Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Giác Ngộ

AN 3.103 Trước Khi Giác Ngộ Pubbevasambodhasutta

"Này các Tỳ kheo, trước khi Ta giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức hoàn toàn)—khi Ta còn là vị chưa giác ngộ, đang hướng đến giác ngộ—Ta suy nghĩ: ‘Thế nào là vị ngọt (gratification / sự hấp dẫn, sự thỏa mãn) của thế gian? Thế nào là sự nguy hại (drawback / tác hại, mặt trái) của thế gian? Thế nào là sự xuất ly (escape / lối thoát, sự giải thoát) khỏi thế gian?’

Rồi Ta nghĩ: 'Sự vui thích và hạnh phúc phát sinh từ thế gian: đó là vị ngọt của nó.

Thế gian là vô thường, khổ, biến hoại (impermanent, suffering, and perishable / không bền vững, đau khổ, và có thể hư hoại): đó là sự nguy hại của nó.

Việc loại bỏ và từ bỏ dục và tham (desire and greed / ham muốn và tham lam) đối với thế gian: đó là sự xuất ly khỏi nó.’

Cho đến khi nào Ta chưa như thật tuệ tri (truly understand for what they are / hiểu biết đúng như bản chất của chúng) về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian theo cách này, Ta đã không tuyên bố về sự vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối thượng) của mình trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên (gods, Māras, and Divinities / các vị trời, ma vương, và các vị trời cõi sắc giới), trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / những người tu khổ hạnh và các tu sĩ Bà-la-môn giáo), với chư Thiên và loài Người (gods and humans / các vị trời và con người).

Nhưng khi Ta đã như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian theo cách này, Ta đã tuyên bố về sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

Tri và kiến khởi lên nơi Ta (Knowledge and vision arose in me / sự hiểu biết và cái thấy phát sinh trong tôi): ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động (My freedom is unshakable / sự giải thoát của tôi là không thể lay chuyển); đây là đời sống cuối cùng (this is my last rebirth / kiếp sống cuối cùng); không còn tái sinh nữa (now there’ll be no more future lives / không còn cuộc sống nào trong tương lai nữa).’"

XI. Phẩm Chánh Giác

101.- Trước Khi Giác Ngộ

1. - Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất ly?”. Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi ta: “Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Ðiều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời”. 2. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và tri kiến khởi lên nơi ta: “Bất động là tâm giải thoát của ta. Ðây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa”.

AN 3.104 Vị Ngọt (1) Paṭhamaassādasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của thế gian, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã dùng trí tuệ thấy rõ (seen clearly with wisdom / thấy rõ bằng trí tuệ) hoàn toàn vị ngọt của thế gian. Ta đã đi tìm cầu sự nguy hại của thế gian, và Ta đã tìm thấy chúng. Ta đã dùng trí tuệ thấy rõ hoàn toàn sự nguy hại của thế gian. Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly khỏi thế gian, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã dùng trí tuệ thấy rõ hoàn toàn sự xuất ly khỏi thế gian.

Cho đến khi nào Ta chưa như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian, Ta đã không tuyên bố về sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

Nhưng khi Ta đã như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian, Ta đã tuyên bố về sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

Tri và kiến khởi lên nơi Ta: ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng; không còn tái sinh nữa.’"

3. Này các Tỷ-kheo, ta đã đi tìm cầu vị ngọt ở đời. Vị ngọt ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, vị ngọt có mặt ở đời, với trí tuệ ta khéo thấy vị ấy ngọt. Này các Tỷ-kheo, ta đã tìm cầu nguy hại ở đời. Nguy hại ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, nguy hại có mật ở đời, với trí tuệ ta, ta khéo thấy nguy hại ấy, này các Tỷ-kheo ta đã tìm cầu xuất ly ở đời. Xuất ly ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, xuất ly có mặt ở đời, với trí tuệ ta, ta khéo thấy xuất ly ấy.

4. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng chánh đẳng giác, cùng với thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Samôn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và tri kiến khởi lên nơi ta: “Bất động là tâm giải thoát của ta. Ðây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa”.

AN 3.105 Vị Ngọt (2) Dutiyaassādasutta

"Này các Tỳ kheo, nếu không có vị ngọt trong thế gian, chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) sẽ không ái luyến (aroused by it / bị thu hút, yêu thích) nó. Nhưng vì có vị ngọt trong thế gian, nên chúng sinh ái luyến nó.

Nếu thế gian không có sự nguy hại, chúng sinh sẽ không yếm ly (grow disillusioned / chán ngán, không còn ham muốn) nó. Nhưng vì thế gian có sự nguy hại, nên chúng sinh yếm ly nó.

