Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Sa Môn

AN 3.81 Sa Môn Samaṇasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba phận sự của một vị sa môn (ascetic / người tu hành). Thế nào là ba? Thực hành việc học tập về tăng thượng giới (higher ethics / giới hạnh cao thượng), tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng), và tăng thượng tuệ (higher wisdom / tuệ giác cao thượng). Đây là ba phận sự của một vị sa môn.

Vì vậy, các thầy nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có nhiệt tâm (keen enthusiasm / lòng sốt sắng) để thực hành việc học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.’ Đó là cách các thầy nên tu tập."

IX. Phẩm Sa-Môn

81.- Sa Môn

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng tâm học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm naỳ của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.82 Con Lừa Gadrabhasutta

"Này các Tỳ kheo, giả sử có một con lừa đi theo sau một đàn bò, nghĩ rằng: ‘Ta cũng có thể rống! Ta cũng có thể rống!’ Nhưng hình dáng nó không giống bò, tiếng kêu không giống bò, dấu chân cũng không giống bò. Vậy mà nó vẫn đi theo sau đàn bò, nghĩ rằng: ‘Ta cũng có thể rống! Ta cũng có thể rống!’

Cũng vậy, có Tỳ kheo đi theo sau Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo), nghĩ rằng: ‘Ta cũng là Tỳ kheo! Ta cũng là Tỳ kheo!’ Nhưng vị ấy không có cùng nhiệt tâm thực hành việc học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ như các Tỳ kheo khác. Vậy mà vị ấy vẫn đi theo sau Tăng đoàn, nghĩ rằng: ‘Ta cũng là Tỳ kheo! Ta cũng là Tỳ kheo!’

Vì vậy, các thầy nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có nhiệt tâm để thực hành việc học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.’ Đó là cách các thầy nên tu tập."

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.83 Ruộng Đồng Khettasutta

"Này các Tỳ kheo, người nông dân có ba phận sự chính. Thế nào là ba? Trước hết, người nông dân phải đảm bảo ruộng được cày bừa kỹ lưỡng. Tiếp theo, họ gieo hạt đúng mùa. Khi đến thời điểm thích hợp, họ dẫn nước vào ruộng rồi tháo nước ra. Đây là ba phận sự chính của người nông dân.

Cũng vậy, một Tỳ kheo có ba phận sự chính. Thế nào là ba? Thực hành việc học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Đây là ba phận sự chính của một Tỳ kheo.

Vì vậy, các thầy nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có nhiệt tâm để thực hành việc học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.’ Đó là cách các thầy nên tu tập."

82. Nghề Nông

1. Có ba việc này, này các Tỷ-kheo, một nông phu gia chủ cần phải làm trước. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người nông phu gia chủ, trước hết khéo cày và khéo bừa. Khéo cày và khéo bừa xong, người ấy cho gieo hạt giống đúng thời. Cho gieo hạt giống đúng thời xong, người ấy cho nước chảy vô chảy ra đúng thời. Ba việc này, này các Tỷ-kheo, một nông phu gia chủ cần phải làm trước.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba công việc này, một Tỷ-kheo cần phải làm trước. Thế nào là ba? Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng tâm học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ba công việc này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải làm trước. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn của tôi thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn của tôi thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn của tôi thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.84 Vị Tỳ Kheo Vajjī Vajjiputtasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn. Bấy giờ, một Tỳ kheo Vajjī đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, mỗi nửa tháng có hơn một trăm năm mươi học giới (training rules / điều luật cần tu học) được tụng đọc. Con không thể tu tập theo tất cả các giới ấy.”

“Này Tỳ kheo, thầy có thể tu tập theo ba sự tu học này không: tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ?”

“Bạch Thế Tôn, con có thể.”

"Vậy thì, này Tỳ kheo, thầy nên tu tập theo ba sự tu học này: tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.

