Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Lớn

AN 3.61 Quan Điểm Ngoại Đạo Titthāyatanasutta

Này các Tỳ-kheo, có ba quan điểm ngoại đạo(sectarian tenets / ngoại đạo kiến) này—khi được người trí truy cứu, gạn hỏi, và thẩm vấn kỹ lưỡng—nếu đi đến cùng cực, sẽ kết thúc bằng sự không hành động. Ba quan điểm đó là gì?

Có những sa-môn và bà-la-môn chủ trương học thuyết và quan điểm này: ‘Mọi thứ mà cá nhân này trải nghiệm—dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc—đều là do việc làm trong quá khứ(past deeds / túc nghiệp).’

Có những sa-môn và bà-la-môn chủ trương học thuyết và quan điểm này: ‘Mọi thứ mà cá nhân này trải nghiệm—dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc—đều là do sự sáng tạo của Đấng Toàn Năng(God Almighty’s creation / Thần Ngã tạo hóa).’

Có những sa-môn và bà-la-môn chủ trương học thuyết và quan điểm này: ‘Mọi thứ mà cá nhân này trải nghiệm—dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc—đều không có nguyên nhân hay lý do(no cause or reason / vô nhân vô duyên).’

Về điều này, Ta đã đến gặp các sa-môn và bà-la-môn có quan điểm rằng mọi thứ được trải nghiệm đều do việc làm trong quá khứ, và Ta hỏi họ: ‘Có thật các tôn giả có quan điểm như vậy không?’ Và họ trả lời: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nếu vậy, các vị có thể sát sinh, lấy của không cho, tà dâm; nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích; tham lam, sân hận, hoặc có tà kiến, tất cả đều do việc làm trong quá khứ.’

Những người tin rằng việc làm trong quá khứ là quan trọng nhất thì không có nhiệt tâm(enthusiasm / tinh tấn), không có nỗ lực(effort / tinh cần), không có ý niệm về những việc nên làm và không nên làm. Vì họ không thực sự thấy có những việc nên làm và không nên làm, nên họ thiếu chánh niệm và không phòng hộ(unmindful and careless / thất niệm và bất cẩn), và không thể được gọi là sa-môn một cách đúng đắn. Đây là sự bác bỏ hợp lý(legitimate refutation / như lý khiển trách) đầu tiên của Ta đối với các sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này.

Về điều này, Ta đã đến gặp các sa-môn và bà-la-môn có quan điểm rằng mọi thứ được trải nghiệm đều do sự sáng tạo của Đấng Toàn Năng, và Ta hỏi họ: ‘Có thật các tôn giả có quan điểm như vậy không?’ Và họ trả lời: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nếu vậy, các vị có thể sát sinh, lấy của không cho, tà dâm; nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích; tham lam, sân hận, hoặc có tà kiến, tất cả đều do sự sáng tạo của Đấng Toàn Năng.’

Những người tin rằng quyền năng sáng tạo của Đấng Toàn Năng là quan trọng nhất thì không có nhiệt tâm, không có nỗ lực, không có ý niệm về những việc nên làm và không nên làm. Vì họ không thực sự thấy có những việc nên làm và không nên làm, nên họ thiếu chánh niệm và không phòng hộ, và không thể được gọi là sa-môn một cách đúng đắn. Đây là sự bác bỏ hợp lý thứ hai của Ta đối với các sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này.

Về điều này, Ta đã đến gặp các sa-môn và bà-la-môn có quan điểm rằng mọi thứ được trải nghiệm đều không có nguyên nhân hay lý do, và Ta hỏi họ: ‘Có thật các tôn giả có quan điểm như vậy không?’ Và họ trả lời: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nếu vậy, các vị có thể sát sinh, lấy của không cho, tà dâm; nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích; tham lam, sân hận, hoặc có tà kiến, tất cả đều không có nguyên nhân hay lý do.’

Những người tin rằng sự không có nguyên nhân hay lý do là quan trọng nhất thì không có nhiệt tâm, không có nỗ lực, không có ý niệm về những việc nên làm và không nên làm. Vì họ không thực sự thấy có những việc nên làm và không nên làm, nên họ thiếu chánh niệm và không phòng hộ, và không thể được gọi là sa-môn một cách đúng đắn. Đây là sự bác bỏ hợp lý thứ ba của Ta đối với các sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này.

Đây là ba quan điểm ngoại đạo—khi được người trí truy cứu, gạn hỏi, và thẩm vấn kỹ lưỡng—nếu đi đến cùng cực, sẽ kết thúc bằng sự không hành động.

Nhưng Pháp mà Ta đã giảng dạy là không thể bác bỏ, không ô nhiễm, không thể chê trách, và không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí tuệ khinh miệt. Pháp mà Ta đã giảng dạy là gì?

‘Đây là sáu giới’: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …

‘Đây là sáu xứ xúc(six fields of contact / lục xúc xứ)’: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …

‘Đây là mười tám trạng thái tâm tư duy(eighteen mental preoccupations / thập bát ý hành)’: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …

‘Đây là bốn sự thật cao quý (Tứ diệu đế)’: đây là Pháp Ta đã giảng dạy, là pháp không thể bác bỏ, không ô nhiễm, không thể chê trách, và không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí tuệ khinh miệt.

‘“Đây là sáu giới”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy?

VII. Phẩm Lớn

61.- Sở y xứ.

1. Này các Tỷ-kheo, có ba y sứ này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ”. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra”. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, hay Bà-la-môn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân, không duyên”.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ”. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: “Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ? “”.

Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: “Thưa phải, có như vậy”.

Ta nói với họ như sau: “Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người sát sanh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người lấy của không cho; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người không Phạm hạnh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói láo; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói hai lưỡi; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người ác khẩu; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói lời phù phiếm; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tham lam; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người theo tà kiến”. Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứ là do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Ðây là việc phải làm”, hay “Ðây là việc không nên làm”. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-lamôn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra”. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: “Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra? “.

Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: “Thưa phải, có như vậy”.

Ta nói với họ như sau: “Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người sát sanh … Do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người theo tà kiến”. Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Ðây là việc phải làm”, hay “Ðây là việc không nên làm”. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ hai của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-lamôn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên”. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: “Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên? “”.

Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: “Thưa phải, có như vậy”.

Ta nói với họ như sau: “Như vậy, thời theo các Tôn giả, do không nhân không duyên, sẽ trở thành người sát sanh … Do không nhân không duyên, sẽ trở thành người theo tà kiến”. Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Ðây là việc phải làm”, hay “Ðây là việc không nên làm”. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ ba của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là ba y xứ của ngoại đạo, dù có được các bậc Tôn giả cật vấn, nạn vấn lý do thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động).

5. Và này các Tỷ-kheo, đây là pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách?

Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-lamôn có trí quở trách. Mười tám ý cận hành này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.

Có sáu giới này: địa giới (đất), thủy giới (nước), hỏa giới (lửa), phong giới (gió), không giới (không gian), và thức giới (ý thức).

‘“Đây là sáu giới”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘“Đây là sáu xứ xúc”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy?

Có sáu xứ xúc này: xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý.

‘“Đây là sáu xứ xúc”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘“Đây là mười tám trạng thái tâm tư duy”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đây là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy?

Khi thấy một hình ảnh bằng mắt, người ta tư duy về hình ảnh đó, là cơ sở cho hạnh phúc (lạc), buồn khổ (ưu), hoặc sự bình thản (xả).

Khi nghe một âm thanh bằng tai …

Khi ngửi một mùi hương bằng mũi …

Khi nếm một vị bằng lưỡi …

Khi cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân …

Khi nhận biết một ý niệm bằng tâm, người ta tư duy về ý niệm đó, là cơ sở cho hạnh phúc, buồn khổ, hoặc sự bình thản.

‘“Đây là mười tám trạng thái tâm tư duy”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘“Đây là bốn sự thật cao quý”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy …’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy?

Nhờ sáu giới hỗ trợ, một phôi thai được hình thành. Khi nó được hình thành, có danh và sắc. Danh và sắc là điều kiện cho sáu giác quan (lục nhập/lục xứ). Sáu giác quan là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Chính đối với người đang cảm thọ mà Ta tuyên bố: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ’.

Và sự thật cao quý về khổ là gì? Tái sinh là khổ; già là khổ; chết là khổ; sầu, bi, khổ (thân), ưu (tâm), não là khổ; gặp điều mình không thích là khổ; xa lìa điều mình thích là khổ; mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Đây được gọi là sự thật cao quý về khổ.

Và sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ là gì? Sự không biết(Ignorance / vô minh) là điều kiện cho hành động có chủ ý(choices / hành). Hành động có chủ ý là điều kiện cho thức. Thức là điều kiện cho danh và sắc. Danh và sắc là điều kiện cho sáu giác quan. Sáu giác quan là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho sự khao khát(craving / ái). Sự khao khát là điều kiện cho sự bám víu(grasping / thủ). Sự bám víu là điều kiện cho sự tiếp tục tồn tại(continued existence / hữu). Sự tiếp tục tồn tại là điều kiện cho tái sinh. Tái sinh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ này phát sinh. Đây được gọi là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ.

Và sự thật cao quý về sự diệt khổ là gì? Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót, hành động có chủ ý chấm dứt. Khi hành động có chủ ý chấm dứt, thức chấm dứt. Khi thức chấm dứt, danh và sắc chấm dứt. Khi danh và sắc chấm dứt, sáu giác quan chấm dứt. Khi sáu giác quan chấm dứt, xúc chấm dứt. Khi xúc chấm dứt, thọ chấm dứt. Khi thọ chấm dứt, sự khao khát chấm dứt. Khi sự khao khát chấm dứt, sự bám víu chấm dứt. Khi sự bám víu chấm dứt, sự tiếp tục tồn tại chấm dứt. Khi sự tiếp tục tồn tại chấm dứt, tái sinh chấm dứt. Khi tái sinh chấm dứt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt. Đây được gọi là sự thật cao quý về sự diệt khổ.

Và sự thật cao quý về con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ là gì? Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và sự tập trung đúng đắn(right immersion / chánh định). Đây được gọi là sự thật cao quý về con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ.

‘“Đây là bốn sự thật cao quý”: đây là Pháp Ta đã giảng dạy, là pháp không thể bác bỏ, không ô nhiễm, không thể chê trách, và không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí tuệ khinh miệt.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

6. Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến? Này các Tỷ-kheo, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-lamôn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này đã được nói đến.

7. Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc xứ này: nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này đã được nói đến.

8.-Có mười tám ý cận hành này, này các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng, … không bị các Samôn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến? Khi con mắt thấy sắc, tư tưởng hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho xả. Khi tai nghe tiếng, tư tưởng hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ cho xả. Khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận thức pháp, tư tưởng hướng về và đến gần pháp, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần pháp, làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần pháp, làm y xứ cho xả. Có mười tám ý cận hành này, này các Tỷ-kheo, được Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này đã được nói đến.

9. Bốn thánh đế này, này các Tỷ-kheo, được Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến? Do chấp thủ sáu giới, này các Tỹ kheo, nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có danh sắc. Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ, nên có xúc. Do duyên xúc, nên có thọ. Với người có cảm thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ: “Ðây là khổ”, Ta nêu rõ: “Ðây là khổ tập; Ta nêu rõ: “Ðây là khổ diệt”, Ta nêu rõ: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ Thánh đế?

Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu não là khổ. Ðiều mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Thánh đế.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ tập?

Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vầy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.

12.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ diệt?

Do vô minh diệt không có tàn dư, nên các hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đều diệt. Như vầy là sự đoạn diệt toàn bộ của khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, Ðây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.

13.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt?

Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt.

Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, do Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không có uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này được nói đến.

AN 3.62 Mối Nguy Hiểm Bhayasutta

"Này các Tỳ-kheo, người phàm phu ít học(unlearned ordinary person / vô văn phàm phu) nói về ba mối nguy hiểm(perils / sự sợ hãi, kinh úy) làm chia lìa mẹ con. Ba mối nguy hiểm đó là gì?

Có lúc một trận đại hỏa hoạn bùng lên, thiêu rụi các làng mạc, thị trấn, và thành phố. Khi điều này xảy ra, mẹ không tìm thấy con, và con không tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm đầu tiên làm chia lìa mẹ con.

Hơn nữa, có lúc một cơn bão lớn nổi lên, gây ra một trận lụt lớn cuốn trôi các làng mạc, thị trấn, và thành phố. Khi điều này xảy ra, mẹ không tìm thấy con, và con không tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm thứ hai làm chia lìa mẹ con.

Hơn nữa, có lúc xảy ra loạn lạc nơi biên địa, dân chúng trong xứ phải lên xe cộ chạy trốn khắp nơi. Khi điều này xảy ra, mẹ không tìm thấy con, và con không tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm thứ ba làm chia lìa mẹ con.

Đây là ba mối nguy hiểm mà người phàm phu ít học nói đến, làm chia lìa mẹ con.

Này các Tỳ-kheo, người phàm phu ít học nói về ba mối nguy hiểm không làm chia lìa mẹ con. Ba mối nguy hiểm đó là gì?

Có lúc một trận đại hỏa hoạn bùng lên, thiêu rụi các làng mạc, thị trấn, và thành phố. Khi điều này xảy ra, đôi khi mẹ có thể tìm thấy con, và con có thể tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm đầu tiên không làm chia lìa mẹ con.