Nếu không có sự xuất ly khỏi thế gian, chúng sinh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có sự xuất ly khỏi thế gian, nên chúng sinh thoát khỏi nó.

Cho đến khi nào chúng sinh chưa như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian, họ vẫn chưa thoát khỏi thế gian này—với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với quần chúng này gồm các Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người—và họ không sống không vướng mắc, thoát ly, với tâm không còn giới hạn (detached, liberated, with a mind free of limits / không bị ràng buộc, được giải thoát, với tâm trí không còn bị giới hạn).

Nhưng khi chúng sinh đã như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian, họ đã thoát khỏi thế gian này—với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với quần chúng này gồm các Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người—và họ sống không vướng mắc, thoát ly, với tâm không còn giới hạn."

102.- Vị Ngọt.

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt ở đời, thời các loài hữu tình không có tham nhiễm đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt ở đời, nên các loài hữu tình có tham nhiễm ở đời. Này các Tỷ-kheo, nếu không có nguy hại ở đời, thời các loài hữu tình không có nhàm chán đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có nguy hại ở đời, nên các loài hữu tình có nhàm chán đối với đời. Này các Tỷ-kheo, nếu không có xuất ly ra khỏi đời, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có xuất ly đối với đời, nên các loài hữu tình có xuất ly ra khỏi đời.

Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các loài hữu tình chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình không có thể an trú với tâm thoát ly, không có hệ phược, giải thoát, không bị hạn cuộc khỏi thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các loài hữu tình đã như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình có thể an trú với tâm thoát ly, không có hệ phược, giải thoát, không bị hạn cuộc khỏi thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

AN 3.106 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỳ kheo, có những Sa-môn và Bà-la-môn không như thật tuệ tri (don’t truly understand for what they are / không hiểu biết đúng như bản chất của chúng) về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian. Ta không xem họ là Sa-môn chân chính giữa các Sa-môn, là Bà-la-môn chân chính giữa các Bà-la-môn. Các vị tôn giả ấy không nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn (goal of life as an ascetic or brahmin / mục tiêu của việc tu hành), và không an trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí (realize with their own insight / tự mình nhận ra bằng trí tuệ vượt trội).

Có những Sa-môn và Bà-la-môn như thật tuệ tri về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của thế gian. Ta xem họ là Sa-môn chân chính giữa các Sa-môn, là Bà-la-môn chân chính giữa các Bà-la-môn. Các vị tôn giả ấy nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và an trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí."

Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết là vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, đối với Ta không được công nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, không được công nhận là các Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại không có chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, đối với Ta được công nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, được công nhận là các Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại sẽ có chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

AN 3.107 Khóc Than Ruṇṇasutta

“Ca hát được xem là tiếng khóc than trong giới luật của bậc Thánh (training of the Noble One / quy tắc thực hành của bậc giác ngộ). Múa nhảy được xem là sự điên cuồng. Cười quá lớn tiếng, hở răng, được xem là trẻ con. Vì vậy, hãy từ bỏ ca hát và múa nhảy; và khi có niềm vui chính đáng, chỉ nên mỉm cười là đủ.”

103.- Khóc Than

− Này các Tỷ-kheo, đây được xem là khóc than trong giới luật bậc Thánh, tức là ca vịnh. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là điên loạn trong giới luật bậc Thánh, tức là múa nhảy. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là trẻ con trong giới luật bậc Thánh, tức là cười quá đáng để lộ cả răng. Do luật này, này các Tỷ-kheo, hãy phá cây cầu đi đến hát. Hãy phá cây cầu đi đến múa nhảy. Thật là vừa đủ nếu các Thầy được hoan hỷ đúng pháp, mỉm cười để tỏ là các Thầy được hoan hỷ.

AN 3.108 Thỏa Mãn Atittisutta

“Này các Tỳ kheo, có ba sự ham mê không bao giờ biết đủ. Ba điều đó là gì? Ngủ nghỉ, uống rượu men rượu nấu, và dâm dục (sexual intercourse / quan hệ tình dục). Đó là ba sự ham mê không bao giờ biết đủ.”

104.- Không Thoả Mãn

− Này các Tỷ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?

Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỷ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỷ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỷ kheo, không bao giờ thỏa mãn.

