Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Cục Muối

AN 3.92 Khẩn cấp Accāyikasutta

"Này các Tỳ kheo, người nông dân có ba việc khẩn cấp. Thế nào là ba? Người nông dân nhanh chóng cày bừa kỹ lưỡng thửa ruộng. Tiếp theo, họ nhanh chóng gieo hạt đúng mùa vụ. Khi thời điểm thích hợp, họ nhanh chóng tưới nước hoặc tháo nước cho ruộng. Đó là ba việc khẩn cấp của người nông dân. Người nông dân ấy không có thần thông hay năng lực đặc biệt nào để nói rằng: ‘Mong cho lúa mọc mầm hôm nay! Mong cho chúng trổ bông ngày mai! Mong cho chúng chín ngày kia!’ Nhưng sẽ đến lúc, khi mùa vụ thay đổi, lúa của người nông dân ấy sẽ mọc mầm, trổ bông và chín.

Cũng vậy, vị Tỳ kheo có ba việc khẩn cấp. Thế nào là ba? Thực hành tăng thượng giới (higher ethics / giới học cao hơn), tăng thượng tâm (higher mind / tâm học cao hơn), và tăng thượng tuệ (higher wisdom / tuệ học cao hơn). Đó là ba việc khẩn cấp của vị Tỳ kheo. Vị Tỳ kheo ấy không có thần thông hay năng lực đặc biệt nào để nói rằng: ‘Mong cho tâm ta được giải thoát khỏi phiền não (defilements / các ô nhiễm tâm) nhờ không chấp thủ (grasping / sự bám víu, dính mắc) ngay hôm nay! Hay ngày mai! Hay ngày kia!’ Nhưng sẽ đến lúc—khi vị Tỳ kheo ấy tu tập tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ—tâm của vị ấy sẽ được giải thoát khỏi phiền não nhờ không chấp thủ.

Vậy các ngươi nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ nhiệt tâm thực hành tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

X. Phẩm Hạt Muối

91.- Cấp Thiết

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba việc cấp thiết này, người nông phu gia chủ cần phải làm. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người nông phu gia chủ mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, sau khi mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, liền mau lẹ gieo hạt giống, sau khi mau lẹ gieo hạt giống, liền mau lẹ cho nước vô, cho nước ra. Này các Tỷ-kheo, đây là ba việc cấp thiết mà người nông phu gia chủ cần phải làm.

Người nông phu gia chủ ấy, này các Tỷ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): “Hôm nay lúa của ta được mọc lên, ngày mai chúng sẽ trổ hạt, ngày kế tiếp chúng sẽ chín”.

Nhưng chính theo thời gian của người nông phu gia chủ, các cây lúa do sự hướng dẫn của thời tiết được mọc lên, được trổ hạt và được chín.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba công việc cấp thiết này Tỷ-kheo cần phải làm. Thế nào là ba?

Chấp hành tăng thượng giới học, chấp hành tăng thượng tâm học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Ba công việc cấp thiết này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải làm.

Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): “Hôm nay, tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngày mai cũng vậy, ngày kế tiếp cũng vậy”. Nhưng này các Tỷ-kheo, chính do thời gian Tỷ-kheo ấy sử dụng để học tập tăng thượng giới, để học tập tăng thượng tâm, để học tập tăng thượng tuệ, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.93 Độc cư Pavivekasutta

"Này các Tỳ kheo, các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / những người tu khổ hạnh thuộc tôn giáo khác) chủ trương ba loại độc cư (seclusion / sự sống một mình, ẩn dật). Thế nào là ba? Độc cư về y phục, độc cư về vật thực, và độc cư về chỗ ở.

Các du sĩ ngoại đạo chủ trương loại độc cư về y phục như thế này. Họ mặc y làm bằng vỏ cây gai dầu, gai dầu trộn lẫn, vải liệm xác chết, vải vụn, vỏ cây lodh, da linh dương (nguyên miếng hoặc cắt thành dải), cỏ kusa, vỏ cây, vụn gỗ, tóc người, lông đuôi ngựa, hoặc cánh cú. Đó là những gì các du sĩ ngoại đạo chủ trương về độc cư y phục.

Các du sĩ ngoại đạo chủ trương loại độc cư về vật thực như thế này. Họ ăn các loại thảo mộc, hạt kê, lúa hoang, gạo xấu, bèo tấm, cám gạo, váng cơm, bột mè, cỏ, hoặc phân bò. Họ sống nhờ rễ cây và trái cây rừng, hoặc ăn trái cây rụng. Đó là những gì các du sĩ ngoại đạo chủ trương về độc cư vật thực.

Các du sĩ ngoại đạo chủ trương loại độc cư về chỗ ở như thế này. Họ ở nơi hoang dã, gốc cây, nghĩa địa, trong rừng, ngoài trời, đống rơm, hoặc lều đập lúa. Đó là những gì các du sĩ ngoại đạo chủ trương về độc cư chỗ ở. Đó là ba loại độc cư mà các du sĩ ngoại đạo chủ trương.

Trong Giáo pháp và Giới luật này, có ba loại độc cư cho một vị Tỳ kheo. Thế nào là ba? Thứ nhất, vị Tỳ kheo có giới hạnh (ethical conduct / hành vi đúng giới luật), từ bỏ phi giới hạnh (unethical conduct / hành vi phi giới luật), sống độc cư khỏi nó. Vị ấy có chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn), từ bỏ tà kiến (wrong view / thấy biết sai lệch), sống độc cư khỏi nó. Vị ấy đã chấm dứt phiền não, từ bỏ phiền não, sống độc cư khỏi chúng. Khi một vị Tỳ kheo có ba loại độc cư này, vị ấy được gọi là Tỳ kheo đã đạt đến đỉnh cao và cốt lõi, thanh tịnh và vững chắc trong cốt lõi.