Khi thầy tu tập như vậy, thầy sẽ từ bỏ tham (greed / lòng tham), sân (hate / lòng căm ghét), và si (delusion / sự mê mờ). Khi đó, thầy sẽ không làm điều gì bất thiện (unskillful / không khéo léo, có hại), không thực hành điều gì ác (bad / xấu xa)."

Sau một thời gian, vị Tỳ kheo ấy đã tu tập tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Vị ấy đã từ bỏ tham, sân, và si. Khi đó, vị ấy không làm điều gì bất thiện, không thực hành điều gì ác.

83.- Người Vajji.

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có góc nhọn. Rồi một Tỷ-kheo người Vajji đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo người Vajji bạch Thế Tôn: − Bạch Thế Tôn, hơn 150 học pháp này, nửa tháng một lần con phải tụng đọc, ở đây, con không có thể học nổi.

− Này Tỷ-kheo, Thầy có thể học ba học pháp không, tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học?

− Bạch Thế Tôn, con có thể học ba học pháp, tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

2. - Do vậy, này Tỷ-kheo, Thầy hãy học tập ba học pháp, tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Nếu Thầy học tập tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Này Tỷ-kheo, nhờ học tập ba học pháp này, tham sẽ đoạn tận, sân sẽ đoạn tận, si sẽ đoạn tận. Do đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si; điều bất thiện, Thầy sẽ không làm; điều ác, Thầy sẽ không theo.

3. - Tỷ-kheo ấy, sau một thời gian học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng tâm, hjọc tập tăng thượng tuệ; do học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng tâm, học tập tăng thượng tuệ, tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được đoạn tận. Vị ấy, do đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si; nên không làm điều bất thiện, không theo điều ác.

AN 3.85 Bậc Hữu Học Sekkhasutta

Bấy giờ, một Tỳ kheo đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói đến người được gọi là ‘hữu học’ (trainee / người còn đang tu học). Thế nào là định nghĩa của một bậc hữu học?”

"Này Tỳ kheo, vị ấy tu học, đó là lý do được gọi là ‘bậc hữu học’. Vị ấy tu học điều gì? Vị ấy tu tập tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Vị ấy tu học, đó là lý do được gọi là ‘bậc hữu học’.

Bậc hữu học tu tập,
Theo con đường thẳng tắp,
Trước tiên biết về sự đoạn tận;
Giác ngộ (enlightenment / sự tỉnh thức hoàn toàn) theo sau trong cùng đời sống.

Rồi trí tuệ khởi lên
Nơi vị ấy, được giải thoát (freedom / sự cởi bỏ) nhờ giác ngộ,
Với sự đoạn tận các kiết sử (fetters / trói buộc) của hữu (continued existence / sự tồn tại, sự tái sinh):
‘Sự giải thoát của ta là bất động (unshakable / không thể lay chuyển).’"

84.- Hữu Học (1)

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Hữu học, hữu học, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là hữu học?

− Học tập, này Tỷ-kheo, nên được gọi là hữu học, và học tập cái gì? Học tập tăng thượng giới, Học tập tăng thượng tâm, Học tập tăng thượng tuệ. Vị ấy, này Tỷ-kheo, do vậy được gọi là vị hữu học.

Bậc hữu học, học tập
Ði theo con đường thẳng
Ở trong sự diệt tận
Trí thứ nhất khởi lên
Tiếp theo không gián đoạn
Chánh trí mới sanh khởi
Rồi chánh trí giải thoát
Trí như vậy khởi lên
Bất động ta giải thoát
Hữu kiết sử đoạn tận.

AN 3.86 Tu Học (1) Paṭhamasikkhāsutta

"Này các Tỳ kheo, mỗi nửa tháng có hơn một trăm năm mươi học giới được tụng đọc, mà trong đó các thiện nam tử quan tâm đến lợi ích của mình tu tập. Tất cả những điều này đều được bao gồm trong ba sự tu học. Thế nào là ba? Sự tu học về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Đây là ba sự tu học bao gồm tất cả các học giới ấy.

