánh sáng đã sinh khởi, như xảy ra với một thiền giả tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết.

Người hoàn hảo trong giới luật và nghi lễ,
kiên quyết và thanh tịnh,
tâm được làm chủ,
thống nhất, thanh tịnh;

người biết các đời quá khứ,
thấy cõi trời và nơi đọa xứ,
và đã đạt đến sự chấm dứt tái sinh,
bậc hiền triết như vậy có trí tuệ viên mãn.

Chính vì ba minh này
mà một vị Bà-la-môn là bậc thầy Tam Minh.
Đó là người Ta gọi là bậc thầy Tam Minh,
chứ không phải người khác
>chỉ lặp lại những gì họ được kể.

Đây, này Bà-la-môn, là một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh."

"Thưa Tôn giả Gotama, bậc thầy Tam Minh theo quan điểm của Bà-la-môn khá khác biệt so với một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh. Và, thưa Tôn giả Gotama, một bậc thầy Tam Minh theo quan điểm của Bà-la-môn không bằng một phần mười sáu của một bậc thầy Tam Minh trong sự tu tập của bậc Thánh.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."

59. - Jànussoni

1-4

Rồi có Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến … ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Ai làm lễ tế đàn, thưa Tôn giả Gotama, hay ai làm lễ cúng linh, hay ai có bố thí, cần phải bố thí các vật ấy cho các vị Bà-la-môn có ba minh.

Cho đến như thế nào, này Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn diễn tả một Bà-la-môn có ba minh?

Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị môt dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vệ đà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải, và các cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị Ðại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-lamôn.

− Thật là khác, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác, ba minh trong Luật của bậc Thánh.

− Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh trong giới Luật của bậc Thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết giảng cho chúng tôi về ba minh trong giới Luật của bậc Thánh.

− Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2- Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời … Ðây là minh thứ nhất đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi bóng tối diệt, ánh sánh sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân … đều do hạnh nghiệp của chúng. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi bóng tối diệt, ánh sánh sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ” … “… không có đời sống nào khác nữa.” Ðây là minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi bóng tối diệt, ánh sánh sanh, đối với vị không phóng dật, an trú, nhiệt tâm, tinh cần.

Ai đầy đủ giới hạnh
Tinh cần và định tĩnh
Với tầm được chinh phục
Nhứt tâm khéo định tĩnh
Ai biết được đời trước
Thấy Thiên giới đọa xứ
Vị ấy là đạo sĩ
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.

Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh trong Luật của bậc Thánh.

− Thật thế, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác, là ba minh trong Luật của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười sáu của vị chứng ba minh trong Luật của bậc Thánh! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng?

AN 3.60 Với Saṅgārava Saṅgāravasutta

Khi ấy, Bà-la-môn Saṅgārava đi đến Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi, những người được gọi là Bà-la-môn, thực hiện các lễ tế và khuyến khích người khác thực hiện lễ tế. Này Tôn giả Gotama, cả hai hạng người này—người thực hiện lễ tế và người khuyến khích người khác thực hiện lễ tế—đều đang làm điều tốt cho nhiều người nhờ vào lễ tế đó. Nhưng, thưa Tôn giả Gotama, khi một người từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà cửa, họ tự mình điều phục, làm lắng dịu, và tịch diệt. Như vậy, họ chỉ làm điều tốt cho một người nhờ vào sự xuất gia đó.”

"Vậy thì, này Bà-la-môn, Ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, này Bà-la-môn? Một Như Lai (Realized One/Tathāgata) xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài nói: ‘Hãy đến, đây là con đường, đây là pháp hành. Thực hành như thế này, Ta đã tự mình chứng ngộ với trí tuệ về sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh, và Ta tuyên bố điều đó. Xin tất cả các vị hãy thực hành như thế này, và các vị cũng sẽ chứng ngộ sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh, và sẽ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ với trí tuệ.’ Như vậy, bậc Đạo Sư giảng dạy Pháp (Dhamma/Giáo Pháp), và những người khác thực hành theo, hàng trăm, hàng nghìn, hàng trăm nghìn người.

Ông nghĩ sao, này Bà-la-môn? Như vậy, họ đang làm điều tốt chỉ cho một người hay cho nhiều người nhờ vào sự xuất gia đó?"

“Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, họ đang làm điều tốt cho nhiều người nhờ vào sự xuất gia đó.”