Khi ruộng lúa của người nông dân đã chín, họ sẽ nhanh chóng gặt lúa, nhanh chóng thu gom, nhanh chóng vận chuyển, nhanh chóng chất thành đống, nhanh chóng đập lúa, nhanh chóng loại bỏ rơm, nhanh chóng sàng sảy, nhanh chóng mang về, nhanh chóng giã, và nhanh chóng loại bỏ vỏ trấu. Bằng cách này, mùa màng của người nông dân đó sẽ đạt đến đỉnh cao và cốt lõi, thanh tịnh và vững chắc trong cốt lõi.

Cũng vậy, khi một vị Tỳ kheo có giới hạnh, từ bỏ phi giới hạnh, sống độc cư khỏi nó; khi vị ấy có chánh kiến, từ bỏ tà kiến, sống độc cư khỏi nó; khi vị ấy đã chấm dứt phiền não, từ bỏ phiền não, sống độc cư khỏi chúng: vị ấy được gọi là Tỳ kheo đã đạt đến đỉnh cao và cốt lõi, thanh tịnh và vững chắc trong cốt lõi."

62.- Sống Viễn Ly

1. - Có ba hạnh viễn ly này được các du sĩ ngoại đạo trình bày. Thế nào là ba? Viễn ly y áo, viễn ly đồ ăn khất thực, viễn ly sàng tọa.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly y áo, mang vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm quăng đi, mặc vải lượm từ đồng rác, y thì dùng vỏ cây tiritaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo từ cỏ kusa bện lại, mặc áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly y áo.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly đồ ăn khất thực: ăn rau, cây kê, gạo sống, gạo rừng, cây lau, bột gạo, bột gạo cháy, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly đồ ăn khất thực.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly sàng tọa: sống trong rừng, tại một gốc cây, tại bãi tha ma, tại khóm rừng rậm, sống ngoài trời, trên một đống rơm, trong nhà bằng tranh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly sàng tọa.

Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về ba hạnh viễn ly này.

2. Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh viễn ly này của vị Tỷ-kheo trong pháp và luật. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc, nên Tỷ-kheo này, này các Tỷ-kheo, được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, ruộng lúa của người nông phu gia chủ đã chín, người nông phu gia chủ ấy mau mắn gặt lúa; sau khi mau mắn gặt lúa, phải mau mắn chất lúa thành đống; sau khi mau mắn chất lúa thành đống, phải mau mắn chở lúa về; sau khi mau mắn chở lúa về, phải mau mắn đánh lúa thành đống; sau khi mau mắn đánh lúa thành đống, phải mau mắn đập lúa; sau khi mau mắn đập lúa, phải mau mắn giũ rơm; sau khi mau mắn giũ rơm, phải mau mắn lấy thóc ra; sau khi mau mắn lấy thóc ra, phải mau mắn quạt thóc; sau khi mau mắn quạt thóc, phải mau mắn chứa thóc; sau khi mau mắn chứa thóc, phải mau mắn say thóc; sau khi mau mắn say thóc, phải mau mắn sàng cám lấy gạo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với người nông phu gia chủ ấy, lúa gạo ấy đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, đạt được an trú trên căn bản. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc, nên Tỷ-kheo này, này các Tỷ-kheo, được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản.

AN 3.94 Mùa Thu Saradasutta

"Vào mùa thu, bầu trời trong xanh và không một gợn mây. Và khi mặt trời lên cao trên vòm trời, xua tan mọi bóng tối của không gian, nó chiếu sáng, rực rỡ và tỏa rạng.

Cũng vậy, khi cái thấy trong sạch, không tì vết về Giáo pháp khởi lên trong một Thánh đệ tử (noble disciple / vị đệ tử bậc Thánh), ba kiết sử (fetters / những trói buộc) được từ bỏ: thân kiến (substantialist view / niềm tin sai lầm về một cái ‘ta’ thường hằng), nghi (doubt / sự hoài nghi), và giới cấm thủ (misapprehension of precepts and observances / sự chấp thủ sai lầm vào giới luật và nghi lễ).

Sau đó, vị ấy loại bỏ hai điều: tham ái (covetousness / lòng tham lam) và sân hận (ill will / lòng căm ghét, ác ý). Hoàn toàn ly khai khỏi dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), ly khai khỏi các bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm tiêu cực, có hại), vị ấy nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), một trạng thái có hỷ (rapture / niềm vui thích, phấn khởi) và lạc (bliss / sự an lạc, hạnh phúc) sinh ra từ sự ly dục, trong khi vẫn còn tầm và tứ (placing the mind and keeping it connected / sự hướng tâm và duy trì tâm trên đối tượng thiền). Nếu vị Thánh đệ tử đó mệnh chung vào lúc ấy, vị ấy không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ kiết sử nào có thể khiến vị ấy quay trở lại thế giới này."

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi bầu trời quang đãng, không có mây và mặt trời mọc lên giữa bầu trời, phá sạch hắc ám khắp cả hư không, và chói sáng, bừng sáng, rực sáng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử; pháp nhãn ly trần ly cấu khởi lên; và do tri kiến này khởi lên, này các Tỷ-kheo, ba kiết sử được đoạn tận, thân kiến, nghi giới cấm thủ. Lại nữa, vị ấy được thoát khỏi hai pháp tham và sân. Vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Trong thời gian ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nếu có mạng chung, sẽ không có kiết sử nào, do kiết sử ấy, vị Thánh đệ tử phải đi đến thế giới này nữa.

AN 3.95 Hội Chúng Parisāsutta

"Này các Tỳ kheo, có ba loại hội chúng này. Thế nào là ba? Hội chúng ưu tú, hội chúng chia rẽ, và hội chúng hòa hợp.

Và thế nào là hội chúng ưu tú? Một hội chúng nơi các Tỳ kheo trưởng lão không buông thả hay lười biếng, cũng không thối lui. Thay vào đó, họ đi đầu trong việc độc cư, khơi dậy tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những người đến sau noi gương họ. Họ cũng không buông thả hay lười biếng, cũng không thối lui. Thay vào đó, họ đi đầu trong việc độc cư, khơi dậy tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây được gọi là hội chúng ưu tú.