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh của mình, nhưng có định (immersion / sự tập trung, thiền định) và tuệ (wisdom / trí tuệ) còn giới hạn. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy (lesser and minor training rules / các điều luật không phải cốt lõi), nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó (tức không phải là không thể sửa chữa). Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc (constant and steady / giữ gìn không thay đổi) trong các giới (precepts / quy tắc đạo đức) liên quan đến các học giới căn bản (fundamental / cốt lõi), phù hợp phạm hạnh (befitting the spiritual path / xứng đáng với đời sống tu hành). Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Với sự đoạn tận ba kiết sử (three fetters / ba trói buộc đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ), vị ấy là bậc nhập lưu (stream-enterer / người dự vào dòng thánh), không còn tái sinh vào cõi dữ (not liable to be reborn in the underworld / không bị đọa vào các cảnh giới khổ), chắc chắn giác ngộ (bound for awakening / nhất định sẽ đạt giác ngộ).

Hãy xét một trường hợp khác, một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh của mình, nhưng có định và tuệ còn giới hạn. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Với sự đoạn tận ba kiết sử, và sự làm suy yếu tham, sân, si, vị ấy là bậc nhất lai (once-returner / người chỉ trở lại một lần). Vị ấy chỉ trở lại thế giới này một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau (make an end of suffering / kết thúc mọi khổ não).

Hãy xét một trường hợp khác, một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh và định của mình, nhưng có tuệ còn giới hạn. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc thuộc cõi dục), vị ấy được hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra không qua thai bào). Vị ấy nhập Niết bàn tại đó (extinguished there / đạt đến trạng thái tịch diệt cuối cùng tại cõi tái sinh đó), và không còn trở lại thế giới này (not liable to return from that world / không quay lại các cõi thấp hơn nữa).

Hãy xét một trường hợp khác, một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh, định, và tuệ của mình. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Vị ấy chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm không còn ô nhiễm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này (in this very life / trong kiếp sống hiện tại). Và vị ấy an trú, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (own insight / trí tuệ tự thân chứng ngộ) do sự đoạn tận các lậu hoặc (lậu hoặc (defilements / ô nhiễm, phiền não)).

Vậy nên, này các Tỳ kheo, nếu các thầy thực hành một phần (practice partially / tu tập không trọn vẹn) thì các thầy thành công một phần (succeed partially / đạt kết quả tương ứng). Nếu các thầy thực hành đầy đủ (practice fully / tu tập trọn vẹn) thì các thầy thành công đầy đủ (succeed fully / đạt kết quả viên mãn). Các học giới này không phải là vô ích (not a waste / không hề uổng phí), Ta nói vậy."

85.- Hữu Học (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỷ-kheo, tất cả được thâu nhiếp họp lại thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học giới này, này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến Chánh giác.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ trở về thế giới này một lần, rồi đoạn tận khổ đau.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời này nữa.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.

AN 3.87 Tu Học (2) Dutiyasikkhāsutta

"Này các Tỳ kheo, mỗi nửa tháng có hơn một trăm năm mươi học giới được tụng đọc, mà trong đó các thiện nam tử quan tâm đến lợi ích của mình tu tập. Tất cả những điều này đều được bao gồm trong ba sự tu học. Thế nào là ba? Sự tu học về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Đây là ba sự tu học bao gồm tất cả các học giới ấy.

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh của mình, nhưng có định và tuệ còn giới hạn. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy có tối đa bảy lần tái sinh (at most seven rebirths / nhiều nhất là bảy kiếp nữa). Vị ấy sẽ luân chuyển (transmigrate / tái sinh) tối đa bảy lần giữa chư thiên và loài người (gods and humans / các cõi trời và cõi người) rồi chấm dứt khổ đau. Với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy đi gia đình đáo gia đình (go from family to family / tái sinh từ hai đến ba gia đình tốt). Vị ấy sẽ luân chuyển giữa hai hoặc ba gia đình rồi chấm dứt khổ đau. Với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc nhất chủng (one-seeder / người chỉ tái sinh một lần nữa). Vị ấy sẽ tái sinh chỉ một lần nữa trong cõi người, rồi chấm dứt khổ đau. Với sự đoạn tận ba kiết sử, và sự làm suy yếu tham, sân, si, vị ấy là bậc nhất lai. Vị ấy chỉ trở lại thế giới này một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.