Khi ông nói điều này, Tôn giả Ānanda nói với Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, trong hai pháp hành này, ông tin pháp hành nào có ít yêu cầu và công việc hơn, nhưng lại có quả và lợi ích lớn hơn?”

Saṅgārava nói với Ānanda: “Những vị như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda đều được tôi tôn kính và ca ngợi!”

Lần thứ hai, Ānanda nói với Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, tôi không hỏi ông tôn kính và ca ngợi ai. Tôi hỏi ông tin pháp hành nào trong hai pháp hành này có ít yêu cầu và công việc hơn, nhưng lại có quả và lợi ích lớn hơn?”

Lần thứ hai Saṅgārava nói với Ānanda: “Những vị như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda đều được tôi tôn kính và ca ngợi!”

Lần thứ ba, Ānanda nói với Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, tôi không hỏi ông tôn kính và ca ngợi ai. Tôi hỏi ông tin pháp hành nào trong hai pháp hành này có ít yêu cầu và công việc hơn, nhưng lại có quả và lợi ích lớn hơn?”

Lần thứ ba Saṅgārava nói với Ānanda: “Những vị như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda đều được tôi tôn kính và ca ngợi!”

Khi ấy, Thế Tôn nghĩ: “Dù Ānanda đã hỏi ông ta một câu hỏi hợp lý ba lần, Saṅgārava vẫn ngập ngừng không trả lời. Sao Ta không cho ông ta một lối thoát?”

Vì vậy, Thế Tôn nói với Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, hôm nay trong đoàn tùy tùng của nhà vua, khi ngồi cùng nhau trong hoàng cung, đã có cuộc trò chuyện gì?”

“Thưa Tôn giả Gotama, đã có cuộc trò chuyện này: ‘Dường như trước đây có ít Tỳ-kheo hơn, nhưng nhiều người trong số họ đã biểu diễn các thần thông (psychic power/iddhi) siêu phàm; trong khi ngày nay, có nhiều Tỳ-kheo hơn, nhưng ít người biểu diễn các thần thông siêu phàm hơn.’ Đây là những gì đã được bàn luận trong đoàn tùy tùng của nhà vua hôm nay, khi ngồi cùng nhau trong hoàng cung.”

"Này Bà-la-môn, có ba loại biểu hiện (demonstration/pāṭihāriya). Ba loại nào? Biểu hiện thần thông, biểu hiện ký thuyết (revealing/ādesanā), và biểu hiện giáo giới (instruction/anusāsanī).

Và biểu hiện thần thông là gì? Đó là khi một người vận dụng nhiều loại thần thông: từ một thân hiện thành nhiều thân, từ nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hay núi không bị cản trở như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như trong nước; đi trên mặt nước như trên đất liền; bay đi trong không trung khi ngồi kiết già như chim; chạm và vuốt mặt trời và mặt trăng bằng tay, dù chúng rất hùng mạnh và quyền năng. Họ điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên. Đây gọi là biểu hiện thần thông.

Và biểu hiện ký thuyết là gì? Trong một trường hợp, một người tiết lộ bằng dấu hiệu: ‘Đây là điều ông đang nghĩ, suy nghĩ của ông là như vậy, và trạng thái tâm của ông là thế này.’ Và ngay cả khi họ tiết lộ điều này nhiều lần, nó vẫn diễn ra đúng như vậy, không khác.

Trong trường hợp khác, một người tiết lộ sau khi nghe từ người, phi nhân hoặc chư thiên: ‘Đây là điều ông đang nghĩ, suy nghĩ của ông là như vậy, và trạng thái tâm của ông là thế này.’ Và ngay cả khi họ tiết lộ điều này nhiều lần, nó vẫn diễn ra đúng như vậy, không khác.

Trong trường hợp khác, một người tiết lộ bằng cách nghe âm thanh của tư tưởng lan truyền khi ai đó suy nghĩ và cân nhắc: ‘Đây là điều ông đang nghĩ, suy nghĩ của ông là như vậy, và trạng thái tâm của ông là thế này.’ Và ngay cả khi họ tiết lộ điều này nhiều lần, nó vẫn diễn ra đúng như vậy, không khác.

Trong trường hợp khác, một người thấu hiểu tâm của một người đã đạt được trạng thái định không có tầm không có tứ. Họ hiểu: ‘Xét theo cách các ý định của người này được hướng đến, ngay sau trạng thái tâm này, họ sẽ nghĩ đến ý nghĩ này.’ Và ngay cả khi họ tiết lộ điều này nhiều lần, nó vẫn diễn ra đúng như vậy, không khác. Đây gọi là biểu hiện ký thuyết.