Và thế nào là hội chúng chia rẽ? Một hội chúng nơi các Tỳ kheo tranh cãi, gây gổ, và tranh chấp, liên tục làm tổn thương nhau bằng những lời nói như gai nhọn. Đây được gọi là hội chúng chia rẽ.

Và thế nào là hội chúng hòa hợp? Một hội chúng nơi các Tỳ kheo sống hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không cãi vã, hòa quyện như sữa với nước, và nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái. Đây được gọi là hội chúng hòa hợp.

Khi các Tỳ kheo sống hòa hợp như vậy, họ tạo ra nhiều công đức. Lúc đó, các Tỳ kheo sống trong trú xứ của chư Thiên, tức là tâm giải thoát do tùy hỷ (heart’s release by rejoicing / sự giải thoát của tâm nhờ niềm vui hoan hỷ với người khác). Khi họ hoan hỷ, hỷ khởi lên. Khi tâm tràn đầy hỷ, thân trở nên an tĩnh. Khi thân an tĩnh, họ cảm thấy lạc. Và khi họ an lạc, tâm trở nên nhập định (samādhi / sự tập trung tâm, thiền định).

Giống như khi trời mưa lớn trên đỉnh núi, nước chảy xuống đồi làm đầy các chỗ trũng, khe nứt và lạch suối. Khi chúng đầy, chúng làm đầy các ao hồ. Ao hồ làm đầy các hồ lớn, hồ lớn làm đầy các dòng suối, và dòng suối làm đầy các con sông. Và khi các con sông đầy, chúng làm đầy đại dương.

Cũng vậy, khi các Tỳ kheo hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không cãi vã, hòa quyện như sữa với nước, và nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái, họ tạo ra nhiều công đức. Lúc đó, các Tỳ kheo sống trong trú xứ của chư Thiên, tức là tâm giải thoát do tùy hỷ. Khi họ hoan hỷ, hỷ khởi lên. Khi tâm tràn đầy hỷ, thân trở nên an tĩnh. Khi thân an tĩnh, họ cảm thấy lạc. Và khi họ an lạc, tâm trở nên nhập định.

Đó là ba loại hội chúng."

93.- Hội Chúng

1. - Có ba hội chúng này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là ba? Hội chúng tối thượng, hội chúng không hòa hợp, hội chúng hòa hợp.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng tối thượng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, hội chúng nào có các Tỷ-kheo trưởng lão, không có sống đầy đủ, không có biếng nhác, từ bỏ dẫn đầu về đọa lạc, đi đầu về hạnh viễn ly, tinh cần tinh tấn, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những thế hệ kế tiếp chúng tùy thuận theo tri kiến của chúng. Hội chúng ấy không có sống đầy đủ, không có biếng nhác, từ bỏ dẫn đầu về đọa lạc, đi đầu về hạnh viễn ly, tinh cần tinh tấn, để chứng những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng tối thượng.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng không hòa hợp?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, tranh luận, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng không hòa hợp.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng hòa hợp?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào các Tỷ-kheo sống hòa hợp hoan hỷ, không có luận tranh, sống như nước với sữa lẫn lộn, nhìn nhau bằng cặp mắt ái kính. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng hòa hợp.

4. Lúc nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không có luận tranh, như nước và sữa lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tạo được công đức, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống phạm trú. Nghĩa là, với ai hân hoan với tâm giải thoát liên hệ với hỷ, thời hỷ sanh; với ai có hỷ, thân được khinh an; với thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với ai cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa ấy chảy theo sườn dốc, làm đầy các hang núi, các khe núi, các thung lũng. Sau khi làm đầy các hang núi, các khe núi, các thung lũng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn. Sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ. Sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy biển cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lúc nào các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không có luận tranh, như nước và sưã lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tạo được công đức, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống phạm trú. Nghĩa là, với ai hân hoan với tâm giải thoát liên hệ với hỷ, thời hỷ sanh; với ai có hỷ, thân được khinh an; với ai có thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với ai cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba hội chúng.

AN 3.96 Ngựa Thuần Chủng (1) Paṭhamaājānīyasutta

"Này các Tỳ kheo, một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia có ba yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được coi là một yếu tố của vương quyền. Thế nào là ba? Đó là khi một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn. Một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia với ba yếu tố này thì xứng đáng với vua…

Cũng vậy, một vị Tỳ kheo có ba phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian. Thế nào là ba? Đó là khi một vị Tỳ kheo đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo đẹp đẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống thu thúc trong giới luật Tỳ kheo, có hạnh kiểm tốt và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đó là cách một vị Tỳ kheo đẹp đẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo mạnh mẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo sống với tinh tấn được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm tiêu cực, có hại) và đón nhận các thiện pháp (skillful qualities / các trạng thái tâm tích cực, có lợi). Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì nỗ lực, không lơi lỏng khi phát triển các thiện pháp. Đó là cách một vị Tỳ kheo mạnh mẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn? Đó là khi một vị Tỳ kheo thực sự hiểu rõ: ‘Đây là khổ (suffering / sự đau khổ, bất toại nguyện)’… ‘Đây là khổ tập (origin of suffering / nguyên nhân của khổ)’… ‘Đây là khổ diệt (cessation of suffering / sự chấm dứt khổ)’… ‘Đây là khổ diệt đạo (practice that leads to the cessation of suffering / con đường đưa đến chấm dứt khổ)’. Đó là cách một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn.

Một vị Tỳ kheo với ba phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian."

94.- Con Ngựa Thuần Thục

1. - Ðầy đủ với ba đức tánh, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu tượng của vua. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua hiền thiện, thuần thục, đầy đủ với sắc đẹp, đầy đủ với sức mạnh, đầy đủ với tốc lực. Ðầy đủ với ba đức tánh này, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu tượng của vua.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đầy đủ với ba pháp, một Tỷ-kheo đáng được cung kính. Ðáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp, đầy đủ sức mạnh, đầy đủ tốc lực.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo giữ gìn giới luật, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ sức mạnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh cấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu đầy đủ các pháp thiện, nỗ lức kiên trì, dõng mãnh, không từ bỏ trách nhiệm đối với các pháp thiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ sức mạnh.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực.

Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 3.97 Ngựa Thuần Chủng (2) Dutiyaājānīyasutta

"Này các Tỳ kheo, một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia có ba yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được coi là một yếu tố của vương quyền. Thế nào là ba? Đó là khi một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn. Một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia với ba yếu tố này thì xứng đáng với vua,…

Cũng vậy, một vị Tỳ kheo có ba phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian. Thế nào là ba? Đó là khi một vị Tỳ kheo đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo đẹp đẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống thu thúc trong giới luật Tỳ kheo, có hạnh kiểm tốt và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đó là cách một vị Tỳ kheo đẹp đẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo mạnh mẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo sống với tinh tấn được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp và đón nhận các thiện pháp. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì nỗ lực, không lơi lỏng khi phát triển các thiện pháp. Đó là cách một vị Tỳ kheo mạnh mẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn? Đó là khi một vị Tỳ kheo, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc thuộc cõi thấp), được hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào). Vị ấy nhập Niết bàn tại đó (extinguished there / đạt Niết bàn ở cõi đó), và là bậc bất lai (not liable to return from that world / không còn quay lại cõi này). Đó là cách một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn.

Một vị Tỳ kheo với ba phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian."

95.- Con Ngựa Thuần Thục

1-4. … (Hoàn toàn giống như kinh trên)

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại chỗ ấy nhập BátNiết-bàn, khỏi phải trở lui từ thế giới ấy, đến thế giới này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đầy đủ tốc lực.

Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 3.98 Ngựa Thuần Chủng (3) Tatiyaājānīyasutta

"Này các Tỳ kheo, một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia có ba yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được coi là một yếu tố của vương quyền. Thế nào là ba? Đó là khi một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn. Một con ngựa quý thuần chủng của hoàng gia với ba yếu tố này thì xứng đáng với vua,…

Cũng vậy, một vị Tỳ kheo có ba phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian. Thế nào là ba? Đó là khi một vị Tỳ kheo đẹp đẽ, mạnh mẽ và nhanh nhẹn.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo đẹp đẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống thu thúc trong giới luật Tỳ kheo, có hạnh kiểm tốt và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đó là cách một vị Tỳ kheo đẹp đẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo mạnh mẽ? Đó là khi một vị Tỳ kheo sống với tinh tấn được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp và đón nhận các thiện pháp. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì nỗ lực, không lơi lỏng khi phát triển các thiện pháp. Đó là cách một vị Tỳ kheo mạnh mẽ.

Và thế nào là một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn? Đó là khi một vị Tỳ kheo chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy an trú, tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (insight / sự hiểu biết sâu sắc, trí tuệ trực tiếp) do sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / sự chấm dứt hoàn toàn các ô nhiễm sâu kín, các dòng chảy ngầm của phiền não). Đó là cách một vị Tỳ kheo nhanh nhẹn.

Một vị Tỳ kheo với ba phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian."

96.- Con Ngựa Thuần Thục

1-4. … (Hoàn toàn giống như kinh số 94, từ 1-4)

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và chứng đạt an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực.

Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xúng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xúng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 3.99 Vải Gai Potthakasutta

"Vải gai thì xấu xí, sờ vào khó chịu, và vô giá trị dù là mới, đã dùng hay đã cũ mòn. Người ta dùng vải gai cũ mòn để cọ nồi, hoặc vứt nó vào đống rác.

Cũng vậy, nếu một Tỳ kheo hạ tọa (mới tu) mà phi giới hạnh, có phẩm hạnh xấu xa, thì đó là cách vị ấy xấu xí, Ta nói vậy. Người đó cũng xấu xí như vải gai. Nếu ngươi giao du, đồng hành, và phục vụ người đó, noi theo gương xấu của họ, điều đó sẽ dẫn đến tổn hại và đau khổ lâu dài cho ngươi. Đó là cách họ khó chịu khi tiếp xúc, Ta nói vậy. Người đó cũng khó chịu khi tiếp xúc như vải gai. Bất kỳ y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc men và vật dụng cho người bệnh mà họ nhận được đều không mang lại nhiều kết quả hay lợi ích cho người cúng dường. Đó là cách họ vô giá trị, Ta nói vậy. Người đó cũng vô giá trị như vải gai.

Nếu một Tỳ kheo trung tọa (tu đã lâu) mà phi giới hạnh, có phẩm hạnh xấu xa, thì đó là cách vị ấy xấu xí, Ta nói vậy…

Nếu một Tỳ kheo thượng tọa (tu lâu năm, có uy tín) mà phi giới hạnh, có phẩm hạnh xấu xa, thì đó là cách vị ấy xấu xí, Ta nói vậy… Nếu ngươi giao du, đồng hành, và phục vụ người đó, noi theo gương xấu của họ, điều đó sẽ dẫn đến tổn hại và đau khổ lâu dài cho ngươi…

Nếu một vị thượng tọa như vậy nói năng giữa Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ), các Tỳ kheo sẽ nói: ‘Một kẻ ngu dốt bất tài như ông thì có gì để nói? Làm sao ông có thể nghĩ rằng mình có điều gì đáng nói chứ!’ Người đó trở nên tức giận và khó chịu, rồi nói ra những điều khiến Tăng đoàn trục xuất họ, như thể họ vứt vải gai vào đống rác.

97.- Vải Thô Bằng Vỏ Cây

1. - Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây hoàn toàn mới, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây bậc trung, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây cũ kỹ, để lau chùi nồi niêu, hay đáng được quăng trên đống rác.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, ác giới, theo ác pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu là trung niên Tỷ-kheo … (như trên) … này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, ác giới, theo ác pháp. Ta nói rằng vị ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải làbm ằng vỏ cây có sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn từ những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có xúc chỏ mkhó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có xúc chạm khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn từ những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng, các Tỷ-kheo nói như sau: “Sao Thầy nghĩ rằng Thầy có thể tuyên bố, một người ngu si, không thông minh? “Vị ấy phẫn nộ, bất mãn, sẽ nói lên những lời này, chúng Tăng đuổi vị ấy ra khỏi, như người ta quăng bỏ tấm vải bằng vỏ cây ấy trên đống rác.