Hãy xét một trường hợp khác, một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh và định của mình, nhưng có tuệ còn giới hạn. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy đi thượng lưu, đi đến cõi Sắc Cứu Cánh (head upstream, going to the Akaniṭṭha realm / đi ngược dòng sinh tử, đến cõi trời cao nhất trong Tịnh Cư Thiên). Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn hữu hành (extinguished with extra effort / nhập Niết bàn cần nỗ lực). Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn vô hành (extinguished without extra effort / nhập Niết bàn không cần nỗ lực). Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn sinh (extinguished upon landing / nhập Niết bàn khi vừa tái sinh). Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trung gian bát Niết bàn (extinguished between one life and the next / nhập Niết bàn ở cõi trung gian giữa hai kiếp).

Hãy xét một trường hợp khác, một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh, định, và tuệ của mình. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì. Vị ấy chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy an trú, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Vậy nên, này các Tỳ kheo, nếu các thầy thực hành một phần thì các thầy thành công một phần. Nếu các thầy thực hành đầy đủ thì các thầy thành công đầy đủ. Các học giới này không phải là vô ích, Ta nói vậy."

86.- Bản Tụng Ðọc (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỷ-kheo, tất cả được thâu nhiếp làm thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học pháp này, này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học giới nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc tối đa phải sanh lại bảy lần. Sau khi sanh lại bảy lần, sau khi dong ruổi, luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người, liền đoạn tận khổ đau. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc “Gia gia”, dong ruổi, lưu chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau. Vị ấy do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, phải trở lui lại đời này chỉ một lần, rồi đoạn tận khổ đau. 3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm … chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đạt được Sắc cứu kính thiên. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-NiếtBàn .Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm … chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.

AN 3.88 Tu Học (3) Tatiyasikkhāsutta

"Này các Tỳ kheo, mỗi nửa tháng có hơn một trăm năm mươi học giới được tụng đọc, mà trong đó các thiện nam tử quan tâm đến lợi ích của mình tu tập. Tất cả những điều này đều được bao gồm trong ba sự tu học. Thế nào là ba? Sự tu học về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Đây là ba sự tu học bao gồm tất cả các học giới ấy.

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo đã hoàn thiện giới hạnh, định, và tuệ của mình. Vị ấy vi phạm một số học giới nhỏ nhặt, phụ tùy, nhưng được phục hồi. Tại sao vậy? Vì Ta không nói rằng vị ấy không có khả năng làm điều đó. Nhưng vị ấy kiên trì, vững chắc trong các giới liên quan đến các học giới căn bản, phù hợp phạm hạnh. Vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ trì.

Vị ấy chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy an trú, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trung gian bát Niết bàn.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn sinh.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn vô hành.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy bát Niết bàn hữu hành.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy đi thượng lưu, đi đến cõi Sắc Cứu Cánh.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận ba kiết sử, và sự làm suy yếu tham, sân, si, vị ấy là bậc nhất lai. Vị ấy chỉ trở lại thế giới này một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc nhất chủng. Vị ấy sẽ tái sinh chỉ một lần nữa trong cõi người, rồi chấm dứt khổ đau.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy đi gia đình đáo gia đình. Vị ấy sẽ luân chuyển giữa hai hoặc ba gia đình rồi chấm dứt khổ đau.

Nếu vị ấy không chứng đạt đến mức đó, với sự đoạn tận ba kiết sử, vị ấy có tối đa bảy lần tái sinh. Vị ấy sẽ luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư thiên và loài người rồi chấm dứt khổ đau.

Vậy nên, này các Tỳ kheo, nếu các thầy thực hành đầy đủ thì các thầy thành công đầy đủ. Nếu các thầy thực hành một phần thì các thầy thành công một phần. Các học giới này không phải là vô ích, Ta nói vậy."

87.- Bản Tụng Ðọc (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này … (như kinh trước, đoạn số 1) … này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm … chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

3. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nêu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn … là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn … là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn … là bậc Thượng lưu, chứng đạt Sắc cứu kính thiên. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc “Gia gia”, sau khi dong ruổi, luân chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Tối đa phải sanh lại bảy lần, sau khi dong ruổi, luân chuyển tối đa bảy giữa chư Thiên và loài người, rồi đoạn tận khổ đau.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.

AN 3.89 Ba Sự Tu Học (1) Paṭhamasikkhattayasutta

"Này các Tỳ kheo, đây là ba sự tu học. Thế nào là ba? Sự tu học về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng giới? Đó là khi một Tỳ kheo có giới hạnh (ethical / sống đạo đức), thu thúc trong giới bổn (giới bổn (monastic code / Pātimokkha, bộ luật của Tỳ kheo)), hành xử đúng mực (conducting themselves well / có cách cư xử tốt đẹp) và đi khất thực ở nơi thích hợp (resorting for alms in suitable places / tìm đến những nơi phù hợp để nhận vật thực). Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất (Seeing danger in the slightest fault / nhận ra mối hại ngay cả trong lỗi lầm nhỏ), vị ấy thọ trì các học giới đã lãnh nhận (keep the rules they’ve undertaken / giữ gìn những điều đã học và cam kết). Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng giới.

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng tâm? Đó là khi một Tỳ kheo, ly dục (quite secluded from sensual pleasures / xa lìa các thú vui giác quan), ly bất thiện pháp (secluded from unskillful qualities / xa lìa các trạng thái tâm có hại), chứng và trú thiền thứ nhất (enters and remains in the first absorption / đạt và an trú tầng thiền định thứ nhất)… thiền thứ hai (second absorption / tầng thiền thứ hai)… thiền thứ ba (third absorption / tầng thiền thứ ba)… thiền thứ tư (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng tâm. (thiền (absorption / jhana, trạng thái tâm định tĩnh cao độ))

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng tuệ? Vị ấy hiểu như thật (truly understand / hiểu đúng bản chất sự việc): ‘Đây là Khổ’ (This is suffering / Đây là sự thật về khổ đau)… ‘Đây là Nguồn gốc của Khổ’ (This is the origin of suffering / Đây là sự thật về nguyên nhân gây ra khổ đau)… ‘Đây là Sự diệt Khổ’ (This is the cessation of suffering / Đây là sự thật về sự chấm dứt khổ đau)… ‘Đây là Con đường đưa đến Sự diệt Khổ’ (This is the practice that leads to the cessation of suffering / Đây là sự thật về con đường thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau). Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng tuệ. Đây là ba sự tu học."

88.- Học Giới

1. - Có ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

Thế nào là tăng thượng giới học? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới … chấp nhận, học tập trong các học giới. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng giới học.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng thượng tâm học? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng và trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng tâm học.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng thượng tuệ học? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng tuệ học.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba học giới.

AN 3.90 Ba Sự Tu Học (2) Dutiyasikkhattayasutta

"Này các Tỳ kheo, đây là ba sự tu học. Thế nào là ba? Sự tu học về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng giới? Đó là khi một Tỳ kheo có giới hạnh, thu thúc trong giới bổn, hành xử đúng mực và đi khất thực ở nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy thọ trì các học giới đã lãnh nhận. Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng giới.

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng tâm? Đó là khi một Tỳ kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất… thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư. Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng tâm.

Và thế nào là sự tu học về tăng thượng tuệ? Đó là khi một Tỳ kheo chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy an trú, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc. Đây được gọi là sự tu học về tăng thượng tuệ. Đây là ba sự tu học.

Tăng thượng giới, tăng thượng tâm,
Và tăng thượng tuệ cần được thực hành
Bởi những người tinh tấn (energetic / siêng năng), kiên trì (steadfast / bền bỉ), quyết tâm (resolute / vững chí),
Hành thiền , chánh niệm , thu thúc các căn (guarded senses / kiểm soát các giác quan).\

Như trước, vậy sau;
Như sau, vậy trước.
Như dưới, vậy trên;
Như trên, vậy dưới.\

Như ngày, vậy đêm;
Như đêm, vậy ngày.
Đã làm chủ mọi phương hướng
Với thiền định vô biên,

Họ được gọi là ‘người hữu học trên đường đạo’,
Và ‘người sống đời phạm hạnh’.
Nhưng bậc trí đã đi đến cuối con đường
Được gọi là ‘Phật’ ở trên đời.\

Với sự diệt của thức,
Giải thoát nhờ sự đoạn tận ái dục,
Sự giải thoát của tâm
Như ngọn đèn tắt lịm (lamp going out / hình ảnh chỉ Niết Bàn)."

89.- Học Pháp

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba học pháp này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

(Hoàn toàn giống như kinh trước với tăng thượng giới học và tăng thượng tâm học, nhưng tăng thượng tuệ học có khác) …

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng thượng tuệ học? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng tuệ học. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba học pháp.

Người tinh tấn, nghị lực
Kiên trì và Thiền tu
Sống hộ trì các căn
Hãy hành ba tăng thượng
Trước thế nào, sau vậy
Sau thế nào, trước vậy
Dưới thế nào, trên vậy
Trên thế nào, dưới vậy
Ngày thế nào, đêm vậy
Ðêm thế nào, ngày vậy.
Hãy nhiếp phục mọi phương
Với vô lượng tâm định
Ðây gọi hữu đạo học
Là thuần tịnh hạnh đức
Ðây gọi là Chánh giác
Bậc trí đạt tối hậu
Với thức được đoạn diệt
Ái diệt, được giải thoát
Như đèn sáng tịch diệt
Tâm vị ấy giải thoát.

AN 3.91 Tại Paṅkadhā Saṅkavāsutta

Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ kheo. Ngài đến một thị trấn của xứ Kosala tên là Paṅkadhā, và ở lại đó.

Bấy giờ, có một Tỳ kheo tên là Kassapagotta đang cư trú tại Paṅkadhā. Tại đó, Thế Tôn đã giáo huấn, khuyến khích, sách tấn, và làm phấn khởi các Tỳ kheo bằng một bài pháp thoại về các học giới. Kassapagotta trở nên khá khó chịu và bực bội (impatient and bitter / không hài lòng và phiền muộn), nghĩ rằng: “Vị sa môn này quá khắt khe (much too strict / nghiêm khắc quá mức).”

Sau khi Thế Tôn đã ở Paṅkadhā tùy theo ý muốn, Ngài lên đường đi Rājagaha. Đi dần từng chặng, Ngài đến Rājagaha và ở lại đó.

Không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, Kassapagotta trở nên khá hối hận và ăn năn (remorseful and regretful / day dứt và tiếc nuối), nghĩ rằng: “Thật là tổn thất, thật là bất hạnh cho ta (It’s my loss, my misfortune / Ta đã mất mát, thật không may cho ta), khi Thế Tôn nói về các học giới, ta lại trở nên khó chịu và bực bội, nghĩ rằng Ngài quá khắt khe. Sao ta không đến gặp Thế Tôn và thú nhận lỗi lầm (confess my mistake / nhận lỗi) của mình với Ngài?”