Và biểu hiện giáo giới là gì? Đó là khi một người hướng dẫn người khác như thế này: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng như thế kia. Hãy tập trung tâm trí như thế này, đừng như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, và sống sau khi đã đạt được điều kia.’ Đây gọi là biểu hiện giáo giới.

Đây là ba loại biểu hiện. Trong ba loại biểu hiện này, ông xem loại nào là cao quý nhất?"

"Về điều này, thưa Tôn giả Gotama, biểu hiện thần thông chỉ được trải nghiệm bởi người thực hiện nó, chỉ xảy ra với họ. Điều này đối với tôi giống như một trò ảo thuật.

Và biểu hiện mà ai đó tiết lộ điều gì đó bằng dấu hiệu, hoặc sau khi nghe từ người, phi nhân, hoặc chư thiên, hoặc bằng cách nghe âm thanh của tư tưởng lan truyền khi ai đó suy nghĩ và cân nhắc, hoặc bằng cách thấu hiểu tâm của người khác, cũng chỉ được trải nghiệm bởi người thực hiện nó, chỉ xảy ra với họ. Điều này đối với tôi cũng giống như một trò ảo thuật.

Nhưng đối với biểu hiện mà ai đó hướng dẫn người khác: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng như thế kia. Hãy tập trung tâm trí như thế này, đừng như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, và sống sau khi đã đạt được điều kia.’ Tôi thích biểu hiện này hơn, thưa Tôn giả Gotama. Đó là biểu hiện cao quý nhất trong ba loại biểu hiện.

Thật không thể tin được, thưa Tôn giả Gotama, thật tuyệt vời, Tôn giả Gotama đã nói điều này thật hay. Chúng tôi coi Tôn giả Gotama là người sở hữu ba loại biểu hiện này. Vì Tôn giả Gotama vận dụng nhiều loại thần thông… điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên. Và Tôn giả Gotama thấu hiểu tâm của người khác đã đạt được trạng thái định không có tầm không có tứ. Ngài hiểu: ‘Xét theo cách các ý định của người này được hướng đến, ngay sau trạng thái tâm này, họ sẽ nghĩ đến ý nghĩ này.’ Và Tôn giả Gotama hướng dẫn người khác như thế này: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng như thế kia. Hãy tập trung tâm trí như thế này, đừng như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, và sống sau khi đã đạt được điều kia.’"

“Lời nói của ông rõ ràng là xâm phạm và tọc mạch, này Bà-la-môn. Tuy nhiên, Ta sẽ trả lời ông. Vì Ta thực sự vận dụng nhiều loại thần thông… điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên. Và Ta thực sự thấu hiểu tâm của người khác đã đạt được trạng thái định không có tầm không có tứ. Ta hiểu: ‘Xét theo cách các ý định của người này được hướng đến, ngay sau trạng thái tâm này, họ sẽ nghĩ đến ý nghĩ này.’ Và Ta thực sự hướng dẫn người khác như thế này: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng như thế kia. Hãy tập trung tâm trí như thế này, đừng như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, và sống sau khi đã đạt được điều kia.’”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, có Tỳ-kheo nào khác sở hữu ba loại biểu hiện này, ngoài Tôn giả Gotama không?”

“Không chỉ có một trăm Tỳ-kheo, này Bà-la-môn, sở hữu ba loại biểu hiện này, cũng không phải hai, ba, bốn, hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa.”

“Nhưng những vị Tỳ-kheo này hiện đang ở đâu?”

“Ngay tại đây, này Bà-la-môn, trong Tăng đoàn Tỳ-kheo này.”

“Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! Như người dựng lại những gì bị đổ, bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng đoàn Tỳ-kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

60.- Sangàrava

1-7

− Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, … ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là kết quả của tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.

− Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả lời. Ông nghĩ như thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: “Ðây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. Các người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các người sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú”. Như vậy, vị Ðạo sư này thuyết pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường đưa đến công đức này ảnh hưởng chỉ đến một người hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia?

− Sự việc này là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia.

Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

− Trong hai con đường, này Bà-la-môn, con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?

Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:

− Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.

Lần thứ hai, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

− Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng tán thán? “Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”

Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:

− Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán thán. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

− Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng tán thán? “Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”

Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:

− Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.

3. Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải tỏa việc này”.

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava:

− Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại?

− Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: “Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện.” Thưa Tôn giả Gotama, đấy là câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.

4. - Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông. Thế nào là ba? Thần thông biến hóa, thần thông ký thuyết, thần thông giáo hóa, và Bà-la-môn, thế nào là thần thông biến hóa?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt rẽ ra như trên đất liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.

5. Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông ký thuyết?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.

6. Và như thế nào, này Bà-la-môn, là thần thông giáo hóa?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!”. Này Bàla-môn, đây gọi là thần thông giáo hóa. Nay Bà-la-môn, có ba loại thần thông này.

Trong ba loại thần thông này, Ông có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù diệu hơn?

− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này: Ở đây có người chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân … Có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa. Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người nhờ tướng nói lên … Với tâm của mình, rõ biết tâm của người khác. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa. Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này … hãy đạt đến cái này và an trú”. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại thần thông.

Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều loại thần thông … Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tuỳ theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Tôn giả Gotama giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!”.

7. -Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, ta chứng được nhiều loại thần thông … này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Tôn giả Gotama có thể giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!”.

− Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo nào khác, cung thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?

− Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.

− Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?

− Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo này.

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama thuyết giảng với nhiều pháp môn. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng

Từ ngữ:

  • Thu thúc / restraint / saṃvara: Sự kiểm soát, giữ gìn các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) để không bị cuốn theo các đối tượng dễ chịu hoặc khó chịu, giúp tâm không bị dao động. Giống như việc đóng cửa nhà để ngăn trộm vào.
  • Thiết thực hiện tại / apparent in the present life / sandiṭṭhika: Một đặc tính của Giáo Pháp (Dhamma), nghĩa là lợi ích của việc thực hành có thể thấy được ngay trong đời sống này, không cần chờ đến kiếp sau. Ví dụ, khi bớt giận, ta thấy bình an ngay lập tức.
  • Sự tịch diệt / extinguishment / nibbāna/niết-bàn: Trạng thái chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, phiền não (tham, sân, si). Đây là mục tiêu cuối cùng của người tu theo đạo Phật. Giống như ngọn lửa tắt đi khi hết nhiên liệu.
  • Du sĩ / wanderer / paribbājaka: Người tu hành không theo một tôn giáo truyền thống nhất định nào thời Ấn Độ cổ đại, thường đi lang thang, sống bằng khất thực và tìm kiếm chân lý qua các cuộc thảo luận triết học.
  • Phi nhân / native spirits / yakkha: Một loại chúng sinh trong thần thoại Ấn Độ, có thể tốt hoặc xấu, mạnh mẽ, đôi khi được xem là thần linh địa phương hoặc quỷ.
  • Năm Triền Cái / Five Hindrances / pañca nīvaraṇāni: Năm trạng thái tâm tiêu cực ngăn cản sự tiến bộ trong thiền định và trí tuệ: 1. Dục tham (ham muốn), 2. Sân hận (ghét bỏ), 3. Hôn trầm-thụy miên (lười biếng, buồn ngủ), 4. Trạo cử-hối quá (bồn chồn, lo lắng), 5. Nghi ngờ (không chắc chắn). Giống như 5 đám mây che khuất mặt trời trí tuệ.
  • Lậu hoặc / defilements / āsava/phiền não: Những ô nhiễm tinh thần sâu kín làm chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử (luân hồi), bao gồm dục lậu (tham ái dục lạc), hữu lậu (tham ái sự tồn tại), và vô minh lậu (không hiểu biết chân lý).
  • Tam Minh / Three Knowledges / tevijjā: Ba loại trí tuệ đặc biệt đạt được qua thiền định sâu sắc: 1. Túc mạng minh (nhớ lại các kiếp trước), 2. Thiên nhãn minh (thấy sự chết và tái sinh của chúng sinh), 3. Lậu tận minh (biết rõ sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc).
  • Thiền / absorption / jhāna: Trạng thái tâm tập trung cao độ, vắng lặng, trong sáng và an lạc, đạt được qua việc thực hành thiền định. Có bốn cấp độ thiền chính được mô tả trong kinh điển.
  • Như Lai / Realized One / Tathāgata: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt đến chân lý tối thượng, giác ngộ hoàn toàn.