Vải lụa xứ Kāsi thì đẹp đẽ, sờ vào dễ chịu, và có giá trị dù là mới, đã dùng hay đã cũ mòn. Người ta dùng vải lụa Kāsi cũ mòn để gói đồ quý, hoặc đặt nó trong hộp đựng hương thơm.

Cũng vậy, nếu một Tỳ kheo hạ tọa có giới hạnh, có phẩm hạnh tốt đẹp, thì đó là cách vị ấy đẹp đẽ, Ta nói vậy. Người đó cũng đẹp đẽ như vải lụa Kāsi. Nếu ngươi giao du, đồng hành, và phục vụ một người như vậy, noi theo gương tốt của họ, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ngươi. Đó là cách họ dễ chịu khi tiếp xúc, Ta nói vậy. Người đó cũng dễ chịu khi tiếp xúc như vải lụa Kāsi. Bất kỳ y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc men và vật dụng cho người bệnh mà họ nhận được đều mang lại nhiều kết quả và lợi ích lớn lao cho người cúng dường. Đó là cách họ có giá trị, Ta nói vậy. Người đó cũng có giá trị như vải lụa Kāsi.

Nếu một Tỳ kheo trung tọa có giới hạnh, có phẩm hạnh tốt đẹp, thì đó là cách vị ấy đẹp đẽ, Ta nói vậy…

Nếu một Tỳ kheo thượng tọa có giới hạnh, có phẩm hạnh tốt đẹp, thì đó là cách vị ấy đẹp đẽ, Ta nói vậy…

Nếu một vị thượng tọa như vậy nói năng giữa Tăng đoàn, các Tỳ kheo sẽ nói: ‘Chư tôn đức, xin hãy im lặng! Vị thượng tọa đang nói về Giáo pháp và Giới luật.’

Vậy các ngươi nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ giống như vải lụa Kāsi, không giống như vải gai.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

98.- Vải Ba-la-nại

1 - Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi (Ba-la-nại), hoàn toàn mới, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi bậc trung, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Và này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ kỹ dùng để gói các châu báu, hay được đặt vào trong một hộp có hương thơm. 2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

3. Còn nếu là trung niên Tỷ-kheo, … này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, đây ta tuyên bố là vị ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng. Các Tỷ kheo ấy nói như sau :”Chư Tôn giả hãy im lặng, Tỷ-kheo trưởng lão đang nói pháp và luật, và lời nói của vị ấy trở thành châu báu cần phải cất giữ, như một người cất giữ tấm vải kàsi trong một hộp có hương thơm.” Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ được như ví dụ tấm vải kàsi, không giống như ví dụ tấm vải bằng vỏ cây”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 3.100 Cục Muối Loṇakapallasutta

"Này các Tỳ kheo, giả sử các ngươi nói: ‘Dù người này thực hiện một nghiệp (deed / hành động và kết quả của nó) như thế nào, họ cũng trải nghiệm nó theo cùng một cách.’ Nếu vậy, phạm hạnh (spiritual life / đời sống tu hành thanh tịnh) không có giá trị, và sẽ không có cơ hội để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Giả sử các ngươi nói: ‘Dù người này thực hiện một nghiệp như thế nào, họ sẽ trải nghiệm kết quả phù hợp.’ Nếu vậy, phạm hạnh có thể có giá trị, và có cơ hội để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Hãy xét trường hợp một người làm một việc xấu nhỏ nhặt, khiến nó đưa họ vào địa ngục (hell / cõi khổ). Trong khi đó, một người khác làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt đó, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, thì sẽ không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều.

Loại người nào làm một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng nó đưa họ vào địa ngục? Một người chưa tu tập thân, giới, tâm, tuệ (developed their physical endurance, ethics, mind, or wisdom / rèn luyện thân thể, giữ gìn giới luật, phát triển tâm và trí tuệ). Đó là người có tâm lượng nhỏ hẹp (small-minded / người có tâm trí hạn hẹp) và tâm hồn thấp kém (mean-spirited / người có tâm hồn nhỏ nhen), sống trong đau khổ. Loại người đó làm một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng nó đưa họ vào địa ngục.

Loại người nào làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt đó, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều? Một người đã tu tập thân, giới, tâm, và tuệ. Đó là người không có tâm lượng nhỏ hẹp, mà có tâm lượng rộng lớn (big-hearted / người có tâm trí rộng mở), sống vô lượng (living without limits / sống với tâm không giới hạn). Loại người này làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều.

Giả sử một người bỏ một cục muối vào một cốc nước. Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Cốc nước đó có trở nên mặn và không uống được không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Vì chỉ có một ít nước trong cốc.”

“Giả sử một người bỏ một cục muối vào sông Hằng. Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Sông Hằng có trở nên mặn và không uống được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Vì sông Hằng là một khối nước mênh mông.”

"Đây là trường hợp của một người làm một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng nó đưa họ vào địa ngục. Trong khi đó, một người khác làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt đó, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều…

Hãy xét trường hợp một người bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng. Trong khi một người khác không bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng.

Loại người nào bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng? Một người nghèo khó, ít tài sản và của cải. Loại người đó bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng.

Loại người nào không bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng? Một người giàu có, sung túc và nhiều của cải. Loại người đó không bị bỏ tù vì ăn cắp nửa đồng, một đồng, hoặc một trăm đồng.

Đây là trường hợp của một người làm một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng họ phải xuống địa ngục. Trong khi đó, một người khác làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt đó, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều…

Giống như một người buôn cừu hoặc đồ tể. Họ có thể xử tử, bỏ tù, phạt tiền, hoặc trừng phạt bằng cách khác một người ăn cắp của họ, nhưng không thể làm vậy với người khác.

Loại người nào họ có thể trừng phạt? Một người nghèo khó, ít tài sản và của cải. Đó là loại người họ có thể trừng phạt.

Loại người nào họ không thể trừng phạt? Một vị vua hoặc đại thần của vua, người giàu có, sung túc và nhiều của cải. Đó là loại người họ không thể trừng phạt. Thực tế, tất cả những gì họ có thể làm là chắp tay và cầu xin: ‘Thưa ngài, xin vui lòng trả lại cừu cho tôi hoặc trả tiền cho tôi.’

Đây là trường hợp của một người làm một việc xấu nhỏ nhặt, nhưng nó đưa họ vào địa ngục. Trong khi đó, một người khác làm cùng một việc xấu nhỏ nhặt đó, nhưng lại trải nghiệm nó ngay trong đời này, không còn sót lại chút nào, huống chi là nhiều…

Này các Tỳ kheo, giả sử các ngươi nói: ‘Dù người này thực hiện một nghiệp như thế nào, họ cũng trải nghiệm nó theo cùng một cách.’ Nếu vậy, phạm hạnh không thể được sống, và sẽ không có cơ hội để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Giả sử các ngươi nói: ‘Dù người này thực hiện một nghiệp như thế nào, họ cũng trải nghiệm kết quả như phù hợp.’ Nếu vậy, phạm hạnh có thể được sống, và có cơ hội để chấm dứt hoàn toàn khổ đau."

99.- Hạt Muối.

1. - Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

2. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?

− Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.

− Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này, nước trở thành mặn và không uống được.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

4. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có tiền của lớn, có tài sản lớn. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

6. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn. nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.

Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống dời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

7. Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỷ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Ðối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có sở hữu lớn, có tài sản lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: “Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê”.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một số người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

8. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn. và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.

Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: “Người này làm nghiệp ác như thế nào, như thế nào người ấy sẽ cảm thọ (quả) như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.

AN 3.101 Người Đãi Vàng Paṁsudhovakasutta

"Vàng nguyên khai (native gold / vàng chưa tinh luyện) có những cấu uế (corruptions / tạp chất, ô nhiễm) thô: cát, đất, và sỏi. Người đãi vàng (panner / người làm nghề đãi vàng) hoặc người học việc của họ đổ vàng vào máng đãi, nơi họ rửa, đãi và làm sạch nó. Khi những thứ đó đã được loại bỏ, còn lại những cấu uế trung bình trong vàng nguyên khai: sạn mịn và cát thô. Người đãi vàng lại rửa nó lần nữa. Khi những thứ đó đã được loại bỏ, còn lại những cấu uế tinh vi trong vàng nguyên khai: cát mịn và bụi đen. Người đãi vàng lại rửa nó lần nữa. Khi những thứ đó đã được loại bỏ, chỉ còn lại vàng cám. Thợ kim hoàn (goldsmith / người làm đồ vàng bạc) hoặc người học việc của họ đặt vàng nguyên khai vào nồi nấu kim loại (crucible / dụng cụ để nung chảy kim loại), nơi họ thổi, nấu chảy và luyện nó. Vàng nguyên khai vẫn chưa lắng đọng và xỉ vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Nó chưa mềm dẻo, dễ uốn nắn, sáng chói, nhưng còn giòn (pliable, workable, radiant, brittle / các tính chất của vàng sau khi luyện) và chưa hoàn toàn sẵn sàng để chế tác. Nhưng người thợ kim hoàn tiếp tục thổi, nấu chảy và luyện nó. Vàng nguyên khai trở nên mềm dẻo, dễ uốn nắn, sáng chói, không còn giòn, và sẵn sàng để chế tác. Sau đó, người thợ kim hoàn có thể chế tác thành công bất kỳ loại trang sức nào họ muốn, dù là vòng tay, hoa tai, dây chuyền, hay vòng hoa vàng.

Cũng vậy, một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm (higher mind / tâm học cao hơn, sự phát triển tâm) có những cấu uế thô: thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành (bad bodily, verbal, and mental conduct / hành vi xấu ác qua thân, lời, ý). Một vị Tỳ kheo chân thành, có năng lực sẽ từ bỏ, loại bỏ, tiêu trừ và xóa sạch chúng.

Khi chúng đã được từ bỏ và loại bỏ, còn lại những cấu uế trung bình: dục tầm, sân tầm, hại tầm (sensual, malicious, or cruel thoughts / suy nghĩ về dục vọng, sân hận, làm hại). Một vị Tỳ kheo chân thành, có năng lực sẽ từ bỏ, loại bỏ, tiêu trừ và xóa sạch chúng.

Khi chúng đã được từ bỏ và loại bỏ, còn lại những cấu uế tinh vi: gia tộc tầm, quốc độ tầm, danh tiếng tầm (thoughts of family, country, and status / suy nghĩ về gia đình, quê hương, danh tiếng). Một vị Tỳ kheo chân thành, có năng lực sẽ từ bỏ, loại bỏ, tiêu trừ và xóa sạch chúng.

Khi chúng đã được từ bỏ và loại bỏ, chỉ còn lại pháp tầm (thoughts about the teaching / suy nghĩ về Giáo pháp). Trạng thái định (immersion / sự tập trung, thiền định) đó chưa an tĩnh, chưa siêu việt, chưa thanh tịnh, chưa hợp nhất, mà được duy trì bằng sự đè nén, ép buộc (forceful suppression / sự cố gắng chế ngự).

Nhưng sẽ đến lúc tâm ấy lắng dịu nội tại; nó an định, hợp nhất, và nhập vào định. Trạng thái định đó an tĩnh, siêu việt, thanh tịnh và hợp nhất, không được duy trì bằng sự đè nén, ép buộc. Vị ấy hướng tâm để chứng ngộ bằng thắng trí mọi pháp có thể được chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những pháp đó, vì mỗi pháp đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên): phân thân và hợp lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hay núi non không bị cản trở như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như trong nước; đi trên mặt nước như trên đất liền; bay đi trong không trung khi đang ngồi kiết già như chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng, những vật thể hùng mạnh và quyền năng như vậy, bằng tay của mình; điều khiển thân thể của mình đến tận cõi Phạm thiên.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Với thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh cõi trời, người) thanh tịnh và siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng ta có thể hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của mình (tha tâm thông - understand the minds of other beings / khả năng biết tâm người khác). Mong rằng ta có thể hiểu tâm có tham (mind with greed / tâm chứa đựng tham) là “tâm có tham”, và tâm không tham là “tâm không tham”; tâm có sân (mind with hate / tâm chứa đựng sân) là “tâm có sân”, và tâm không sân là “tâm không sân”; tâm có si (mind with delusion / tâm chứa đựng si) là “tâm có si”, và tâm không si là “tâm không si”; tâm bị thu rút (constricted mind / tâm trạng co cụm, hạn hẹp) là “tâm bị thu rút”, và tâm bị phân tán (scattered mind / tâm trạng tán loạn) là “tâm bị phân tán”; tâm quảng đại (expansive mind / tâm trạng rộng lớn, bao la) là “tâm quảng đại”, và tâm không quảng đại (unexpansive mind / tâm trạng không rộng lớn) là “tâm không quảng đại”; tâm hữu thượng (mind that is not supreme / tâm còn giới hạn) là “tâm hữu thượng”, và tâm vô thượng (mind that is supreme / tâm không gì hơn) là “tâm vô thượng”; tâm có định (mind immersed in samādhi / tâm có sự tập trung) là “tâm có định”, và tâm không có định (mind not immersed in samādhi / tâm không có sự tập trung) là “tâm không có định”; tâm giải thoát (freed mind / tâm đã được giải thoát) là “tâm giải thoát”, và tâm không giải thoát (unfreed mind / chưa được giải thoát) là “tâm không giải thoát”.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ (túc mạng thông - recollect many kinds of past lives / khả năng nhớ lại các kiếp trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp (eons / khoảng thời gian rất dài) thế giới thành, nhiều kiếp thế giới trụ, nhiều kiếp thế giới hoại và không. Mong rằng ta nhớ được: “Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sinh ở đây.” Mong rằng ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Với thiên nhãn thông (clairvoyance / khả năng nhìn thấy các cõi giới, chúng sinh) thanh tịnh và siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy các chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi đau khổ—và hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ: “Những chúng sinh thân mến này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh (noble ones / những vị đã chứng đắc đạo quả); họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (place of loss, a bad place, the underworld, hell / các cõi khổ). Tuy nhiên, những chúng sinh thân mến này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào thiện thú, thiên giới (good place, a heavenly realm / các cõi lành, cõi trời).” Và như vậy, với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi đau khổ. Và mong rằng ta hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng ta chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn ô nhiễm ngay trong đời này, và an trú, tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng."

100.- Kẻ Lọc Vàng

1. - Này các Tỷ-kheo, có những uế nhiễm thô tạp của vàng như bụi, cát, đá, sạn và đá sỏi. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đã lọc bụi đem đổ vào trong cái máng, rồi rửa sạch qua, rửa sạch lại, rửa sạch thêm nữa.

Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, còn lại những uế nhiễm bậc trung của vàng, như cát đá, sạn tế nhị và các hột cát thô tạp. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đãi lọc bụi rửa sạch, rửa sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.

Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, còn lại những uế nhiễm tế nhị, như cát mịn và cát bụi đen. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đãi lọc bụi rửa sạch, rửa sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.

Làm xong như vậy, làm như vậy hoàn tất, chỉ còn lại bụi vàng.

2. Rồi người thợ vàng hay đệ tử người thợ vàng bỏ bụi vàng ấy vào trong cái lò, rồi thụt ống bệ, thụt ống bệ thêm, thụt ống bệ cho đến khi vàng bắt đầu chảy, người không chảy ra khỏi miệng lò. Vàng ấy được thụt bệ, được thụt bệ thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa, người không chảy ra khỏi miệng lò, chưa làm xong, chưa sạch các uế nhiễm, chưa có nhu nhuyễn, chưa có kham nhậm, chưa có sáng chói. Vàng ấy còn có thể bể vụn và chưa có thể được tác thành tốt đẹp.

Có một thời, này các Tỷ-kheo, người thợ vàng hay đệ tử người thợ vàng ấy lại thụt bệ, thụt bệ thêm nữa, thụt bệ hơn nữa, cho đến khi vàng chảy ra khỏi lò. Vàng ấy lại được thụt bệ, được thụt bệ thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa, cho đến khi vàng ấy chảy ra khỏi lò, được làm xong, được sạch các uế nhiễm, được nhu nhuyễn, được kham nhậm, và được sáng chói. Vàng ấy còn không bị bể vụn và có thể tác thành tốt đẹp. Và loại trang sức nào người ấy muốn, như vàng lá, hay nhẫn, hay vòng cổ, hay dây chuyền, người ấy có thể làm thành như ý muốn.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử thô tạp, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt, không cho sanh khởi lại.

Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, Tỷ-kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử thuộc bậc trung, dục tầm, sân tầm, hại tầm. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt, không cho sanh khởi .

Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, Tỳ kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử tế nhị, như tư tưởng về gia tộc, tư tưởng về quốc độ, tư tuởng không bị khinh rẻ. Tỳ kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt không cho chúng sanh khởi.

Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, chỉ còn lại các pháp tầm (tư tưởng về pháp). 4. Ðịnh như vậy không có an tịnh, không có thù thắng, không được khinh an, không đạt đến nhứt tâm, nhưng là một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép. Nhưng đến một thời, này các Tỷ-kheo, tâm của vị ấy được nội trú, lắng đứng lại, được nhứt tâm, được định tĩnh. Ðịnh ấy được an tịnh, được thù diệu, được khinh an, đạt đến nhứt tâm, không phải một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép, tùy thuộc vào pháp gì tâm người ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

5. Nếu vị ấy ước muốn, ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, ngồi kiết già đi đến hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

6. Vị ấy nếu ước muốn: “Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài người”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

7. Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể biết tâm của các loại chúng sanh khác, tâm của các loài Người khác như sau: Tâm có tham biết là tâm có tham. Tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm có sân biết là tâm có sân. Tâm không sân biết là tâm không sân. Tâm có si biết là tâm có si. Tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định biết là tâm không thiền định.Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

8. Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp; vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh tại đây”. Vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào”.

9. Nếu vị ấy ước muốn: Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh ấy làm những ác nghiệp về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục, đọa xứ. Các chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những vị này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

10. Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào. 11. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng. Cần phải thỉnh thoảng tác ý thướng định, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả.

12. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng định, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến trạo cử. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu thỉnh thoảng tác ý thướng định, thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn chánh định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc.

13. Ví như một thợ làm vàng, này các Tỷ-kheo, hay đệ tử người làm vàng, xây lên các lò đúc. Sau khi xây lên các lò đúc, người ấy nhóm lửa đốt miệng lò. Sau khi đốt miệng lò, với cái kềm, người ấy cầm vàng bỏ vào miệng lò; rồi thỉnh thoảng người ấy thụt ống bệ, thỉnh thoảng người ấy rưới nước, thỉnh thoảng người ấy quan sát kỹ lưỡng. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều thổi ống bệ, thì có sự kiện vàng ấy bị cháy. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều rưới nước, thì có sự kiện vàng ấy bị nguội lạnh. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều quan sát kỹ lưỡng, thì có sự kiện vàng ấy không chơn chánh đi đến thuần thục. Còn nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng thổi ống bệ vàng ấy, thỉnh thoảng rưới nước, thỉnh thoảng quan sát kỹ lưỡng, thời vàng ấy trở thành trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, và được thành tốt đẹp. Và loại trang sức nào người ấy muốn như vàng lá, hay nhẫn, hay vòng cổ, hay dây chuyền, người ấy có thể làm thành như ý muốn.

AN 3.102 Nền Tảng Nimittasutta

"Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm nên thỉnh thoảng chú tâm vào ba nền tảng (basis / đối tượng, nền tảng): nền tảng định (basis of immersion / nền tảng của sự tập trung), nền tảng tinh tấn (basis of exertion / nền tảng của sự nỗ lực), và nền tảng xả (basis of equanimity / nền tảng của sự bình tâm). Xả (equanimity / sự giữ tâm quân bình, không dao động).

Nếu một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm chỉ chú tâm vào nền tảng định, tâm của vị ấy có khả năng nghiêng về giải đãi (laziness / sự lười biếng, thụ động).

Nếu vị ấy chỉ chú tâm vào nền tảng tinh tấn, tâm của vị ấy có khả năng nghiêng về trạo cử (restlessness / sự bồn chồn, không yên).

Nếu vị ấy chỉ chú tâm vào nền tảng xả, tâm của vị ấy có khả năng không nhập định đúng mức để đoạn tận các lậu hoặc.

Nhưng khi một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm thỉnh thoảng chú tâm vào nền tảng định, nền tảng tinh tấn, và nền tảng xả, tâm của vị ấy trở nên mềm dẻo, dễ uốn nắn, sáng chói, không còn giòn, và đã nhập định đúng mức để đoạn tận các lậu hoặc.

Giống như khi một thợ kim hoàn hoặc người học việc của thợ kim hoàn chuẩn bị lò rèn, nung nồi nấu kim loại, dùng kẹp gắp một ít vàng nguyên khai và đặt vào nồi nấu. Thỉnh thoảng họ thổi bễ, thỉnh thoảng họ rưới nước vào, và thỉnh thoảng họ chỉ quan sát. Nếu họ chỉ thổi bễ, vàng nguyên khai có khả năng bị cháy. Nếu họ chỉ rưới nước vào, vàng nguyên khai có khả năng bị nguội đi. Nếu họ chỉ quan sát, vàng nguyên khai có khả năng không được xử lý đúng cách. Nhưng khi người thợ kim hoàn đó thỉnh thoảng thổi bễ, thỉnh thoảng rưới nước vào, và thỉnh thoảng quan sát, vàng nguyên khai đó trở nên mềm dẻo, dễ uốn nắn, sáng chói, không còn giòn, và sẵn sàng để chế tác. Sau đó, người thợ kim hoàn có thể chế tác thành công bất kỳ loại trang sức nào họ muốn, dù là vòng tay, hoa tai, dây chuyền, hay vòng hoa vàng.

Cũng vậy, một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm nên thỉnh thoảng chú tâm vào ba nền tảng: nền tảng định, nền tảng tinh tấn, và nền tảng xả…

Khi một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu tập tăng thượng tâm thỉnh thoảng chú tâm vào nền tảng định, nền tảng tinh tấn, và nền tảng xả, tâm của vị ấy trở nên mềm dẻo, dễ uốn nắn, sáng chói, không còn giòn, và đã nhập định đúng mức để đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy hướng tâm để chứng ngộ bằng thắng trí mọi pháp có thể được chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những pháp đó, vì mỗi pháp đều nằm trong tầm khả năng.

Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông’ …

‘Với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.’ … ‘Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ.’ … ‘Với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh.’ … ‘Mong rằng ta chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn ô nhiễm ngay trong đời này, và an trú, tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều này, vì mỗi điều đều nằm trong tầm khả năng."

14. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo siêng năng tu tập tăng thượng tâm, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng. Cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng định, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướngtinh cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng định, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến trạo cử. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng tác ý tướng định, thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn chánh định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc. Tùy thuộc theo pháp gì, tâm vị ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

15. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ chứng đạt nhiều loại thần thông … (như 100.5) … chứng tri sáu loại thắng trí … do đoạn diệt các lậu hoặc … (như 100.10) … sau khi chứng ngộ, ta sẽ chứng đạt và an trú”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.