AN 3.109 Không Phòng Hộ Arakkhitasutta

Khi ấy, gia chủ Cấp Cô Độc (householder Anāthapiṇḍika / người chủ gia đình tên Cấp Cô Độc) đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, khi tâm không được phòng hộ (mind is unprotected / tâm trí không được bảo vệ, che chở), thì thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp (deeds of body, speech, and mind / hành động qua thân, lời nói và ý nghĩ) cũng không được phòng hộ. Khi các nghiệp không được phòng hộ, chúng sẽ hư hoại (fester / trở nên thối rữa, hư hỏng). Khi các nghiệp hư hoại, chúng trở nên thối mục (rotten / mục nát). Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thối mục sẽ chết không tốt đẹp (not have a good death / có cái chết không an lành, chết trong đau khổ).

Ví như một ngôi nhà lợp vụng. Nóc nhà, rui mè, và tường vách không được che chở. Chúng bị hư hoại và trở nên thối mục.

Cũng vậy, khi tâm không được phòng hộ, các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng không được phòng hộ. … Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thối mục sẽ chết không tốt đẹp.

Khi tâm được phòng hộ (mind is protected / tâm trí được bảo vệ, che chở), các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng được phòng hộ. Khi các nghiệp được phòng hộ, chúng không bị hư hoại. Khi các nghiệp không bị hư hoại, chúng không trở nên thối mục. Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không thối mục sẽ chết tốt đẹp (have a good death / có cái chết an lành).

Ví như một ngôi nhà lợp khéo. Nóc nhà, rui mè, và tường vách được che chở. Chúng không bị thấm nước và không trở nên thối mục.

Cũng vậy, khi tâm được phòng hộ, các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng được phòng hộ. … Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không thối mục sẽ chết tốt đẹp."

105.- Nóc Nhọn (1)

Rồi gia chủ Anathapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với gia chủ Anathapindika đang ngồi xuống một bên:

− Này gia chủ, khi tâm không phòng hộ, thời thân nghiệp cũng không phòng hộ, khẩu nghiệp không phòng hộ, ý nghiệp cũng không phòng hộ. Với ai thân nghiệp không phòng hộ, khẩu nghiệp không phòng hộ, ý nghiệp không phòng hộ, thời thân nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; ý nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; Với ai thân nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, ý nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, thời thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp bị hủ bại. Với ai thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp bị hủ bại, sự chết không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện.

Này gia chủ, ví như ngôi nhà nóc nhọn vụng lợp, thời nóc nhọn không được phòng hộ, rui kèo không được phòng hộ, vách tường không được phòng hộ; nóc nhọn bị đấy ứ, rỉ nước, các rui kèo bị đầy ứ rỉ nước, các vách tường bị đầy ứ, rỉ nước, nóc nhọn bị hủ bại, rui kèo bị hủ bại, vách tường bị hủ bại. Cũng vậy, này gia chủ, khi tâm không được phòng hộ, thời thân nghiệp cũng không được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp … sự chết không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện.

Này gia chủ, khi tâm được phòng hộ, thời thân nghiệp cũng được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp cũng được phòng hộ. Với ai thân nghiệp được phòng hộ, khẩu nghiệp được phòng hộ, ý nghiệp được phòng hộ, thời thân nghiệp đầy không ứ tham dục và rỉ chảy; khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy; ý nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy; Với ai thân nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, ý không nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, thời thân nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ bại. Với ai thân nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ bại, thời sự chết được hiền thiện, mạng chung được hiền thiện …

Này gia chủ, ví như ngôi nhà nóc nhọn khéo lợp, thời nóc nhọn được phòng hộ, rui kèo được phòng hộ, vách tường được phòng hộ; nóc nhọn không đầy ứ, rỉ nước, các rui kèo không đầy ứ rỉ nước, các vách tường không đầy ứ, rỉ nước, nóc nhọn không bị hủ bại, rui kèo không bị hủ bại, vách tường không bị hủ bại. Cũng vậy, này gia chủ, khi tâm được phòng hộ, thời thân nghiệp cũng được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ bại, thời sự chết được hiền thiện, mạng chung được hiền thiện.

AN 3.110 Hư Hoại Byāpannasutta

Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với gia chủ Cấp Cô Độc:

"Này gia chủ, khi tâm bị hư hoại (mind is fallen / tâm trí bị suy đồi, hư hỏng), các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng bị hư hoại. Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bị hư hoại sẽ chết không tốt đẹp. Ví như một ngôi nhà lợp vụng. Nóc nhà, rui mè, và tường vách bị sụp đổ. Cũng vậy, khi tâm bị hư hoại, các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng bị hư hoại. Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bị hư hoại sẽ chết không tốt đẹp.