Hơn nữa, có lúc một cơn bão lớn nổi lên, gây ra một trận lụt lớn cuốn trôi các làng mạc, thị trấn, và thành phố. Khi điều này xảy ra, đôi khi mẹ có thể tìm thấy con, và con có thể tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm thứ hai không làm chia lìa mẹ con.

Hơn nữa, có lúc xảy ra loạn lạc nơi biên địa, dân chúng trong xứ phải lên xe cộ chạy trốn khắp nơi. Khi điều này xảy ra, đôi khi mẹ có thể tìm thấy con, và con có thể tìm thấy mẹ. Đây là mối nguy hiểm thứ ba không làm chia lìa mẹ con.

Đây là ba mối nguy hiểm mà người phàm phu ít học nói đến, không làm chia lìa mẹ con.

Có ba mối nguy hiểm thực sự làm chia lìa mẹ con. Ba mối nguy hiểm đó là gì?

Đó là sự nguy hiểm của già, bệnh, và chết. Khi con đang già đi, người mẹ không thể ước muốn: ‘Mong ta già đi, nhưng con ta đừng già!’ Khi mẹ đang già đi, người con không thể ước muốn: ‘Mong ta già đi, nhưng mẹ ta đừng già!’

Khi con bị bệnh, người mẹ không thể ước muốn: ‘Mong ta bị bệnh, nhưng con ta đừng bệnh!’ Khi mẹ bị bệnh, người con không thể ước muốn: ‘Mong ta bị bệnh, nhưng mẹ ta đừng bệnh!’

Khi con đang hấp hối, người mẹ không thể ước muốn: ‘Mong ta chết, nhưng con ta đừng chết!’ Khi mẹ đang hấp hối, người con không thể ước muốn: ‘Mong ta chết, nhưng mẹ ta đừng chết!’ Đây là ba mối nguy hiểm thực sự làm chia lìa mẹ con.

Có một con đường và một pháp hành đưa đến sự từ bỏ và vượt qua ba mối nguy hiểm không làm chia lìa mẹ con, và ba mối nguy hiểm thực sự làm chia lìa mẹ con. Con đường và pháp hành đó là gì? Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường, đây là pháp hành đưa đến sự từ bỏ và vượt qua ba mối nguy hiểm không làm chia lìa mẹ con, và ba mối nguy hiểm thực sự làm chia lìa mẹ con."

62.- Các Sợ Hãi.

1. - Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được người phàm phu không học nói đến. Thế nào là ba?

Có một thời, này các Tỷ-kheo, một hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên,naỹ các Tỹ Kheo, các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Ðây là sợ hãi thứ nhất, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có mưa lớn khởi lên. Khi mưa lớn khởi lên, này các Tỷ-kheo, lụt lội lớn sanh khởi. Do có lụt lớn sanh khởi, nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi. Khi các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Ðây là sợ hãi thứ hai, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên, và dân chúng leo lên xe chạy trốn. Khi sợ hãi giặc cướp rừng nổi lên, này các Tỷ-kheo, khi dân chúng leo lên xe chạy trốn, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Ðây là sợ hãi thứ ba, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

4. Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, có khi chia rẽ mẹ con, có khi không chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến. Thế nào là ba?

Có một thời, này các Tỷ-kheo, một hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên, này các Tỹ Kheo, các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ nhất, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có mưa lớn khởi lên. Do có thủy tai lớn sanh khởi nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi. Khi các thành phố bị cuốn trôi, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ hai, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên. Và dân chúng leo lên xe chạy trốn. Khi sợ hãi về giặc cướp rừng nổi nên, này các Tỷ-kheo, khi dân chúng leo lên xe chạy trốn, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ ba, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.

Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia re mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.

5.-Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con. Thế nào là ba? Sợ hãi về già, sợ hãi về bệnh, sợ hãi về chết.

Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn con mình bị già: “Ta nay bị già, mong rằng con Ta không bị già!”. Hay người con không muốn mẹ mình bị già: “Ta nay bị già, mong rằng mẹ Ta không bị già!”.

Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn con mình bị bệnh: “Ta nay bị bệnh, mong rằng con Ta không bị bệnh!”. Hay con không muốn mẹ mình bị bệnh: “Ta nay bị già, mong rằng mẹ Ta không bị bệnh!”.

Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn con mình bị chết: “Ta nay bị chết, mong rằng con Ta không bị chết!”. Hay người con không muốn mẹ mình bị chết: “Ta nay bị chết, mong rằng mẹ Ta không bị chết!”. Ðây là ba sợ hãi, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con.

6. Có con đường, này các Tỷ-kheo, có đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi, không làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi không làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này?

Ðây là con đường Thánh Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường, này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ là đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi không làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này.

AN 3.63 Tại Venāgapura Venāgapurasutta

Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn Tỳ-kheo đông đảo, Ngài đến một ngôi làng của các bà-la-môn xứ Kosala tên là Venāgapura. Các bà-la-môn và gia chủ ở Venāgapura nghe tin:

“Hình như Sa-môn Gotama—một người thuộc dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca—đã đến Venāgapura. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Thế Tôn đó là bậc đã hoàn thiện(perfected / A-la-hán), một bậc Chánh Đẳng Giác, người thành tựu trí tuệ và đức hạnh(accomplished in knowledge and conduct / minh hạnh túc), bậc Thiện Thệ(holy / thiện thệ), người biết rõ thế gian(knower of the world / thế gian giải), bậc tối cao hướng dẫn người cần điều phục(supreme guide for those who wish to train / vô thượng sĩ điều ngự trượng phu), bậc thầy của trời và người(teacher of gods and humans / thiên nhân sư), người tỉnh thức(awakened / Phật), người được tôn quý(blessed / Thế Tôn).’ Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, cùng chúng sinh gồm sa-môn, bà-la-môn, trời và người—và Ngài tuyên bố điều đó cho những người khác biết. Ngài thuyết giảng giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và Ngài trình bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc đã hoàn thiện như vậy.”

Rồi các bà-la-môn và gia chủ ở Venāgapura đến gặp Thế Tôn. Trước khi ngồi xuống một bên, một số người đảnh lễ, một số chào hỏi và nói lời thân mật, một số chắp tay vái chào Thế Tôn, một số xưng tên và dòng họ, trong khi một số khác giữ im lặng. Rồi bà-la-môn Vacchagotta ở Venāgapura thưa với Thế Tôn:

"Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc, làm sao các căn (giác quan) của Ngài lại trong sáng đến thế, và màu da của Ngài lại thanh tịnh và tươi sáng đến vậy. Giống như trái táo tàu chín vàng vào mùa thu, hay trái thốt nốt vừa hái khỏi cuống, hay đồ trang sức bằng vàng sông Diêm Phù, được chế tác bởi thợ kim hoàn khéo tay, rèn giũa tinh xảo trong lò, và đặt trên tấm thảm màu kem, nơi nó chiếu sáng, rực rỡ và tỏa sáng. Cũng vậy, các căn của Ngài thật trong sáng, và màu da của Ngài thật thanh tịnh và tươi sáng.

Chắc hẳn Tôn giả Gotama muốn là có được, không khó khăn hay trở ngại, các loại giường nằm cao và sang trọng khác nhau, như: ghế dài, giường nằm, thảm len—loại có lông xù, nhiều màu, màu trắng, thêu hoa, chần bông, thêu hình thú, có tua rua hai bên hoặc một bên—và tấm phủ bằng lụa đính châu báu, cũng như khăn trải giường bằng lụa, thảm dệt, thảm lót voi, ngựa, hoặc xe, thảm da linh dương, và tấm trải bằng da sơn dương tốt, có lọng che bên trên và gối đỏ ở hai đầu."

"Này Bà-la-môn, những loại giường nằm cao và sang trọng này rất khó tìm đối với người xuất gia. Và ngay cả khi có được chúng, họ cũng không được phép sử dụng.

Này Bà-la-môn, có ba loại giường nằm cao và sang trọng này mà Ta hiện nay muốn là có được, không khó khăn hay trở ngại. Ba loại đó là gì? Giường nằm cao sang cõi trời, giường nằm cao sang cõi Phạm thiên, và giường nằm cao sang bậc Thánh. Đây là ba loại giường nằm cao và sang trọng mà Ta hiện nay muốn là có được, không khó khăn hay trở ngại."

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, giường nằm cao sang cõi trời là gì?”

“Này Bà-la-môn, khi Ta đang sống nương tựa vào một làng hay thị trấn, vào buổi sáng Ta đắp y, mang bát và y, vào làng hay thị trấn để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ nơi khất thực, Ta đi vào một khu rừng. Ta gom một ít cỏ hoặc lá thành một đống rồi ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Hoàn toàn rời xa các ham muốn và điều không thiện (quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities / ly dục ly ác pháp), ta đi vào và ở trong thiền thứ nhất (first absorption / sơ thiền), trạng thái này có sự hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự cô tịch (rapture and bliss born of seclusion / hỷ lạc do ly dục sinh), trong khi có sự hướng tâm và duy trì tâm (while placing the mind and keeping it connected / có tầm và tứ). Làm cho sự hướng tâm và duy trì tâm trở nên ngưng lặng (As the placing of the mind and keeping it connected are stilled / chỉ tịnh tầm và tứ), ta đi vào và ở trong thiền thứ hai (second absorption / nhị thiền), trạng thái này có niềm vui và hạnh phúc được sinh ra từ sự tập trung sâu (rapture and bliss born of immersion / hỷ lạc do định sinh), với sự sáng suốt nội tâm và tâm hợp nhất (internal clarity and mind at one / nội tĩnh nhất tâm), không còn sự hướng tâm và duy trì tâm (không tầm không tứ). Và với sự lắng dịu của hân hoan (And with the fading away of rapture / ly hỷ), ta đi vào và ở trong thiền thứ ba (third absorption / tam thiền), nơi ta thiền định trong tâm bình thản (equanimity / tâm xả), chú tâm và tỉnh thức (mindful and aware / niệm và tỉnh giác), tự thân cảm nghiệm sự hạnh phúc mà các bậc thánh (noble ones / bậc Thánh) gọi là ‘Bình thản và chú tâm, người ấy thiền trong hạnh phúc.’ (‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ / xả niệm lạc trú). Với việc từ bỏ niềm vui và nỗi đau (With the giving up of pleasure and pain / xả lạc xả khổ), và sự chấm dứt của hạnh phúc và buồn khổ trước đó (and the ending of former happiness and sadness / ưu hỷ diệt), ta đi vào và ở trong thiền thứ tư (fourth absorption / tứ thiền), không có niềm vui hay nỗi đau (without pleasure or pain / phi khổ phi lạc), với sự bình thản và chú tâm thanh tịnh (pure equanimity and mindfulness / xả niệm thanh tịnh). Khi Ta thực hành như vậy, nếu Ta đi, lúc đó sự đi của Ta là cao quý như cõi trời (heavenly / Phạm thiên). Khi Ta thực hành như vậy, nếu Ta đứng, lúc đó sự đứng của Ta là cao quý như cõi trời. Khi Ta thực hành như vậy, nếu Ta ngồi, lúc đó sự ngồi của Ta là cao quý như cõi trời. Khi Ta thực hành như vậy, nếu Ta nằm, lúc đó sự nằm của Ta là cao quý như cõi trời. Đây chính là chiếc giường cao quý và sang trọng như cõi trời mà Ta có được trong hiện tại, bất cứ khi nào Ta muốn, không khó khăn, không trở ngại.”

"Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc! Ai khác ngoài Tôn giả Gotama có thể muốn là có được một chiếc giường nằm cao sang cõi trời như vậy, không khó khăn hay trở ngại?

Nhưng thưa Tôn giả Gotama, giường nằm cao sang cõi Phạm thiên là gì?"

“Này Bà-la-môn, khi Ta đang sống nương tựa vào một làng hay thị trấn, vào buổi sáng Ta đắp y, mang bát và y, vào làng hay thị trấn để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ nơi khất thực, Ta đi vào một khu rừng. Ta gom một ít cỏ hoặc lá thành một đống rồi ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Ta thiền định, an trú biến mãn tâm đầy tình thương (tâm từ) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, Ta an trú biến mãn tâm đầy tình thương đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân. Ta thiền định, an trú biến mãn tâm đầy lòng bi mẫn (tâm bi) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, Ta an trú biến mãn tâm đầy lòng bi mẫn đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân. Ta thiền định, an trú biến mãn tâm đầy niềm vui hỷ lạc (tâm hỷ) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, Ta an trú biến mãn tâm đầy niềm vui hỷ lạc đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân. Ta thiền định, an trú biến mãn tâm đầy sự bình thản (tâm xả) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, Ta an trú biến mãn tâm đầy sự bình thản đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân. Khi Ta đang thực hành như thế này, nếu Ta đi, lúc đó sự đi của Ta là thuộc cõi Phạm thiên. … sự đứng của Ta là thuộc cõi Phạm thiên. … sự ngồi của Ta là thuộc cõi Phạm thiên. Khi Ta đang thực hành như thế này, nếu Ta nằm, lúc đó sự nằm của Ta là thuộc cõi Phạm thiên. Đây là giường nằm cao sang cõi Phạm thiên mà Ta hiện nay muốn là có được, không khó khăn hay trở ngại.”

"Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc! Ai khác ngoài Tôn giả Gotama có thể muốn là có được một chiếc giường nằm cao sang cõi Phạm thiên như vậy, không khó khăn hay trở ngại?

Nhưng thưa Tôn giả Gotama, giường nằm cao sang bậc Thánh là gì?"

“Này Bà-la-môn, khi Ta đang sống nương tựa vào một làng hay thị trấn, vào buổi sáng Ta đắp y, mang bát và y, vào làng hay thị trấn để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ nơi khất thực, Ta đi vào một khu rừng. Ta gom một ít cỏ hoặc lá thành một đống rồi ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Ta biết rõ điều này: ‘Ta đã từ bỏ tham, sân, và si, đoạn tận gốc rễ chúng, làm cho chúng như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, bị tiêu diệt, để chúng không thể sinh khởi trong tương lai.’ Khi Ta đang thực hành như thế này, nếu Ta đi, lúc đó sự đi của Ta là thuộc bậc Thánh. … sự đứng của Ta là thuộc bậc Thánh. … sự ngồi của Ta là thuộc bậc Thánh. Khi Ta đang thực hành như thế này, nếu Ta nằm, lúc đó sự nằm của Ta là thuộc bậc Thánh. Đây là giường nằm cao sang bậc Thánh mà Ta hiện nay muốn là có được, không khó khăn hay trở ngại.”

"Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc! Ai khác ngoài Tôn giả Gotama có thể muốn là có được một chiếc giường nằm cao sang bậc Thánh như vậy, không khó khăn hay trở ngại?

Lành thay, thưa Tôn giả Gotama! Lành thay! Như người lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được những gì ở đó, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỳ-kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận chúng con là những nam cư sĩ đã quy y trọn đời."

63.- Venaga

1-7

1. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng Bà-la-môn Kosala, tên là Venàgapura. Các gia chủ Bà-la-môn ở Venàgapura được nghe: “Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca đến Venàgapura. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng trí, tự thân chứng ngộ và tuyên bố về thế giới này, cùng với Thiên Giới, Ma Giới, Phạm Thiên Giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, và giới thiệu đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”. Tốt đẹp thay được chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”.

2. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Venàgapura đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có người đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Sa-môn Gotama những lời chào đón hỏi thăm rồi ngồi xuống một bên; Ccó người chắp tay vái chào Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vacchagotta, người xứ Venàgapura bạch Thế Tôn:

3- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả Gotama, trái táo vàng vào mùa thu, được thanh tịnh chói sáng; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả Gotama, trái cây tala chín vừa rời khỏi cành, thanh tịnh, chói sáng; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh, chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một đồ trang sức bằng vàng đỏ, được người thợ vàng thiện xảo khéo luyện trong lò, khéo đạp và đặt tên tấm vải vàng, được chiếu sáng, chói sáng, rực sáng; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng.

Thưa Tôn giả Gotama, còn các giường cao và lớn như ghế bành, nệm trải giường bằng lông cừu, vải trải giường nhiều tấm, nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là Kadali, tấm thảm có lầu che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Các loại giường cao và giường lớn như vậy, chắc Tôn giả Gotama có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?

4. - Này Bà-la-môn, các giường cao và lớn ấy, như ghế bành … có hai đầu gối chân màu đỏ, thật rất khó được các vật ấy. Và nếu có được, cũng không thích hợp với những người xuất gia.

Này Bà-la-môn, có ba loại giường cao và giường lớn này, nay Ta được chúng không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Thế nào là ba?

Giường cao, giường lớn chư Thiên, giường cao, giường lớn Phạm thiên, giường cao, giường lớn Bậc thánh. Ba giường cao, giường lớn này, này Bà-la-môn, Ta được chúng không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.

5- Và thưa Tôn giả Gotama, thế nào là giường cao, giường lớn chư Thiên, mà Tôn giả Gotama được không có khó khăn … được chúng không có phí sức?

Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay vaò thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, ly dục, ly pháp bất thiện, Ta chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Làm cho chỉ tịnh tầm và tứ, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Ðoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ ngồi của ta thuộc Chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc ấy giường cao và giường lớn cuả Ta thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn thuộc chư Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí sức.

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể có được giường cao, giường lớn chư Thiên như vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có phí sức!

6. -Thế nào, thưa Tôn giả Gotama, thế nào là giường cao, giường lớn Phạm thiên, mà Tôn giả Gotama được chúng không khó khăn, được chúng không mệt nhọc, được chúng không phí sức?

Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Ta an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới.Ta an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi, … Với tâm câu hữu với hỷ, … Với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai … quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.

Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ Ta ngồi thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu Ta nằm, thời trong lúc ấy, các giường cao giường lớn của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn thuộc Phạm Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí

Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể có được giường cao, giường lớn Phạm Thiên như vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có phí sức!

7. Thế nào, thưa Tôn giả Gotama, thế nào là giường cao, giường lớn bậc Thánh, mà Tôn giả Gotama được chúng không khó khăn, được chúng không mệt nhọc, được chúng không phí sức?

Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Ta biết rõ như sau: “Tham ái đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Sân đã được ta đoạn tận … trong tương lai. Si đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai”.

Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ Ta ngồi thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc ấy, các giường cao, giuờng lớn, của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn thuộc bậc Thánh, mà Ta có được, không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí

Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể có được giường cao, giường lớn bậc Thánh như vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có phí sức! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống … Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 3.64 Với Sarabha Sarabhasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa).

Lúc bấy giờ, một du sĩ ngoại đạo tên là Sarabha vừa mới rời bỏ giáo pháp và luật này. Ông ta đang nói với đám đông ở Rājagaha rằng: “Tôi đã học giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca, rồi tôi đã rời bỏ giáo pháp và luật của họ.”

Rồi một số Tỳ-kheo vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào Rājagaha để khất thực. Họ nghe được những gì Sarabha đang nói.

Sau đó, sau bữa ăn, khi trở về từ nơi khất thực, họ đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: “Du sĩ ngoại đạo tên là Sarabha vừa mới rời bỏ giáo pháp và luật này. Ông ta đang nói với đám đông ở Rājagaha: ‘Tôi đã học giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca, rồi tôi đã rời bỏ giáo pháp và luật của họ.’ Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng thương tưởng mà đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī để gặp du sĩ Sarabha.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi vào buổi chiều tà, Thế Tôn ra khỏi nơi thiền định (độc cư) và đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī để thăm du sĩ Sarabha. Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với du sĩ Sarabha: “Có thật không, Sarabha, ông đã nói rằng: ‘Tôi đã học giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca, rồi tôi đã rời bỏ giáo pháp và luật của họ.’” Khi Ngài nói điều này, Sarabha giữ im lặng.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Sarabha: “Hãy nói cho Ta biết, Sarabha, ông đã học được chính xác những gì về giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca? Nếu ông chưa học đầy đủ, Ta sẽ bổ sung cho ông. Nhưng nếu ông đã học đầy đủ, Ta sẽ đồng ý.” Lần thứ hai, Sarabha giữ im lặng.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Sarabha: “Sarabha, giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca Ta đều rõ. Ông đã học được chính xác những gì về giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca? Nếu ông chưa học đầy đủ, Ta sẽ bổ sung cho ông. Nhưng nếu ông đã học đầy đủ, Ta sẽ đồng ý.” Lần thứ ba, Sarabha giữ im lặng.

Rồi các du sĩ ngoại đạo đó nói với Sarabha: “Sa-môn Gotama đã đề nghị nói cho ông biết bất cứ điều gì ông hỏi. Hãy nói đi, thưa tôn giả Sarabha, ông đã học được chính xác những gì về giáo pháp của các sa-môn theo dòng họ Thích Ca? Nếu ông chưa học đầy đủ, ngài ấy sẽ bổ sung cho ông. Nhưng nếu ông đã học đầy đủ, ngài ấy sẽ đồng ý.” Khi được nói vậy, Sarabha ngồi im lặng, sửng sốt (hoang mang), vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không nói được lời nào.

Biết được điều này, Thế Tôn nói với các du sĩ ngoại đạo:

"Này các du sĩ, có người có thể nói với Ta: ‘Ngài tự xưng là bậc Chánh Đẳng Giác, nhưng Ngài không hiểu những điều này.’ Khi đó, Ta sẽ truy cứu, gạn hỏi, và thẩm vấn kỹ lưỡng họ về điểm đó. Khi bị Ta thẩm vấn, chắc chắn họ sẽ rơi vào một trong ba trường hợp này. Họ sẽ lảng tránh vấn đề, lái cuộc thảo luận sang chuyện khác. Họ sẽ tỏ ra bực bội, sân hận, và cay đắng. Hoặc họ sẽ ngồi im lặng, sửng sốt, vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không nói được lời nào, giống như Sarabha.

Này các du sĩ, có người có thể nói với Ta: ‘Ngài tự xưng là đã đoạn trừ mọi ô nhiễm(ended all defilements / đoạn tận lậu hoặc), nhưng Ngài vẫn còn những ô nhiễm này.’ Khi đó, Ta sẽ truy cứu, gạn hỏi, và thẩm vấn kỹ lưỡng họ về điểm đó. Khi bị Ta thẩm vấn, chắc chắn họ sẽ rơi vào một trong ba trường hợp này. Họ sẽ lảng tránh vấn đề, lái cuộc thảo luận sang chuyện khác. Họ sẽ tỏ ra bực bội, sân hận, và cay đắng. Hoặc họ sẽ ngồi im lặng, sửng sốt, vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không nói được lời nào, giống như Sarabha.

Này các du sĩ, có người có thể nói với Ta: ‘Giáo pháp của Ngài không đưa người thực hành nó đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau, mục đích mà nó được giảng dạy.’ Khi đó, Ta sẽ truy cứu, gạn hỏi, và thẩm vấn kỹ lưỡng họ về điểm đó. Khi bị Ta thẩm vấn, chắc chắn họ sẽ rơi vào một trong ba trường hợp này. Họ sẽ lảng tránh vấn đề, lái cuộc thảo luận sang chuyện khác. Họ sẽ tỏ ra bực bội, sân hận, và cay đắng. Hoặc họ sẽ ngồi im lặng, sửng sốt, vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không nói được lời nào, giống như Sarabha."

Rồi Thế Tôn, sau khi rống lên tiếng rống sư tử ba lần tại tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī, đã bay lên không trung và rời đi.

Ngay sau khi Thế Tôn rời đi, các du sĩ ngoại đạo đó đã vây quanh Sarabha tứ phía, chế nhạo và giễu cợt. "Thưa tôn giả Sarabha, ông giống như một con chó rừng già trong vùng hoang dã đáng sợ, nghĩ rằng, ‘Ta sẽ rống lên tiếng rống sư tử!’ nhưng nó vẫn chỉ có thể kêu ré và tru lên như một con chó rừng. Cũng vậy, khi Sa-môn Gotama không có ở đây, ông nói ‘Ta sẽ rống lên tiếng rống sư tử!’ nhưng ông chỉ có thể kêu ré và tru lên như một con chó rừng.

Ông giống như một con gà nước nghĩ rằng, ‘Ta sẽ kêu như chim cu cu!’ nhưng nó vẫn chỉ có thể kêu như một con gà nước. Cũng vậy, khi Sa-môn Gotama không có ở đây, ông nói ‘Ta sẽ kêu như chim cu cu!’ nhưng ông chỉ có thể kêu như một con gà nước.

Ông giống như một con bò đực chỉ nghĩ đến việc rống lên khi chuồng bò trống không. Cũng vậy, ông chỉ nghĩ đến việc rống lên khi Sa-môn Gotama không có ở đây." Đó là cách các du sĩ ngoại đạo đó đã vây quanh Sarabha tứ phía, chế nhạo và giễu cợt.

64.- Sarabha

1-6

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, du sĩ Sarabha, từ bỏ pháp và Luật này không bao lâu, đang tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.

2. Rồi có nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát y đi vào Ràjagaha để khất thực. Các vịTỳ kheo ấy, nghe du sĩ Sarabha tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.

Rồi các vị Tỷ-kheo đi khất thực ở Ràjagaha xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Du sĩ Sarabha, bạch Thế Tôn, đã từ bỏ pháp và Luật này không bao lâu. Vị ấy tuyên bố: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng lân mẫn, hãy đi đến du sĩ Sarabha!

Thế Tôn im lặng nhận lời.

3. Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền định đứng dậy, đi đến bờ sông Sappinikàti, khu vườn của các du sĩ, đến du sĩ Sarabha; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:

− Có thật chăng, này Sarabha, Ông đã nói như sau: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật này “?

Khi được nghe nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:

− Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.

Lần thứ hai, du sĩ Sarabha giữ im lặng.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:

− Chính do Ta, này Sarabha, pháp các Sa-môn Thích tử được trình bày lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.

Lần thứ ba, du sĩ Sarabha giữ im lặng.

Rồi các du sĩ ở Ràjagaha nói với du sĩ Sarabha:

− Này Hiền giả, những điều gì, Hiền giả cần hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama đã cho Hiền giả có cơ hội nói lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Hiền giả đã hiểu pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Hiền giả hiểu chưa được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ làm cho đầy đủ. Nếu Hiền giả hiểu được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ hoan hỷ tiếp nhận.

Ðược nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sờ, không thể trả lời.

5. Rồi Thế Tôn biết được du sĩ Sarabha đang giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sờ, ngồi không trả lời, liền nói với các du sĩ ấy: − Này các du sĩ, ai nói với Ta như sau: “Dầu Ông tự cho là đã Chánh Ðẳng Giác, nhưng Ông không có Chánh Ðẳng Giác các pháp này”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài (đề tài chính), hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sở, không nói gì, như du sĩ Sarabha.

Này các du sĩ, nếu có ai nói về ta như sau: “Dầu Ông tự cho đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn tận!”. Ở đây, Ta sẽ cật vấn, nạn vấn, chất vấn người ấy. Người ấy bị Ta cật vấn, nạn vấn, chất vấn … sững sờ không nói gì, như du sĩ Sarabha.

Này các du sĩ, nếu có ai nói về Ta như sau: “Pháp Ông thuyết giảng với mục đích chơn chánh đoạn tận khổ đau, không có đưa người thực hành đến mục đích ấy”. Ở đây, Ta sẽ cật vấn, nạn vấn, chất vấn người ấy. Người ấy bị Ta cật vấn, nạn vấn, chất vấn … sững sờ không nói gì, như du sĩ Sarabha.

Rồi Thế Tôn, tại khu vườn các du sĩ, trên bờ sông Sappinnikàti, sau khi rống lên ba lần tiếng rống con sư tử, liền ra đi trên hư không.

6. Các du sĩ ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như sau:

− “Này Hiền giả Sarabha, như con dã can già yếu trong rừng rậm nghĩ rằng: “Ta sẽ rống tiếng con Sư tử”, nhưng nó chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể có tiếng rống con sư tử, Ông nghĩ: “Ta sẽ rống tiếng rống con sư tử”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rú con giã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt.

Ví như, này Hiền giả Sarabha, con gà con nghĩ rằng: “Ta sẽ gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng nó chỉ có thể thốt ra tiếng kêu con gà con. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể gáy lên tiếng áy gà trống, Ông nghĩ: “Ta có thể gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng gáy con gà con.

Ví như, con bò cái con, này Hiền giả Sarabha, khi chuồng bò trống không, nghĩ rằng có thể rống tiếng rống sâu đậm con bò đực. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama ra, Ông nghĩ rằng Ông có thể rống lên tiếng rống sâu đậm con bò đực.

Như vậy, các du sĩ ấy bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như vậy.

AN 3.65 Với Người Kālāma ở Kesamutta Kesamuttisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn Tỳ-kheo đông đảo, Ngài đến một thị trấn của người Kālāma tên là Kesamutta. Người Kālāma ở Kesamutta nghe tin:

“Hình như Sa-môn Gotama—một người thuộc dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca—đã đến Kesamutta. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Thế Tôn đó là bậc đã hoàn thiện, một bậc Chánh Đẳng Giác …’ Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc đã hoàn thiện như vậy.”

Rồi người Kālāma đến gặp Thế Tôn. Trước khi ngồi xuống một bên, một số người đảnh lễ, một số chào hỏi và nói lời thân mật, một số chắp tay vái chào Thế Tôn, một số xưng tên và dòng họ, trong khi một số khác giữ im lặng. Ngồi xuống một bên, người Kālāma thưa với Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có một số sa-môn và bà-la-môn đến Kesamutta. Họ chỉ giải thích và đề cao học thuyết của riêng mình, trong khi công kích, nói xấu, chê bai, và bôi nhọ học thuyết của người khác. Rồi một số sa-môn và bà-la-môn khác đến Kesamutta. Họ cũng chỉ giải thích và đề cao học thuyết của riêng mình, trong khi công kích, nói xấu, chê bai, và bôi nhọ học thuyết của người khác. Vì vậy, bạch Thế Tôn, chúng con nghi ngờ và không chắc chắn: ‘Không biết vị sa-môn và bà-la-môn đáng kính nào nói sự thật, và vị nào nói điều giả dối?’”

"Này các Kālāma, các vị nghi ngờ và không chắc chắn là phải lắm. Sự nghi ngờ đã khởi lên trong các vị về một vấn đề không chắc chắn.

Này các Kālāma, xin đừng vội tin theo truyền khẩu (oral transmission / anussava), đừng vội tin theo truyền thống (lineage / paramparā), đừng vội tin theo tin đồn (testament / itikirā), đừng vội tin theo kinh điển (canonical authority / piṭakasampadāna), đừng vội tin chỉ vì lý luận suông (logic / takkihetu), đừng vội tin chỉ vì suy diễn (inference / nayahetu), đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài (reasoned train of thought / ākāraparivitakka), đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc(acceptance of a view after deliberation / diṭṭhinijjhānakkhanti), đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin (appearance of competence / bhabbarūpatā), và đừng vội tin vì nghĩ rằng ‘vị sa-môn này là thầy của chúng ta.’ Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: ‘Những điều này là bất thiện (unskillful / akusala), đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hiện, chúng đưa đến tai hại và khổ đau’, thì khi đó các vị nên từ bỏ chúng.

Này các Kālāma, các vị nghĩ sao? Lòng tham lam khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó?"

“Vì tai hại, bạch Thế Tôn.”

“Một người tham lam, bị lòng tham chi phối, sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các Kālāma, các vị nghĩ sao? Lòng sân hận khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó?”

“Vì tai hại, bạch Thế Tôn.”

“Một người sân hận, bị lòng sân chi phối, sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các Kālāma, các vị nghĩ sao? Sự si mê khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó?”

“Vì tai hại, bạch Thế Tôn.”

“Một người si mê, bị si mê chi phối, sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các Kālāma, các vị nghĩ sao, những điều này là thiện hay bất thiện?”

“Là bất thiện, bạch Thế Tôn.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Đáng chê trách, bạch Thế Tôn.”

“Bị người trí chỉ trích hay ca ngợi?”

“Bị người trí chỉ trích, bạch Thế Tôn.”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến tai hại và khổ đau, hay không? Hay các vị thấy thế nào về điều này?”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến tai hại và khổ đau. Chúng con thấy như vậy.”

"Vậy nên, này các Kālāma, khi Ta nói: ‘Xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng “vị sa-môn này là thầy của chúng ta.” Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những điều này là bất thiện, đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hiện, chúng đưa đến tai hại và khổ đau”, thì khi đó các vị nên từ bỏ chúng.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

Này các Kālāma, xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng ‘vị sa-môn này là thầy của chúng ta.’ Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: ‘Những điều này là thiện(skillful / kusala), không đáng chê trách, được người trí ca ngợi, và khi thực hiện, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc’, thì khi đó các vị nên tiếp nhận và thực hành chúng.

Này các Kālāma, các vị nghĩ sao? Sự không tham lam(contentment / alobha) khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó?"

“Vì lợi ích, bạch Thế Tôn.”

“Một người không tham lam, không bị lòng tham chi phối, không sát sinh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các Kālāma, các vị nghĩ sao? Sự không sân hận(love / adosa) khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó? … Sự không si mê(understanding / amoha) khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tai hại của người đó? … Điều đó có phải là vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các Kālāma, các vị nghĩ sao, những điều này là thiện hay bất thiện?”

“Là thiện, bạch Thế Tôn.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Không đáng chê trách, bạch Thế Tôn.”

“Bị người trí chỉ trích hay ca ngợi?”

“Được người trí ca ngợi, bạch Thế Tôn.”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc, hay không? Hay các vị thấy thế nào về điều này?”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc. Chúng con thấy như vậy.”

"Vậy nên, này các Kālāma, khi Ta nói: 'Xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng “vị sa-môn này là thầy của chúng ta.” Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ:

“Những điều này là thiện, không đáng chê trách, được người trí ca ngợi, và khi thực hiện, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc”, thì khi đó các vị nên tiếp nhận và thực hành chúng.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly tham, ly sân, không si mê, tỉnh giác, và chánh niệm. Vị ấy an trú biến mãn tâm đầy tình thương đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy an trú biến mãn tâm đầy tình thương đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân.

Vị ấy an trú biến mãn tâm đầy lòng bi mẫn đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy an trú biến mãn tâm đầy lòng bi mẫn đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân.

Vị ấy an trú biến mãn tâm đầy niềm vui hỷ lạc đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy an trú biến mãn tâm đầy niềm vui hỷ lạc đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân.

Vị ấy an trú biến mãn tâm đầy sự bình thản đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy an trú biến mãn tâm đầy sự bình thản đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân.

Khi vị thánh đệ tử đó có tâm không oán, không sân, không ô nhiễm và thanh tịnh, vị ấy đạt được bốn niềm an ủi(consolations / assāsa) ngay trong đời này. ‘Nếu quả thật có thế giới khác (đời sau), và nghiệp thiện ác có kết quả (quả báo), thì—khi thân hoại mạng chung—ta sẽ được tái sinh vào cõi lành, cõi trời.’ Đây là niềm an ủi thứ nhất mà vị ấy đạt được.

‘Nếu quả thật không có thế giới khác, và nghiệp thiện ác không có kết quả, thì ngay trong đời này ta sẽ giữ cho mình không oán, không sân, không phiền não và an lạc.’ Đây là niềm an ủi thứ hai mà vị ấy đạt được.

‘Nếu quả thật điều xấu xảy đến cho người làm điều xấu, thì vì ta không có ý định xấu, và vì ta không làm điều gì xấu, làm sao khổ đau chạm đến ta được?’ Đây là niềm an ủi thứ ba mà vị ấy đạt được.

‘Nếu quả thật điều xấu không xảy đến cho người làm điều xấu, thì ta vẫn thấy mình thanh tịnh cả hai phương diện.’ Đây là niềm an ủi thứ tư mà vị ấy đạt được.

Khi vị thánh đệ tử đó có tâm không oán, không sân, không ô nhiễm và thanh tịnh, vị ấy đạt được bốn niềm an ủi này ngay trong đời này."

"Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch bậc Thiện Thệ! Khi vị thánh đệ tử đó có tâm không oán, không sân, không ô nhiễm và thanh tịnh, vị ấy đạt được bốn niềm an ủi này ngay trong đời này. …

Lành thay, bạch Thế Tôn! Lành thay! … Chúng con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỳ-kheo. Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận chúng con là những nam/nữ cư sĩ đã quy y trọn đời."

65.- Các Vị Ở Kesaputta

1-17

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến thị trấn của các người Kàlàmà tên là Kesaputta. Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … “. Lành thay, nếu chúng tôi được yết kiến một vị A-la-hán như vậy”.

2. Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:

− Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, và một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: “Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?”

3. - Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!

4. - Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

− Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

− Người này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không?

− Thua có, bạch Thế Tôn.

5. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

− Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

− Người này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không?

− Thua có, bạch Thế Tôn…

6. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

− Bất hạnh, bạch Thế Tôn. − Người này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

7. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là bất thiện, bạch Thế Tôn.

− Có tội hay không có tội?

− Có tội, bạch Thế Tôn.

− Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

− Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.

− Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? hay ở đây, là như thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ, ở đây, đối với chúng con là vậy.

8. - Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không có tội; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy từ đạt đến và an trú!

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

− Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

− Người này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

11. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

− Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

− Người này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

12. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

− Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

− Người này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho người ấy bất hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

13. - Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là thiện, bạch Thế Tôn.

− Các pháp này là có tội hay không có tội?

− Không có tội, bạch Thế Tôn.

− Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?

− Ðược người trí tán thán, bạch Thế Tôn.

− Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.

14. - Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe theo truyền thuyết; chớ có tin vì nghe theo truyền thống, chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không có tội; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.

15. Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư; Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, không sân như vậy, không uế nhiễm như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, người ấy đạt được bốn sự an ủi.

16. -”Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, coi đời này”; đây là an ủi thứ nhất vị ấy có được. “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ủi thứ hai vị ấy có được. Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được. “Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ủi thứ tư vị ấy có được. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ủi này.

17. - Sự việc là như vậy, bạch Thế Tôn! Sự việc là như vậy, bạch Thiện Thệ! Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ủi: “Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này”; đây là an ủi thứ nhất vị ấy có được. “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ủi thứ hai vị ấy có được. Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được. “Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ủi thứ tư vị ấy có được. Vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ủi này.

Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, quy y pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.

AN 3.66 Với Sāḷha và Bạn Sāḷhasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Nandaka trú gần Sāvatthī (Xá-vệ) tại lầu của bà Migāramātā trong Tu viện phía Đông (Pubbārāma). Khi ấy, Sāḷha, cháu của Migāra, và Rohaṇa, cháu của Pekhuṇiya đến gặp Tôn giả Nandaka, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nandaka nói với Sāḷha:

"Này Sāḷha và bạn, xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng ‘vị sa-môn này là thầy của chúng ta.’ Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: ‘Những điều này là bất thiện, đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hiện, chúng đưa đến tai hại và khổ đau’, thì khi đó các vị nên từ bỏ chúng.

Này Sāḷha, ông nghĩ sao? Lòng tham có thật không?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Sự tham muốn(Covetousness / abhijjhā)’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người tham lam và tham muốn thì sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này Sāḷha, ông nghĩ sao? Lòng sân có thật không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Ác ý(Malice / byāpāda)’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người sân hận và có ác ý thì sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này Sāḷha, ông nghĩ sao? Sự si mê có thật không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Sự không biết(Ignorance / avijjā)’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người si mê và không biết thì sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì tai hại và khổ đau lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này Sāḷha, ông nghĩ sao, những điều này là thiện hay bất thiện?”

“Là bất thiện, thưa Tôn giả.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Đáng chê trách, thưa Tôn giả.”

“Bị người trí chỉ trích hay ca ngợi?”

“Bị người trí chỉ trích, thưa Tôn giả.”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến tai hại và khổ đau, hay không? Hay ông thấy thế nào về điều này?”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến tai hại và khổ đau. Chúng tôi thấy như vậy.”

"Vậy nên, này Sāḷha và bạn, khi tôi nói: ‘Xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng “vị sa-môn này là thầy của chúng ta.” Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những điều này là bất thiện, đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hiện, chúng đưa đến tai hại và khổ đau”, thì khi đó các vị nên từ bỏ chúng.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

Này Sāḷha và bạn, xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng ‘vị sa-môn này là thầy của chúng ta.’ Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ: ‘Những điều này là thiện, không đáng chê trách, được người trí ca ngợi, và khi thực hiện, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc’, thì khi đó các vị nên tiếp nhận và thực hành chúng.

Ông nghĩ sao? Sự không tham muốn(Contentment / anabhijjhā) có thật không?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Sự hài lòng (biết đủ)’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người không tham muốn và hài lòng thì không sát sinh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

Ông nghĩ sao? Sự không sân hận(Love / abyāpāda) có thật không?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Lòng tốt (từ ái)’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người không sân hận và có lòng tốt thì không sát sinh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này Sāḷha, ông nghĩ sao? Sự hiểu biết(Understanding / vijjā) có thật không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“‘Trí tuệ’ là ý tôi muốn nói ở đây. Một người hiểu biết và có trí tuệ thì không sát sinh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này Sāḷha, ông nghĩ sao, những điều này là thiện hay bất thiện?”

“Là thiện, thưa Tôn giả.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Không đáng chê trách, thưa Tôn giả.”

“Bị người trí chỉ trích hay ca ngợi?”

“Được người trí ca ngợi, thưa Tôn giả.”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc, hay không? Hay ông thấy thế nào về điều này?”

“Khi thực hiện chúng, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc. Chúng tôi thấy như vậy.”

"Vậy nên, này Sāḷha và bạn, khi tôi nói: 'Xin đừng vội tin theo truyền khẩu, đừng vội tin theo truyền thống, đừng vội tin theo tin đồn, đừng vội tin theo kinh điển, đừng vội tin chỉ vì lý luận suông, đừng vội tin chỉ vì suy diễn, đừng vội tin theo suy xét theo bề ngoài, đừng vội tin theo sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng vội tin vì vẻ ngoài có vẻ đáng tin, và đừng vội tin vì nghĩ rằng “vị sa-môn này là thầy của chúng ta.” Nhưng khi nào các vị tự mình biết rõ:

“Những điều này là thiện, không đáng chê trách, được người trí ca ngợi, và khi thực hiện, chúng đưa đến lợi ích và hạnh phúc”, thì khi đó các vị nên tiếp nhận và thực hành chúng.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly tham, ly sân, không si mê, tỉnh giác, và chánh niệm. Vị ấy an trú biến mãn tâm từ … tâm bi … tâm hỷ … tâm xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy an trú biến mãn tâm xả đến toàn thế giới—rộng lớn, bao la, vô biên, không oán, không sân.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Có cái này, có cái thấp kém hơn cái này, có cái cao thượng hơn cái này, và có sự giải thoát vượt khỏi phạm vi nhận thức này.’ Biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi ô nhiễm của dục vọng(defilements of sensuality / dục lậu), ô nhiễm của sự tái sinh(desire to be reborn / hữu lậu), và ô nhiễm của sự không biết(ignorance / vô minh lậu). Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã giải thoát.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Sự tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Vị ấy hiểu rõ: ‘Trước đây có tham lam, đó là bất thiện. Nay không còn, vậy là thiện. Trước đây có sân hận, đó là bất thiện. Nay không còn, vậy là thiện. Trước đây có si mê, đó là bất thiện. Nay không còn, vậy là thiện.’ Vì vậy, vị ấy sống không còn mong muốn ngay trong đời này, được dập tắt (phiền não), được mát mẻ, cảm nghiệm hạnh phúc, với tự thân trở thành thanh tịnh (như Phạm thiên)."

66.- Sàlhà

1-13

Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Nandaka trú ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ở lâu đài mẹ của Migàra.

Rồi Sàlhà, cháu của Migàra, và Rohana, cháu của Pekhuniya đi đến Tôn giả Nandaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với Sàlhà, cháu trai của Migàra như sau:

2. - Hãy đến này các Sàlhà Nandaka, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ:, thời này các Sàlhà, các thầy cần phải từ bỏ chúng

Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có tham hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

− Tham, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có tham này bị tham chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

4. - Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có sân hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

− Sân, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có sân này bị sân chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

5. - Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có si hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

− Si, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có si này bị si chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

6. - Các thầy nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là bất thiện, thưa Tôn giả.

− Có tội hay không có tội?

− Có tội, thưa Tôn giả.

− Bị ngườicó trí quở trách hay được người có trí tán thán?

− Bị người có trí quở trách, thưa Tôn giả.

− Ðược thực hiện, được chấp thuận, có đưa lại bất hạnh hay đau khổ không? Hay ở đây là thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp thuận, thưa Tôn giả, chúng đưa lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

7.-Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì nhân định lý; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết; chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết, chớ có tin vì thấy là thích hợp, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh cà đau khổ”, thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.

Như vậy, này các Sàlhà, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này không bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy đạt đến và an trú!

8. - Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không tham khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?

− Hạnh phúc, thưa Tôn giả.

− Người này không tham, này các Sàlhà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

9. - Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?

− Hạnh phúc, thưa Tôn giả.

− Người này không sân, này các Sàlhà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

10. - Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?

− Hạnh phúc, thưa Tôn giả.

− Người này không si, này các Sàlhà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Tôn giả.

11. - Các ông nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là thiện, bạch Tôn giả.

− Các Pháp này là tội hay không có tội?

− Không có tội, bạch Tôn giả.

− Bị người trí quở trách hay được người trí tán thán?

− Ðược người trí tán thán, bạch Tôn giả.

− Nếu được thực hiện, được chấp thuận, có đem đến hạnh phúc an lạc không? Hay ở đây là như thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp thuận, bạch Tôn giả, chúng đưa đến hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

12. Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình, chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Nhưng Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này dược các người trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận, đưa lại hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.

13. Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy rõ biết như sau: “Có trạng thái này, có trạng thái liệt, có trạng thái thù thắng, có xuất ly ra khỏi tướng giới này.” Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khởi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Vị ấy rõ biết như sau: “Trước ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện”. Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được giải thoát khỏi hy cầu, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh.

AN 3.67 Đề Tài Thảo Luận Kathāvatthusutta

"Này các Tỳ-kheo, có ba đề tài thảo luận(topics of discussion / kathāvatthu) này. Ba đề tài đó là gì? Các thầy có thể thảo luận về quá khứ: ‘Trong quá khứ đã như thế này.’ Các thầy có thể thảo luận về tương lai: ‘Trong tương lai sẽ như thế này.’ Hoặc các thầy có thể thảo luận về hiện tại: ‘Hiện tại đang như thế này.’

Các thầy có thể biết một người có khả năng thảo luận hay không bằng cách xem cách họ tham gia vào cuộc thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu câu hỏi đó cần được trả lời dứt khoát mà họ không trả lời dứt khoát; hoặc nếu câu hỏi đó cần phân tích mà họ trả lời không phân tích; hoặc nếu câu hỏi đó cần hỏi ngược lại mà họ trả lời không hỏi ngược lại; hoặc nếu câu hỏi đó nên được gác lại mà họ không gác lại, thì người đó không có khả năng thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu câu hỏi đó cần được trả lời dứt khoát và họ trả lời dứt khoát; hoặc nếu câu hỏi đó cần phân tích và họ trả lời sau khi phân tích; hoặc nếu câu hỏi đó cần hỏi ngược lại và họ trả lời bằng một câu hỏi ngược lại; hoặc nếu câu hỏi đó nên được gác lại và họ gác lại, thì người đó có khả năng thảo luận.

Các thầy có thể biết một người có khả năng thảo luận hay không bằng cách xem cách họ tham gia vào cuộc thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ không nhất quán về lập trường của mình là gì và không phải là gì; về những gì họ đề xuất; về việc nói từ những gì họ biết; và về trình tự thích hợp, thì người đó không có khả năng thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ nhất quán về lập trường của mình là gì và không phải là gì; về những gì họ đề xuất; về việc nói từ những gì họ biết; và về trình tự thích hợp, thì người đó có khả năng thảo luận.

Các thầy có thể biết một người có khả năng thảo luận hay không bằng cách xem cách họ tham gia vào cuộc thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ lảng tránh vấn đề; lái cuộc thảo luận sang chuyện khác; hoặc tỏ ra bực bội, sân hận, và cay đắng, thì người đó không có khả năng thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ không lảng tránh vấn đề; không lái cuộc thảo luận sang chuyện khác; hoặc không tỏ ra bực bội, sân hận, và cay đắng, thì người đó có khả năng thảo luận.

Các thầy có thể biết một người có khả năng thảo luận hay không bằng cách xem cách họ tham gia vào cuộc thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ hăm dọa, đè bẹp, chế nhạo, hoặc bắt lỗi nhỏ nhặt, thì người đó không có khả năng thảo luận. Khi một người được hỏi một câu hỏi, nếu họ không hăm dọa, đè bẹp, chế nhạo, hoặc bắt lỗi nhỏ nhặt, thì người đó có khả năng thảo luận.

Các thầy có thể biết một người có đủ phẩm chất cần thiết hay không bằng cách xem cách họ tham gia vào cuộc thảo luận. Nếu họ lắng nghe chăm chú thì họ có đủ phẩm chất cần thiết; nếu họ không lắng nghe chăm chú thì họ không có đủ phẩm chất cần thiết. Người có đủ phẩm chất cần thiết sẽ thắng tri một pháp, liễu tri một pháp, đoạn tận một pháp, và chứng ngộ một pháp—và rồi họ trải nghiệm sự giải thoát hoàn toàn. Đây là mục đích của thảo luận, tham vấn, các phẩm chất cần thiết, và sự lắng nghe đúng cách, đó là, tâm giải thoát do không còn bám víu.

Những kẻ nói chuyện với lòng thù địch, Quá tự mãn, kiêu căng, Không cao thượng, công kích đức hạnh, Họ tìm lỗi lầm ở nhau.

Họ cùng vui mừng khi đối thủ Nói vụng về và phạm sai lầm, Trở nên bối rối và thất bại— Nhưng bậc Thánh không thảo luận như thế.

Nếu người trí muốn mở cuộc thảo luận Liên quan đến Pháp và nghĩa lý— Loại thảo luận mà bậc Thánh thường làm— Thì bậc trí tuệ ấy nên bắt đầu thảo luận,

Biết đúng thời điểm, Không thù địch hay kiêu căng. Không quá phấn khích, Khinh miệt, hay hung hăng,

Hay với tâm đầy ganh tị, Họ nói từ sự hiểu biết chân chính. Họ tán đồng lời nói hay, Không chỉ trích lời nói dở.

Họ không cố chấp tìm lỗi, Cũng không bắt lỗi nhỏ nhặt, Không hăm dọa hay đè bẹp người khác, Cũng không nói lời bóng gió (ám chỉ).

Người tốt tham vấn Vì kiến thức và sự sáng tỏ. Đó là cách bậc Thánh tham vấn, Đây là cuộc tham vấn cao thượng. Biết điều này, người thông minh Sẽ tham vấn không kiêu ngạo."

67.- Các Vấn Ðề Ðược Nói Ðến

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba vấn đề này được nói đến. Thế nào là ba? Có thể nói về quá khứ, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy đã xảy ra trong thời quá khứ. Có thể nói về tương lai, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy sẽ xảy ra trong thời tương lai”. Có thể nói về hiện tại, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy đang xảy ra trong thời hiện tại”.

2.-Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo, một người có thể biết được là có khả năng nói chuyện hay không có khả năng? Nếu người nào, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu không trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, không trả lời một cách phân tích một câu hỏi cần trả lời một cách phân tích, không trả lời một câu hỏi ngược lại với một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại, không có gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, một người như vậy không có khả năng để thảo luận.

Nếu người nào, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, trả lời phân tích một câu hỏi cần trả lời một cách phân tích, trả lời với một câu hỏi ngược lại một câu hỏi cần phải trả lời với một hỏi ngược lại, gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, một người như vậy có khả năng để thảo luận.

3. Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo, một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có khả năng thảo luận?

Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, không xác nhận là đúng hay không đúng, không xác nhận là một giả thuyết, không xác nhận là quan điểm của bậc trí, không xác nhận là sở hành thường làm. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy không có khả năng thảo luận.

Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, xác nhận là đúng hay không đúng, xác nhận là một giả thuyết, xác nhận là quan điểm của bậc trí, xác nhận là sở hành thường làm. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy có khả năng thảo luận.

4. Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo, một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có khả năng thảo luận?

Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, bày tỏ sự phẫn nộ, sân, hận, bất mãn. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này không có khả năng thảo luận.

Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, không tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không bày tỏ sự phẫn nộ, sân, hận, bất mãn. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này có khả năng thảo luận.

5.-Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo, một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có khả năng thảo luận?

Nếu người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, lại mắng chửi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này không có khả năng thảo luận.

Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, không mắng chửi, không đánh đập, không nhạo báng, không chụp lấy chỗ sơ hở. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này có khả năng thảo luận.

6. Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo, có thể biết được một người có duyên hay không có duyên.

Không có lóng tai, này các Tỷ-kheo, là không có duyên. Có lóng tai là có duyên. Người có duyên thắng tri một pháp, biến tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc mot65t pháp. Do thắng tri một pháp, liễu tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp, vị ấy cảm thấy chánh giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của thảo luận, như vậy là lợi ích của đàm luận, như vậy là lợi ích có duyên, như vậy là lợi ích nghe lời khuyên, tức là tâm giải thoát không có chấp thủ. 7.

Nói chuyện với hiềm thù
Thiên chấp và kiêu mạn
Nghịch lại đức bậc Thánh
Bới móc lỗi lầm nhau
Thích nghe nói xấu người
Người lầm, người bối rối
Người bị thua, bị hại
Bậc Thánh không làm vậy.
Nếu muốn cùng đàm luận
Bậc hiền biết thời gian
Câu chuyện của bậc Thánh
Liên hệ pháp, pháp nghĩa
Người có trí nói chuyện
Không hiềm thù kiêu mạn
Với tâm không chấp trước
Không hiềm hận độc đoán
Không để tâm lơ đãng
Nói lên với chánh trí
Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích,
Không chụp sơ hở người
Không nhiếc mắng đánh đập
Không nói lời vu vơ
Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỷ
Như vầy bậc Thánh nói
Như vầy bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn

AN 3.68 Tín Đồ Các Tôn Giáo Khác Aññatitthiyasutta

“Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy: ‘Có ba điều này. Ba điều đó là gì? Tham, sân, và si. Đây là ba điều. Sự khác biệt giữa chúng là gì?’ Các thầy sẽ trả lời họ như thế nào?”

“Giáo pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc rễ. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy tự mình làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỳ-kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy: ‘Có ba điều này. Ba điều đó là gì? Tham, sân, và si. Đây là ba điều. Sự khác biệt giữa chúng là gì?’ Các thầy nên trả lời họ: ‘Thưa các đạo hữu, tham thì ít đáng trách, nhưng phai nhạt chậm. Sân thì rất đáng trách, nhưng phai nhạt nhanh. Si thì rất đáng trách, và phai nhạt chậm.’

Và nếu họ hỏi: ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến tham khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh?’ Các thầy nên nói: ‘Vẻ đẹp của sự vật(beautiful feature of things / tịnh tướng). Khi các vị hướng tâm sai pháp(apply the mind irrationally / không như lý tác ý) đến vẻ đẹp của sự vật, tham khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến tham khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh.’

Và nếu họ hỏi: ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến sân khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh?’ Các thầy nên nói: ‘Vẻ khó chịu của sự vật(feature of harshness / sân tướng). Khi các vị hướng tâm sai pháp đến vẻ khó chịu của sự vật, sân khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến sân khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh.’

Và nếu họ hỏi: ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến si khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh?’ Các thầy nên nói: ‘Sự hướng tâm sai pháp(Irrational application of mind / không như lý tác ý). Khi các vị hướng tâm sai pháp, si khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến si khởi lên, và một khi đã khởi lên thì tăng trưởng và lớn mạnh.’

Và nếu họ hỏi, ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến tham không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ?’ Các thầy nên nói: ‘Vẻ xấu xí của sự vật(ugly feature of things / bất tịnh tướng). Khi các vị hướng tâm đúng pháp(apply the mind rationally / như lý tác ý) đến vẻ xấu xí của sự vật, tham không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến tham không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ.’

Và nếu họ hỏi, ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến sân không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ?’ Các thầy nên nói: ‘Tâm giải thoát nhờ tình thương(heart’s release by love / từ tâm giải thoát). Khi các vị hướng tâm đúng pháp đến tâm giải thoát nhờ tình thương, sân không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến sân không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ.’

Và nếu họ hỏi, ‘Nguyên nhân nào, lý do nào khiến si không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ?’ Các thầy nên nói: ‘Sự hướng tâm đúng pháp(Rational application of mind / như lý tác ý). Khi các vị hướng tâm đúng pháp, si không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến si không khởi lên, hoặc nếu đã khởi lên thì được từ bỏ.’"

68. Du Sĩ Ngoại Ðạo.

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: “Có ba pháp này, này các Hiền giả. Thế nào là ba? Tham, sân, si. Những pháp này, này các Hiền giả, là ba pháp. Trong ba pháp này, này các Hiền giả, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là khác biệt? “Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông trả lời như thế nào với các du sĩ ngoại đạo ấy?

− Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làn căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết ý nghĩa lời nói này cho chúng con. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói!

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau: − Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: “Có ba pháp này, này các Hiền giả. Thế nào là ba? Tham, sân, si. Những pháp này, này các Hiền giả, là ba pháp. Trong ba pháp này, này các Hiền giả, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là khác biệt? “Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Tham, thưa các Hiền giả, là tội nhỏ, nhưng ly tham là chậm chạp. Sân là tội lớn, nhưng ly sân là mau chóng. Si là tội lớn, và ly si là chậm chạp.”

2. “Do nhân gì, này chư Hiền, do duyên gì tham chưa sanh được sanh khởi, và tham sanh rồi đưa đến tăng trưởng, quảng đại?”

Cần phải trả lời là “Tịnh tướng”. “Với ai không như lý tác ý tịnh tướng, thời tham chưa sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, tham chưa sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại”.

3. “Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì sân chưa sanh được sanh khởi, và sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?”

Cần phải trả lời là “Chướng ngại tướng”. “Với ai không như lý tác ý chướng ngại tướng, thời sân chưa sanh được sanh khởi, sân sanh rồi được tăng trưởng quảng đại. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, khiến sân chưa sanh được sanh khởi, và sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại”.

4. “Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?”

Cần phải trả lời là “Không như lý tác ý”. “Với ai không như lý tác ý chướng ngại tướng, thời si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng đại. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, khiến si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng đại”.

5.-”Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì tham chưa sanh được không sanh khởi, hay tham đã sanh được đoạn tận?”

Cần phải trả lời là “tướng bất tịnh”. “Với ai như lý tác ý tướng bất tịnh, thời tham chưa sanh khởi không sanh khởi, hay tham đã sanh khởi được đoạn tận. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến tham chưa sanh khởi không sanh khởi, hay tham đã sanh khởi được đoạn tận.”

6. “Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì sân chưa sanh được không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận?”

Cần phải trả lời là “từ tâm giải thoát”. “Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời sân chưa sanh khởi không sanh khởi, hay sân đã sanh khởi được đoạn tận. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến sân chưa sanh khởi không sanh khởi, hay sân đã sanh khởi được đoạn tận.”

7. “Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì si chưa sanh được không sanh khởi, hay si đã sanh được đoạn tận?”

Cần phải trả lời là “như lý tác ý”. “Với ai như lý tác ý thời si chưa sanh khởi không sanh khởi, và si đã sanh khởi được đoạn tận. Ðây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến si chưa sanh khởi không sanh khởi, hay si đã sanh khởi được đoạn tận.”

AN 3.69 Cội Rễ Bất Thiện Akusalamūlasutta

"Này các Tỳ-kheo, có ba cội rễ bất thiện(unskillful roots / bất thiện căn) này. Ba cội rễ đó là gì? Tham, sân, và si.

Tham là một cội rễ của bất thiện. Khi một người tham lam khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là bất thiện. Khi một người tham lam, bị lòng tham chi phối, gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là bất thiện. Và như vậy, nhiều điều xấu xa, bất thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi tham.

Sân là một cội rễ của bất thiện. Khi một người sân hận khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là bất thiện. Khi một người sân hận, bị lòng sân chi phối, gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là bất thiện. Và như vậy, nhiều điều xấu xa, bất thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi sân.

Si là một cội rễ của bất thiện. Khi một người si mê khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là bất thiện. Khi một người si mê, bị si mê chi phối, gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là bất thiện. Và như vậy, nhiều điều xấu xa, bất thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi si. Người như vậy được cho là có lời nói phi thời, không thật, vô nghĩa, không hợp Pháp, không hợp Luật.

Tại sao lại như vậy? Người này gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’. Vì vậy, khi ai đó đưa ra lời chỉ trích có cơ sở, họ tỏ ra khinh miệt và không thừa nhận gì cả. Khi ai đó đưa ra lời chỉ trích vô căn cứ, họ không cố gắng giải thích, ‘Đây là lý do tại sao điều đó không đúng, đây là lý do tại sao điều đó sai.’ Đó là lý do tại sao người như vậy được cho là có lời nói phi thời, không thật, vô nghĩa, không hợp Pháp, không hợp Luật.

Người như vậy—bị chi phối bởi các phẩm chất xấu xa, bất thiện sinh ra từ tham, sân, và si—chịu đau khổ ngay trong đời này, với phiền muộn, thống khổ, và bức bách. Và khi thân hoại mạng chung, họ có thể đoán trước sẽ được tái sinh vào cõi dữ (ác thú).

Giả sử một cây sala, cây trục xe, hoặc cây hoàng dương bị ba dây leo chân lạc đà bóp nghẹt và bao phủ. Nó sẽ đi đến hủy hoại và tai họa. Cũng vậy, người như vậy—bị chi phối bởi các phẩm chất xấu xa, bất thiện sinh ra từ tham, sân, và si—chịu đau khổ ngay trong đời này, với phiền muộn, thống khổ, và bức bách. Và khi thân hoại mạng chung, họ có thể đoán trước sẽ được tái sinh vào cõi dữ.

Đây là ba cội rễ bất thiện.

Có ba cội rễ thiện(skillful roots / thiện căn) này. Ba cội rễ đó là gì? Không tham (Vô tham), Không sân (Vô sân), và Không si (Vô si).

Không tham là một cội rễ của thiện. Khi một người không tham lam khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là thiện. Khi một người không tham lam, không bị lòng tham chi phối, không gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là thiện. Và như vậy, nhiều điều thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi sự không tham.

Không sân là một cội rễ của thiện. Khi một người không sân hận khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là thiện. Khi một người không sân hận, không bị lòng sân chi phối, không gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là thiện. Và như vậy, nhiều điều thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi sự không sân.

Không si là một cội rễ của thiện. Khi một người không si mê khởi ý hành động qua thân, khẩu, hoặc ý, điều đó cũng là thiện. Khi một người không si mê, không bị si mê chi phối, không gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’, điều đó cũng là thiện. Và như vậy, nhiều điều thiện này được tạo ra trong họ, sinh ra, bắt nguồn, khởi sinh, và được duyên bởi sự không si. Người như vậy được cho là có lời nói đúng thời, chân thật, có ý nghĩa, hợp Pháp, hợp Luật.

Tại sao lại như vậy? Người này không gây khổ đau cho người khác dưới một lý do sai trái—bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án, hoặc trục xuất—nghĩ rằng ‘Ta có quyền lực, ta muốn quyền lực’. Vì vậy, khi ai đó đưa ra lời chỉ trích có cơ sở, họ thừa nhận và không khinh miệt. Khi ai đó đưa ra lời chỉ trích vô căn cứ, họ cố gắng giải thích, ‘Đây là lý do tại sao điều đó không đúng, đây là lý do tại sao điều đó sai.’ Đó là lý do tại sao người như vậy được cho là có lời nói đúng thời, chân thật, có ý nghĩa, hợp Pháp, hợp Luật.

Đối với người như vậy, các phẩm chất xấu xa, bất thiện sinh ra từ tham, sân, và si bị đoạn tận gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, bị tiêu diệt, và không thể sinh khởi trong tương lai. Ngay trong đời này, họ hạnh phúc, không phiền muộn, thống khổ, và bức bách, và họ cũng được tịch diệt ngay trong đời này (đạt Niết-bàn).

Giả sử một cây sala, cây trục xe, hoặc cây hoàng dương bị ba dây leo chân lạc đà bóp nghẹt và bao phủ. Rồi có một người mang cuốc và giỏ đến. Họ sẽ chặt dây leo tận gốc, đào lên, và nhổ sạch, cho đến cả rễ con và thân leo. Rồi họ chẻ dây leo ra, cắt thành đoạn, và băm thành mảnh vụn. Họ phơi khô mảnh vụn trong gió và nắng, đốt thành tro bằng lửa, và làm thành tro bụi. Rồi họ quét tro đi trong gió mạnh, hoặc thả trôi theo dòng nước xiết. Như vậy, những dây leo chân lạc đà đó sẽ bị đoạn tận gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, và bị tiêu diệt, không thể sinh khởi trong tương lai. Cũng vậy, đối với người như vậy, các phẩm chất xấu xa, bất thiện sinh ra từ tham, sân, và si bị đoạn tận gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, bị tiêu diệt, và không thể sinh khởi trong tương lai. Ngay trong đời này, họ hạnh phúc, không phiền muộn, thống khổ, và bức bách, và họ cũng được tịch diệt ngay trong đời này.

Đây là ba cội rễ thiện."

69.- Các Căn Bản Bất Thiện

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện.

Cái gì là tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng tham có làm về thân, về lợi, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng tham, bị lòng tham chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, khởi lên nơi người ấy.

2. Cái gì là sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng sân có làm gì về thân, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng sân, bị lòng sân chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ sân, duyên khởi từ sân, tập khởi từ sân, khởi lên nơi người ấy.

3. Cái gì là si, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng si có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng si, bị lòng si chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ si, duyên khởi từ si, tập khởi từ si, khởi lên nơi người ấy.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo, đã vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Khi được đối chất với sự thật, người ấy phủ nhận, không có chấp nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy không có nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng: “Ðây là không chân, đây là không thực”. Cho nên, người như vậy được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm mất sự tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do si sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.

5. Ví như này các Tỷ-kheo, cây sàla hay cây dhava hay cây phandana bị phá hoại, bị bao trùm bởi ba loại tầm gởi, đi đến tổn hại, đi đến bất hạnh, đi đến tổn hại, và bất hạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người như vậy, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh chinh phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú … bị các ác bất thiện pháp do sân sanh … bị các ác bất thiện pháp do si sanh chinh phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn bản bất thiện.

6. Có ba căn bản của thiện, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Không tham là căn bản của thiện, không sân là căn bản của thiện, không si là căn bản của thiện. Cái gì là không tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy thiện. Ai với lòng không tham có làm gì về thân, về lợi, về ý, cái ấy thiện. Ai không có lòng tham, không bị lòng tham chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham, khởi lên nơi người ấy.

7. Cái gì là không sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy thiện. Ai với lòng không sân có làm về thân, về lợi, về ý, cái ấy thiện. Với ai không có lòng sân, không bị lòng sân chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh từ không sân, duyên khởi từ không sân, tập khởi từ không sân, khởi lên nơi người ấy.

8. Cái gì là không si, này các Tỷ-kheo, cái ấy là thiện. Ai với lòng không si có làm về thân, về lợi, về ý, cái ấy thiện. Với ai không có lòng si, không bị lòng si chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh ra từ không si, duyên khởi từ không si, tập khởi từ không si, khởi lên nơi người ấy.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo, đã không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Khi được đối chất với sự thật, người ấy chấp nhận, không có phủ nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng: “Ðây là chân, đây là thực”. Cho nên, người như vậy được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật.

10. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, đoạn tận các ác bất thiện do tham sanh, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ … Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị các ác bất thiện pháp do si sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong hiện tại được Bát-niếtbàn.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, cây sàla hay cây dhava, cây phandana, bị ba cây tầm gởi phá hoại bao trùm. Rồi có người đi đến, cầm cuốc và thúng. Người ấy chặt đứt rễ cây tầm gởi ấy, sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào mương. Ðào mương xong, người ấy nhổ các rễ lên, nhỏ cho đến các rễ nhỏ, rễ usira. Rồi người ấy chặt cây tầm gởi thành từng khúc nhỏ, bửa và chẻ thành từng mảnh nhỏ, người ấy đem phơi giữa gió và mặt trời. Sau khi phơi giữa gió và mặt trời, người ấy lấy lửa đốt, làm thành một đống tro, và quạt chúng ra giữa gió lớn, hay đổ chúng xuống dòng nước chảy nhanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các cây tầm gởi ấy, bị cắt đứt gốc từ rễ, bị làm cho như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người như vậy, các ác bất thiện pháp do tham sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn … do sân, sanh … các ác bất thiện pháp do si sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn bản của thiện.

AN 3.70 Ngày Trai Giới Uposathasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī (Xá-vệ) tại lầu của bà Migāramātā trong Tu viện phía Đông (Pubbārāma).

Khi ấy, Visākhā, mẹ của Migāra (Migāramātā), đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi bà: “Này Visākhā, bà từ đâu đến vào giữa ban ngày thế này?”

“Bạch Thế Tôn, hôm nay con đang giữ ngày trai giới(Sabbath / Uposatha).”

"Này Visākhā, có ba loại ngày trai giới này. Ba loại đó là gì? Ngày trai giới của người chăn bò, ngày trai giới của người Ni-kiền-tử (Jains / Nigaṇṭha), và ngày trai giới của bậc Thánh.

Và ngày trai giới của người chăn bò là gì? Giống như một người chăn bò, vào cuối buổi chiều, lùa bò về cho chủ. Họ suy ngẫm: ‘Hôm nay bò ăn cỏ ở chỗ này chỗ kia, và uống nước ở chỗ này chỗ kia. Ngày mai bò sẽ ăn cỏ ở chỗ này chỗ kia, và uống nước ở chỗ này chỗ kia.’ Cũng vậy, có người giữ ngày trai giới suy ngẫm: ‘Hôm nay ta đã ăn món này món kia, và dùng bữa với món này món kia. Ngày mai ta sẽ ăn món này món kia, và dùng bữa với món này món kia.’ Và như vậy họ trải qua ngày của mình với tâm đầy lòng tham lam. Đó là ngày trai giới của người chăn bò. Khi ngày trai giới của người chăn bò được giữ như vậy, nó không có nhiều kết quả, lợi ích, ánh sáng hay phước báu lớn lao.

Và ngày trai giới của người Ni-kiền-tử là gì? Có một loại sa-môn thuộc nhóm gọi là Ni-kiền-tử. Họ khuyến khích các đệ tử của mình: ‘Này các thiện tín, xin đừng làm hại bất kỳ chúng sinh nào cách xa hơn một trăm do-tuần về phía đông. Đừng làm hại bất kỳ chúng sinh nào cách xa hơn một trăm do-tuần về phía tây. Đừng làm hại bất kỳ chúng sinh nào cách xa hơn một trăm do-tuần về phía bắc. Đừng làm hại bất kỳ chúng sinh nào cách xa hơn một trăm do-tuần về phía nam.’ Như vậy, họ khuyến khích lòng từ và bi mẫn đối với một số chúng sinh mà không phải những chúng sinh khác. Vào ngày trai giới, họ khuyến khích các đệ tử của mình: ‘Này các thiện tín, hãy cởi bỏ hết y phục và nói: “Ta không thuộc về ai ở bất cứ đâu! Và không có gì thuộc về ta ở bất cứ đâu!”’ Nhưng cha mẹ họ vẫn biết, ‘Đây là con của chúng ta.’ Và họ biết, ‘Đây là cha mẹ của ta.’ Vợ và con vẫn biết, ‘Đây là người nuôi dưỡng chúng ta.’ Và họ biết, ‘Đây là vợ và con của ta.’ Tôi tớ, người làm công, và nhân viên vẫn biết: ‘Đây là chủ của chúng ta.’ Và họ biết, ‘Đây là tôi tớ, người làm công, và nhân viên của ta.’ Như vậy, vào lúc họ nên được khuyến khích nói sự thật, thì người Ni-kiền-tử lại khuyến khích họ nói dối. Điều này, Ta nói, là nói dối. Khi đêm đã qua, họ lại sử dụng tài sản của mình, dù chúng chưa được trao trả lại cho họ. Điều này, Ta nói, là lấy của không cho (trộm cắp). Đó là ngày trai giới của người Ni-kiền-tử. Khi ngày trai giới của người Ni-kiền-tử được giữ như vậy, nó không có nhiều kết quả, lợi ích, ánh sáng hay phước báu lớn lao.

Và ngày trai giới của bậc Thánh là gì? Tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn. Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Như Lai(recollects the Realized One / niệm Phật): ‘Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Minh Hạnh Túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Phật, bậc Thế Tôn.’ Khi họ tưởng niệm đến Như Lai, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Giống như làm sạch cái đầu dơ bẩn bằng nỗ lực tinh tấn vậy.

Và làm thế nào cái đầu dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn? Bằng bột gội đầu, đất sét, và nước, và bằng cách áp dụng nỗ lực thích đáng. Cũng vậy, tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Như Lai: ‘Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Minh Hạnh Túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Phật, bậc Thế Tôn.’ Khi họ tưởng niệm đến Như Lai, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Điều này được gọi là: ‘Một vị thánh đệ tử giữ ngày trai giới của bậc Thiên (niệm Phật), sống cùng với bậc Thiên. Và vì họ nghĩ đến bậc Thiên, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ.’ Đó là cách tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn. Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Pháp(recollects the teaching / niệm Pháp): ‘Pháp được Thế Tôn khéo giảng—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’ Khi họ tưởng niệm đến Pháp, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Giống như làm sạch thân thể dơ bẩn bằng nỗ lực tinh tấn vậy.

Và làm thế nào thân thể dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn? Bằng xà phòng và bột thơm, nước, và bằng cách áp dụng nỗ lực thích đáng. Đó là cách thân thể dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn. Cũng vậy, tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Pháp: ‘Pháp được Thế Tôn khéo giảng—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’ Khi họ tưởng niệm đến Pháp, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Điều này được gọi là: ‘Một vị thánh đệ tử giữ ngày trai giới của Pháp (niệm Pháp), sống cùng với Pháp. Và vì họ nghĩ đến Pháp, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ.’ Đó là cách tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn. Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Tăng(recollects the Saṅgha / niệm Tăng): ‘Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn đang thực hành con đường tốt đẹp (Diệu hạnh), chân thật (Trực hạnh), có hệ thống (Như lý hạnh), và đúng đắn (Chánh hạnh). Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi, tám bậc Thánh nhân. Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn này đáng được cúng dường, đáng được tiếp đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay vái chào, và là ruộng phước vô thượng cho đời.’ Khi họ tưởng niệm đến Tăng, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Giống như làm sạch tấm vải dơ bẩn bằng nỗ lực tinh tấn vậy.

Và làm thế nào tấm vải dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn? Bằng muối, tro, phân bò, và nước, và bằng cách áp dụng nỗ lực thích đáng. Đó là cách tấm vải dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn. Cũng vậy, tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến Tăng: ‘Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn đang thực hành con đường tốt đẹp, chân thật, có hệ thống, và đúng đắn. Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi, tám bậc Thánh nhân. Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn này đáng được cúng dường, đáng được tiếp đón, đáng được bố thí, và đáng được chắp tay vái chào. Tăng đoàn ấy là ruộng phước vô thượng cho đời.’ Khi họ tưởng niệm đến Tăng, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Điều này được gọi là: ‘Một vị thánh đệ tử giữ ngày trai giới của Tăng (niệm Tăng), sống cùng với Tăng. Và vì họ nghĩ đến Tăng, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ.’ Đó là cách tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn. Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến giới hạnh của mình(recollects their own ethical conduct / niệm Giới), những giới hạnh không bị sứt mẻ, không tì vết, không đốm, không ô nhiễm, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và đưa đến định. Khi họ tưởng niệm đến giới hạnh của mình, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Giống như làm sạch chiếc gương dơ bẩn bằng nỗ lực tinh tấn vậy.

Và làm thế nào chiếc gương dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn? Bằng dầu, tro, miếng giẻ cuộn lại, và bằng cách áp dụng nỗ lực thích đáng. Đó là cách chiếc gương dơ bẩn được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn. Cũng vậy, tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến giới hạnh của mình, những giới hạnh không bị sứt mẻ, không tì vết, không đốm, không ô nhiễm, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và đưa đến định. Khi họ tưởng niệm đến giới hạnh của mình, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Điều này được gọi là: ‘Một vị thánh đệ tử giữ ngày trai giới của Giới (niệm Giới), sống cùng với Giới. Và vì họ nghĩ đến giới hạnh của mình, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ.’ Đó là cách tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn. Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến chư Thiên(recollects the deities / niệm Thiên): ‘Có chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba (Đao Lợi), chư Thiên Dạ Ma, chư Thiên Đâu Suất, chư Thiên Hóa Lạc, chư Thiên Tha Hóa Tự Tại, chư Thiên thuộc Phạm Chúng Thiên, và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi các vị trời đó mệnh chung từ đây, họ được tái sinh đến đó là nhờ có tín, giới, văn, thí, và tuệ. Ta cũng có cùng loại tín, giới, văn, thí, và tuệ như vậy.’ Khi họ tưởng niệm đến tín, giới, văn, thí, và tuệ của cả bản thân mình và của các vị trời đó, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Giống như làm sạch vàng quặng bị ô nhiễm bằng nỗ lực tinh tấn vậy.

Và làm thế nào vàng quặng bị ô nhiễm được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn? Bằng lò luyện, chất trợ dung, ống thổi, và kẹp, và bằng cách áp dụng nỗ lực thích đáng. Đó là cách vàng quặng bị ô nhiễm được làm sạch bằng nỗ lực tinh tấn. Cũng vậy, tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Và làm thế nào tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn? Đó là khi một vị thánh đệ tử tưởng niệm đến chư Thiên: ‘Có chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba, chư Thiên Dạ Ma, chư Thiên Đâu Suất, chư Thiên Hóa Lạc, chư Thiên Tha Hóa Tự Tại, chư Thiên thuộc Phạm Chúng Thiên, và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi các vị trời đó mệnh chung từ đây, họ được tái sinh đến đó là nhờ có tín, giới, văn, thí, và tuệ. Ta cũng có cùng loại tín, giới, văn, thí, và tuệ như vậy.’ Khi họ tưởng niệm đến tín, giới, văn, thí, và tuệ của cả bản thân mình và của các vị trời đó, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ. Điều này được gọi là: ‘Một vị thánh đệ tử giữ ngày trai giới của chư Thiên (niệm Thiên), sống cùng với chư Thiên. Và vì họ nghĩ đến chư Thiên, tâm họ trở nên trong sáng, niềm vui sinh khởi, và các cấu uế của tâm được từ bỏ.’ Đó là cách tâm ô uế được làm sạch nhờ nỗ lực tinh tấn.

Rồi vị thánh đệ tử đó suy ngẫm: 'Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ sát sinh, từ bỏ gậy và kiếm. Các vị ấy có lòng hổ thẹn và từ bi, và sống đầy lòng thương tưởng tất cả chúng sinh. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ sát sinh, từ bỏ gậy và kiếm. Ta sẽ có lòng hổ thẹn và từ bi, và sống đầy lòng thương tưởng tất cả chúng sinh. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ lấy của không cho. Các vị ấy chỉ nhận vật đã cho, mong đợi vật đã cho. Các vị ấy giữ mình trong sạch không trộm cắp. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ lấy của không cho. Ta sẽ chỉ nhận vật đã cho, mong đợi vật đã cho. Ta sẽ giữ mình trong sạch không trộm cắp. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ hành vi không trong sạch (dâm dục). Các vị ấy sống độc thân, xa lìa, tránh hành vi dâm dục thấp kém. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ hành vi không trong sạch. Ta sẽ sống độc thân, xa lìa, tránh hành vi dâm dục thấp kém. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ nói dối. Các vị ấy nói sự thật và giữ vững sự thật. Các vị ấy chân thật và đáng tin cậy, và không lừa dối thế gian bằng lời nói. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ nói dối. Ta sẽ nói sự thật và giữ vững sự thật. Ta sẽ chân thật và đáng tin cậy, và không lừa dối thế gian bằng lời nói. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ các loại rượu bia, chất gây say. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ các loại rượu bia, chất gây say. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán ăn một bữa trong ngày, kiêng ăn ban đêm và ăn phi thời. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ ăn một bữa trong ngày, kiêng ăn ban đêm và ăn phi thời. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán tránh xa xem nhảy múa, ca hát, âm nhạc; và trang điểm, tô điểm bằng vòng hoa, hương thơm, phấn sáp. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ tránh xa xem nhảy múa, ca hát, âm nhạc; và trang điểm, tô điểm bằng vòng hoa, hương thơm, phấn sáp. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.

Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ giường cao và sang trọng. Các vị ấy ngủ ở nơi thấp, trên giường nhỏ hoặc chiếu cỏ. Ta cũng vậy, trong ngày và đêm này, sẽ từ bỏ giường cao và sang trọng. Ta sẽ ngủ ở nơi thấp, trên giường nhỏ hoặc chiếu cỏ. Ta sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán về phương diện này.’

Đó là ngày trai giới của bậc Thánh. Khi ngày trai giới của bậc Thánh được giữ như vậy, nó rất có kết quả, lợi ích, ánh sáng và phước báu lớn lao.

Lớn lao đến mức nào? Giả sử bà được làm vua chúa cai trị mười sáu đại quốc này—Aṅga, Magadha (Ma-kiệt-đà), Kāsi (Ca-di), Kosala (Kiều-tát-la), Vajji (Bạt-kỳ), Malla (Mạt-la), Cetī (Chi-đề), Vaccha (Bạt-sa), Kuru (Câu-lâu), Pañcāla (Bàn-già-la), Maccha (Ma-cha), Sūrasena (Thâu-la-tiên-na), Assaka (A-thấp-ca), Avanti (A-bàn-đề), Gandhāra (Kiền-đà-la), và Kamboja (Cam-bồ-già)—đầy đủ bảy báu vật (thất bảo). Điều này cũng không bằng một phần mười sáu của ngày trai giới tám yếu tố (Bát quan trai giới). Tại sao vậy? Bởi vì vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.

Năm mươi năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương là năm trăm năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Một trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba là một nghìn năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Hai trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên Dạ Ma. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên Dạ Ma là hai nghìn năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên Dạ Ma. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Bốn trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên Đâu Suất. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên Đâu Suất là bốn nghìn năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên Đâu Suất. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Tám trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên Hóa Lạc. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên Hóa Lạc là tám nghìn năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên Hóa Lạc. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Một nghìn sáu trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm đối với chư Thiên Tha Hóa Tự Tại. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng. Mười hai tháng như vậy thành một năm. Tuổi thọ của chư Thiên Tha Hóa Tự Tại là mười sáu nghìn năm trời như vậy. Có thể rằng một người nữ hay nam nào đó đã giữ ngày trai giới tám yếu tố—khi thân hoại mạng chung—sẽ được tái sinh vào cộng đồng chư Thiên Tha Hóa Tự Tại. Đây là điều Ta muốn nói khi Ta nói: ‘Vương quyền cõi người là nghèo nàn so với hạnh phúc của chư thiên.’

Không nên sát hại chúng sinh, hay trộm cắp, Hay nói dối, hay uống rượu say. Sống độc thân, tránh xa dâm dục, Và không ăn đêm, ăn phi thời.

Không đeo vòng hoa hay dùng hương liệu, Nên ngủ trên giường thấp, >Hay chiếu trải trên đất. Đây là ngày trai giới tám yếu tố, người ta nói vậy, Được Thế Tôn giảng giải, >Người đã đi đến tận cùng khổ đau.

Mặt trăng và mặt trời đều đẹp đẽ đáng nhìn, Chiếu sáng xa theo quỹ đạo của chúng. Những vị xua tan bóng tối, du hành giữa không trung, Chiếu sáng trên bầu trời, soi sáng các phương.

Tất cả của cải tìm thấy trong cõi này— Ngọc trai, châu báu, cả lưu ly tốt, Vàng núi hay vàng sáng chói, Hay vàng ròng rực rỡ gọi là ‘jātarūpa’—

Chúng không bằng một phần mười sáu Của ngày trai giới với tám yếu tố, Như ánh sao không thể sánh bằng mặt trăng.

Vì vậy, người nữ hay nam có giới hạnh, Đã giữ ngày trai giới tám yếu tố, Tạo phước đức có kết quả là hạnh phúc, Không bị chê trách, họ đến cõi trời."

70.- Các Lễ Uposatha

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của Migara, trong ngày Uposatha (Bố tát trai-giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ của Migara đang ngồi xuống một bên:

− Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?

− Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.

− Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?

Trai giới người chăn bò, trai giới Niganthà, và trai giới bậc Thánh.

Như thế nào, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò?

Ví như, này Visàkhà, người chăn bò vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ: “Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này. Này mai, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này”. Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ: “Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta đã ăn; ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta đã ăn. Ngày mai ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta sẽ ăn; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta sẽ ăn”. Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.

Này Visàkhà, thế nào là trai giới các Nigantha?

Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau: “Ông hãy quăng bỏ trượng đốivới các sinh loại sống ở phương Ðông, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần … sống ở phương Bắc … sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần.” Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau: “Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau: “Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta. “”Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Ðây ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Ðây ta tuyên bố là lấy của không cho. Như vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà . Ðược sống thực hành như vậy, này Visàkhà, Uposatha của các Nigànthã không quả lớn, không lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn.

4. - Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai. tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Do duyên bột nhồi, do duyên đất sét, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. như vậy, này Visàkhà, là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai. tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử để thực hành trai giới Phạm Thiên, vị ấy cùng sống với Phạm Thiên. Do duyên Phạm Thiên, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

5.-Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, vị Thánh đệ tử niệm pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được nhà nước trí tự mình giác hiểu”. Do vị ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi? Do duyên sottim (một thứ đá bọt dùng để chà lưng), do duyên bột tắm, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

Và như thế nào, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được nhà nước trí tự mình giác hiểu”. Do người ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành pháp trai giới, vị ấy sống với pháp. Chính nhờ pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.

6. Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhớ phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; ứng lý là hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được bắt tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Do vị ấy niệm Tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, một tấm vải bị uế được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là một tấm vải bị uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?

Do duyên usam (đất mặn) do duyên khàram (nước tro), do duyên phân bò, do duyên nước, và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, một tấm vải bị uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; ứng lý là hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được bắt tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Nhờ vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành chúng Tăng trai giới, sống với chúng tăng. Chính nhờ chúng tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.

7. Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch nhò phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Giới: “Không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định”. Vị ấy nhờ niệm Giới, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoàn sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, một tấm gương uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Và này Visàkhà, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?

Do duyên dầu, do duyên tro, do duyên bàn chải lông và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là tấm gương uế nhiễm được rửa sạch với phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Giới: “Không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định”. Vị ấy nhờ niệm Giới, tâm được tịnh tín, hân hoàn sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là thánh đệ tử thực hành giới Uposatha, sống chung với giới. Nhờ giới, tâm được tịnh tín, hân hoàn sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?

8. Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Thiên: “Có Chư Thiên bốn Thiên Vương; có Chư Thiên cõi trời ba mươi ba; có chư Thiên Yàmà; có chư Thiên Tusita (Ðâu suất); có chư Thiên hóa lạc; có chư Thiên tha hóa tự tại; có chư Thiên Phạm chúng; có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Khi người ấy niệm giới, nghe pháp, thí và tuệ của tự mình và chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi?

Do duyên lò, do duyên đất muối, do duyên phấn đỏ, do duyên ống bệ, do duyên cái kìm, và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi?

Và này vì, thế nào là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Thiên: “Có Chư Thiên bốn Thiên Vương; có Chư Thiên cõi trời ba mươi ba; có chư Thiên Yàmà; có chư Thiên Tusita (Ðâu suất); có chư Thiên hóa lạc; có chư Thiên tha hóa tự tại; có chư Thiên Phạm chúng; có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, mạng chung ở chỗ này, được sanh tại chỗ ấy. Ta cũng có lòng tin như vậy. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Ta cũng có trí tuệ như vậy”. Khi vị ấy niệm tín, giới, nghe pháp, thí, và tuệ của tự mình và của chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Ðây gọi là Thánh đệ tử thực hành Thiên trai giới, sống chung với chư Thiên. Nhờ chư Thiên, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.

9. - Thánh đệ tử ấy, này Visàkhà, suy tư như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ sát sanh. tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hưũ tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

10. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

11.-”Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà Hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ tà Hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

12.-”Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Về chi phần này, ta theo gương các vị Ala-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

13.-”Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho đắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho đắm say. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

14. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phí thời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phí thời. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

15. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

16. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Như vậy, này Visàkhà, là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới, này Visàkhà, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn, có ánh sáng lớn.

17. - Quả lớn là như thế nào? Lợi ích lớn như thế nào? Chói sáng lớn như thế nào? Ánh sáng lớn như thế nào?

Ví như, này Visàkhà, có người áp đặt chủ quyền trên 16 quốc độ lớn tràn đầy bảy báu như Anga, Magadha, Kàsi, Kosala, Vajji, Mallà, Ceti, Vangà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Surasenà, Assakà, Avanti, Gandhàrà, Kambojà, nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một trai giới thực hành đầy đủ cả tám mặt. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi thay, này Visàkhà, là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc Chư Thiên!

18. - Năm mươi năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một đêm một ngày của chư Thiên của Bốn Thiên Vương. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Năm mươi năm chư thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn Thiên Vương. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên của Bốn Thiên Vương. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”

19. Một trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời ba mươi ba. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời ba mươi ba. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”

20. Hai trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Yàmà. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Yàmà. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Yàmà … chính dựa trên trường hợp này … với hạnh phúc chư Thiên”.

21. Bốn trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Tusita (Ðâu-xuất). Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng … làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Tusita. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Tusita … chính dựa trên trường hợp này … với hạnh phúc chư Thiên”.

22. Tám trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng … làm thành một năm. Tám ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc … chính dựa trên trường hợp này … với hạnh phúc chư Thiên”.

23. Mười sáu trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự tại. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng, mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hàng Uposatha đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự tại. Chính dựa trên trường hợp này, được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên”.

Chớ giết hại sinh loài
Chớ lấy của không cho
Chớ nói lời nói láo
Chớ uống thứ rượu say
Từ bỏ không phạm hạnh
Từ bỏ, không dâm dục
Không ăn vào ban đêm
Tránh không ăn phi thời
Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương liệu
Hãy nằm trên tấm thảm
Ðược trải dài trên đất
Chính hạnh trai giới này
Ðược gọi có tám phần
Do đức Phật nói lên
Ðưa đến đoạn tận khổ
Mặt trăng và mặt trời
Ðược thấy là lành tốt
Chỗ nào chúng đi tới
Chúng chói sáng hào quang
Chúng làm mây sáng chói
Giữa hư không chúng đi
Trên trời chúng chói sáng
Sáng rực mọi phương hướng
Trong khoảng không gian ấy
Tài sản được tìm thấy
Trân châu và ngọc báu
Lưu ly, đá cầu may
Vàng cục trong lòng đất
Hay loại Kancana
Cùng loại vàng sáng chói
Ðược gọi là Hattaka
Tuy vậy chúng giá trị
Chỉ một phần mười sáu
Với hạnh giữ trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Kể cả ánh sáng trăng
Với cả vòm trời cao.
Vậy người nữ người nam
Hãy giữ theo định giới
Hành bố-tát trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Làm thiện các công đức
Ðem lại nhiều an lạc
Ðược sanh lên cõi trời
Không bị người cười chê