Rồi Kassapagotta dọn dẹp chỗ ở (set his lodgings in order / sắp xếp nơi ở), mang y bát (taking his bowl and robe / lấy y và bình bát), lên đường đi Rājagaha. Cuối cùng, vị ấy đến Rājagaha và núi Linh Thứu (Vulture’s Peak / đỉnh núi Gijjhakūṭa). Vị ấy đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đã xảy ra, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã phạm lỗi. Thật ngu si, đần độn, và vụng về (foolish, stupid, and unskillful / dại dột, thiếu hiểu biết và không khéo léo) khi con đã trở nên khó chịu và bực bội khi Thế Tôn giáo huấn, khuyến khích, sách tấn, và làm phấn khởi các Tỳ kheo bằng một bài pháp thoại về các học giới, và đã nghĩ rằng: ‘Vị sa môn này quá khắt khe.’ Kính xin Thế Tôn, xin Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm này của con đúng như lỗi lầm (accept my mistake for what it is / xin Ngài nhận lỗi này của con), để con tự chế phục trong tương lai (restrain myself in future / biết giữ mình về sau).”

"Đúng vậy, Kassapa, thầy đã phạm lỗi. Nhưng vì thầy đã nhận ra lỗi lầm của mình đúng như lỗi lầm, và đã xử lý đúng pháp (dealt with it properly / sám hối đúng cách), Ta chấp nhận điều đó. Vì đó là sự tăng trưởng trong pháp luật của bậc Thánh (growth in the training of the Noble One / sự tiến bộ trong kỷ luật của người cao thượng) khi nhận ra lỗi lầm đúng như lỗi lầm, xử lý đúng pháp, và nguyện thu thúc trong tương lai (commit to restraint in the future / quyết tâm giữ mình về sau).

Này Kassapa, hãy xét trường hợp một Tỳ kheo thượng tọa (senior mendicant / Tỳ kheo lớn tuổi, có hạ lạp cao) không muốn tu học (doesn’t want to train / không có ý muốn rèn luyện) và không tán thán việc thực hành tu học (doesn’t praise taking up the training / không khen ngợi việc nỗ lực tu tập). Vị ấy không khuyến khích (encourage / động viên) các Tỳ kheo khác không muốn tu học hãy thực hành tu học. Và vị ấy không khen ngợi đúng sự thật, đúng lúc (truthfully and correctly praise at the right time / tán dương chân thật và hợp thời) những Tỳ kheo muốn tu học. Ta không tán thán loại Tỳ kheo thượng tọa như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì, nghe Ta tán thán Tỳ kheo ấy, các Tỳ kheo khác có thể muốn thân cận vị ấy (keep company with them / gần gũi vị đó). Rồi họ có thể bắt chước theo gương xấu ấy (follow their example / làm theo cách hành xử đó), điều đó sẽ dẫn đến bất hạnh và đau khổ lâu dài (lasting harm and suffering / tổn hại và khổ não dài lâu) cho họ. Đó là lý do Ta không tán thán loại Tỳ kheo thượng tọa như vậy.

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo trung tọa (middle mendicant / Tỳ kheo có hạ lạp trung bình) không muốn tu học…

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo hạ tọa (junior mendicant / Tỳ kheo mới tu, hạ lạp thấp) không muốn tu học… Đó là lý do Ta không tán thán loại Tỳ kheo hạ tọa như vậy.

Này Kassapa, hãy xét trường hợp một Tỳ kheo thượng tọa muốn tu học và tán thán việc thực hành tu học. Vị ấy khuyến khích các Tỳ kheo khác không muốn tu học hãy thực hành tu học. Và vị ấy khen ngợi đúng sự thật, đúng lúc những Tỳ kheo muốn tu học. Ta tán thán loại Tỳ kheo thượng tọa như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì, nghe Ta tán thán Tỳ kheo ấy, các Tỳ kheo khác có thể muốn thân cận vị ấy. Rồi họ có thể bắt chước theo gương tốt ấy, điều đó sẽ dẫn đến hạnh phúc và an lạc lâu dài (lasting welfare and happiness / lợi ích và vui sướng dài lâu) cho họ. Đó là lý do Ta tán thán loại Tỳ kheo thượng tọa như vậy.

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo trung tọa muốn tu học…

Hãy xét trường hợp một Tỳ kheo hạ tọa muốn tu học… Đó là lý do Ta tán thán loại Tỳ kheo hạ tọa như vậy."

90. Pankadhà

1. Một thời Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala, tên là Pankadhà. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Pankadhà. Pankadhà là một thị trấn của dân chúng Kosala.

Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo tên là Kassapogotta trú ở Pankadhà. Tại đấy, Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến học giới, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ. Rồi Tỷ-kheo Kassapogotta, trong khi Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ!”.

2. Thế Tôn, sau khi trú ở Pankadhà cho đến khi thỏa mãn, rồi ra đi, du hành hướng đến Ràjagaha, tiếp tục du hành và đến tại Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, núi Gitjjhakùta.

Rồi Tỷ-kheo Kassapogotta, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, cảm thấy hối hận, ăn năn, nghĩ rằng: “Thật không lợi ích cho ta, thật lợi ích không được tốt cho ta, thật không khéo lợi ích cho ta, khi Thế Tôn với pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, ta lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn, tỉ mỉ! “. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, trước mặt Thế Tôn, hãy tỏ lộ có phạm tội là có phạm tội”.

3. Rồi Tôn giả Kassapogotta, sau khi dọn dẹp lại chỗ nằm, cầm y bát, rồi ra đi đến hướng Ràjagaha, tiếp tục đi đến Ràjagaha, núi Gijjhakùta, đến Thế Tôn, sau khi đến. Ðảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kassapogotta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn trú ở Pankadhà, Pankadhà là một thị trấn các dân tộc Kosala. Tại đấy, Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, trong khi Thế Tôn, với một pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, con lấy làm bất nhẫn, con cảm thấy bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Rồi Thế Tôn sau khi trú ở Pankadhà cho đến khi thỏa mãn, liền ra đi, du hành đến Ràjagaha. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, con cảm thấy hối hận, ăn năn: “Thật không lợi ích cho ta, thật lợi ích không được tốt cho ta, thật không khéo lợi ích cho ta, khi Thế Tôn với pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn, tỉ mỉ!”. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, trước mặt Thế Tôn, hãy tỏ lộ có phạm tội là có phạm tội!”. Phạm tội đã chinh phục con, bạch Thế Tôn, ngu si như con, đần độn như con, bất thiện như con. Vì rằng trong khi Thế Tôn, với pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, con lấy làm bất nhẫn, con cảm thấy bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con có phạm tội là có phạm tội, để con ngăn chận trong tương lai.

4. - Thật vậy, này Kassapogotta, phạm tội đã chinh phục Thầy, ngu si đần độn như Thầy, bất thiện như Thầy! Vì rằng trong khi ta với pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Thầy lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Và này Kassapogotta, khi Thầy thấy có phạm tội là có phạm tội, và như pháp phát lộ, thời Ta chấp nhận cho Thầy. Ðây là sự tăng trưởng giới luật của bậc Thánh này, khi ai thấy có phạm tội là có phạm tội, và như pháp phát lộ, để ngăn chặn trong tương lai.

5. Nếu một trưởng lão Tỷ-kheo, này Kassapa, không ưa thích học tập, không tán thán chấp hành học tập, và đối với các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này không khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này không tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo trưởng lão như vậy, này Kassapa, Ta không có tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với trưởng lão ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta không tán thán Tỷ-kheo trưởng lão ấy.

6. Nếu một trung niên Tỷ-kheo, này Kassapa, … nếu một tân học Tỷ-kheo, này Kassapa, không ưa thích học tập, không tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này không khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này không tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo tân học như vậy, này Kassapa, Ta không có tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo tân học ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta không tán thán Tỷ-kheo tân học ấy.

7. Nếu một trưởng lão Tỷ-kheo, này Kassapa, ưa thích học tập, tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo trưởng lão như vậy, này Kassapa, Ta tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo trưởng lão ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, như vậy sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta tán thán Tỷ-kheo trưởng lão ấy.

8. Nếu một Tỷ-kheo trung niên, này Kassapa, … nếu một Tỷ-kheo tân học, này Kassapa, ưa thích học tập, tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo tân học như vậy, này Kassapa, Ta tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo tân học ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta tán thán Tỷ-kheo tân học ấy.