Khi tâm không bị hư hoại (mind is not fallen / tâm trí không bị suy đồi, hư hỏng), các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng không bị hư hoại. Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không bị hư hoại sẽ chết tốt đẹp. Ví như một ngôi nhà lợp khéo. Nóc nhà, rui mè, và tường vách không bị sụp đổ. Cũng vậy, khi tâm không bị hư hoại, các nghiệp về thân, lời nói và ý nghĩ cũng không bị hư hoại. Người nào có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không bị hư hoại sẽ chết tốt đẹp."

106.- Nóc Nhọn (2)

(Kinh này hoàn toàn giống như kinh trên, chỉ khác có một chữ. Chỗ nào kinh trên dùng chữ “không phòng hộ”, thời ở đây dùng chữ “thất thế, lung lay” với những thay đổi cần thiết).

AN 3.111 Nguồn Gốc (1) Paṭhamanidānasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp (sources that give rise to deeds / nguyên nhân làm nảy sinh hành động) này. Ba điều đó là gì? Tham, sân, si (Greed, hate, and delusion / tham lam, giận dữ, và si mê) là những nguồn gốc phát sinh các nghiệp (deed / hành động có chủ ý, tạo ra kết quả). Bất kỳ nghiệp nào phát sinh từ tham, sân, si—sinh ra từ, có nguồn gốc từ, khởi lên từ tham, sân, si—đều là bất thiện (unskillful / không tốt, có hại), đáng chê trách (blameworthy / đáng bị khiển trách), mang lại khổ đau (results in suffering / đưa đến kết quả đau khổ), và dẫn đến sự tạo tác thêm nghiệp, không dẫn đến sự đoạn diệt nghiệp (leads to the creation of more deeds, not their cessation / làm phát sinh thêm hành động mới, không làm chấm dứt chúng). Đó là ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp.

107.- Ba Nhân Duyên (1)

− Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

Phàm nghiệp nào do tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành … Phàm nghiệp nào do si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

Có ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp này. Ba điều đó là gì? Vô tham, vô sân, vô si (Contentment, love, and understanding / không tham lam, không giận dữ, không si mê) là những nguồn gốc phát sinh các nghiệp. Bất kỳ nghiệp nào phát sinh từ vô tham, vô sân, vô si—sinh ra từ, có nguồn gốc từ, khởi lên từ vô tham, vô sân, vô si—đều là thiện (skillful / tốt, có lợi), không đáng chê trách (blameless / không đáng bị khiển trách), mang lại hạnh phúc (results in happiness / đưa đến kết quả an vui), và dẫn đến sự đoạn diệt nghiệp, không dẫn đến sự tạo tác thêm nghiệp (leads to the cessation of more deeds, not their creation / làm chấm dứt hành động, không làm phát sinh thêm hành động mới). Đó là ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp."

108.- Ba Nhân Duyên (2)

− Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Vô tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác thành … Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

AN 3.112 Nguồn Gốc (2) Dutiyanidānasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp này. Ba điều đó là gì?

Ái (Desire / sự khao khát, ham muốn) khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham (things that stimulate desire and greed / những đối tượng gây ra sự yêu thích và ham muốn) trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại. Và ái khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại như thế nào? Trong tâm ngươi suy nghĩ và tư duy về (In your heart you think about and consider / trong lòng bạn nghĩ và xem xét về) các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại. Khi làm như vậy, ái khởi lên, và ngươi bị trói buộc vào các pháp ấy (get attached to those things / bị dính mắc vào những thứ đó). Tham ái trong tâm (lust in the heart / sự ham muốn trong lòng) này, Ta gọi là kiết sử (fetter / sự trói buộc, ràng buộc tâm trí). Đó là cách ái khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại.

Đó là ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp.

109.- Nhân Duyên (3)

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn khởi lên.

2. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn khởi lên?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn sanh khởi.

3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn khởi sanh?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn sanh khởi.

Có ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp này. Ba điều đó là gì? Ái không khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại. Và ái không khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại như thế nào? Ngươi tuệ tri quả vị lai (understand the future result / biết rõ kết quả trong tương lai) của các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại. Khi biết điều này, ngươi yếm ly, tâm trở nên ly tham (your heart becomes dispassionate / lòng trở nên không còn tham ái), và ngươi thấy rõ bằng trí tuệ thâm sâu (see it with penetrating wisdom / thấy rõ điều đó bằng trí tuệ sắc bén). Đó là cách ái không khởi lên đối với các pháp làm khởi lên ái và tham trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại.

Đó là ba nguồn gốc phát sinh các nghiệp."

110. Nhân Duyên (4)

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn không sanh khởi.

2. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, vị ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi.

3. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi.