Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Đọa Xứ

AN 3.113 Đọa Xứ Āpāyikasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba hạng người này, nếu không từ bỏ lỗi lầm này, chắc chắn sẽ rơi vào đọa xứ (place of loss / nơi khổ đau, cảnh giới thấp), chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục (hell / cõi địa ngục). Ba hạng người nào?

Người không sống phạm hạnh nhưng tự nhận là sống phạm hạnh; người vu khống vô căn cứ về tội không phạm hạnh đối với người sống phạm hạnh thanh tịnh; và người có quan điểm rằng: ‘Không có gì sai trái trong các thú vui dục lạc’, rồi lao mình vào các thú vui dục lạc.

Đó là ba hạng người, nếu không từ bỏ lỗi lầm này, chắc chắn sẽ rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục."

XII. Phẩm Ðọa Xứ

111.- Rơi Vào Ðọa Xứ

− Này các Tỷ-kheo, ba hạng người này rơi vào đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này. Thế nào là ba?

Ai sống không Phạm hạnh, tự xưng là có sống Phạm hạnh; đối với người sống Phạm hạnh thanh tịnh, hành Phạm hạnh thật thanh tịnh, ai công kích là không Phạm hạnh một cách không căn cứ; ai chủ trương như sau: “Không có lỗi lầm trong các dục vọng” và rơi vào say đắm trong các dục vọng; những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người rơi vào trong đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này.

AN 3.114 Hiếm Có Dullabhasutta

“Này các Tỳ kheo, sự xuất hiện của ba hạng người này là hiếm có trên đời. Ba hạng người nào? Bậc Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy, bậc Giác Ngộ), bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã hoàn thiện, không còn tái sinh), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc Giác Ngộ hoàn toàn). Người giảng dạy giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết. Người biết ơn và nhớ ơn. Sự xuất hiện của ba hạng người này là hiếm có trên đời.”

112.- Khó Tìm Ðược

− Sự xuất hiện của ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, khó tìm được ở đời. Người có thể thuyết pháp và luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người tri ân, người biết ơn, khó tìm được ở đời.

Sự xuất hiện của ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.

AN 3.115 Vô Lượng Appameyyasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba hạng người này hiện hữu trên đời. Ba hạng người nào? Người dễ đo lường, người khó đo lường, và người không thể đo lường.

Và ai là người dễ đo lường? Đó là người có tâm trạo cử (restlessness / bồn chồn, không yên), ngạo mạn, hay thay đổi, nói lời thô tục, nói năng bừa bãi, thất niệm (unmindful / thiếu chánh niệm, không chú tâm), thiếu tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng hoàn cảnh) và thiếu định (immersion / sự tập trung tâm ý, thiền định), tâm trí lang thang và các căn (faculties / giác quan) không được chế ngự. Đây gọi là ‘người dễ đo lường’.

Và ai là người khó đo lường? Đó là người không có tâm trạo cử, không ngạo mạn, không hay thay đổi, không nói lời thô tục, không nói năng bừa bãi. Họ có chánh niệm vững chắc, có tỉnh giác và định, tâm nhất quán và các căn được chế ngự. Đây gọi là ‘người khó đo lường’.

Và ai là người không thể đo lường? Đó là vị Tỳ kheo đã là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não). Đây gọi là ‘người không thể đo lường’.

Đó là ba hạng người hiện hữu trên đời."

113. Không Thể Ước Lượng

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Dễ ước lượng, khó ước lượng và không thể ước lượng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người dễ ước lượng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tháo động, kiêu căng, dao động, lắm mồm lắm miệng, lắm lời, thất niệm không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người dễ ước lượng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là người khó ước lượng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm lắm miệng, không lắm lời, trú niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, các căn được bảo vệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người khó ước lượng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là người không thể ước lượng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người không thể ước lượng.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

AN 3.116 Bất Động Āneñjasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba hạng người này hiện hữu trên đời. Ba hạng người nào?

Thứ nhất, một người, vượt hoàn toàn các sắc tưởng (perceptions of form / nhận thức về hình sắc), chấm dứt các đối ngại tưởng (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại), không chú tâm đến các đa tưởng (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt, đa dạng), nhận thức rằng ‘không gian là vô biên’, nhập và an trú vào Không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi trời không gian vô tận). Họ thích thú, ưa thích và hài lòng với cảnh giới đó. Nếu họ quyết tâm với cảnh giới đó, chuyên chú vào đó, và thường xuyên thiền định về nó mà không đánh mất, khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi chư thiên Không vô biên xứ. Tuổi thọ của chư thiên ở Không vô biên xứ là hai mươi ngàn kiếp (eons / thời gian rất dài, đại kiếp). Một phàm phu (ordinary person / người thường, chưa giác ngộ) ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ sẽ đi vào địa ngục, cõi súc sanh (animal realm / cõi thú) hoặc cõi ngạ quỷ (ghost realm / cõi quỷ đói). Nhưng một thánh đệ tử (noble disciple / đệ tử bậc thánh) của Đức Phật ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ nhập Niết-bàn (extinguished / đạt đến sự tịch diệt cuối cùng) ngay trong đời sống đó. Đây là sự khác biệt giữa một thánh đệ tử có học và một phàm phu không có học về nơi tái sinh của họ.

Lại nữa, một người, vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận thức rằng ‘thức là vô biên’, nhập và an trú vào Thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi trời nhận thức vô tận). Họ thích thú, ưa thích và hài lòng với cảnh giới đó. Nếu họ quyết tâm với cảnh giới đó, chuyên chú vào đó, và thường xuyên thiền định về nó mà không đánh mất, khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi chư thiên Thức vô biên xứ. Tuổi thọ của chư thiên ở Thức vô biên xứ là bốn mươi ngàn kiếp. Một phàm phu ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ sẽ đi vào địa ngục, cõi súc sanh hoặc cõi ngạ quỷ. Nhưng một thánh đệ tử của Đức Phật ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ nhập Niết-bàn ngay trong đời sống đó. Đây là sự khác biệt giữa một thánh đệ tử có học và một phàm phu không có học về nơi tái sinh của họ.

Lại nữa, một người, vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận thức rằng ‘không có gì cả’, nhập và an trú vào Vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi trời không có gì cả). Họ thích thú, ưa thích và hài lòng với cảnh giới đó. Nếu họ quyết tâm với cảnh giới đó, chuyên chú vào đó, và thường xuyên thiền định về nó mà không đánh mất, khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi chư thiên Vô sở hữu xứ. Tuổi thọ của chư thiên ở Vô sở hữu xứ là sáu mươi ngàn kiếp. Một phàm phu ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ sẽ đi vào địa ngục, cõi súc sanh hoặc cõi ngạ quỷ. Nhưng một thánh đệ tử của Đức Phật ở đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư thiên ấy, rồi họ nhập Niết-bàn ngay trong đời sống đó. Đây là sự khác biệt giữa một thánh đệ tử có học và một phàm phu không có học về nơi tái sinh của họ.

Đó là ba hạng người hiện hữu trên đời."

114.- Không Vô Biên Xứ

− Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người hoàn toàn vượt qua sắc tưởng, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, xem “hư không là vô biên”, đạt đến an trú và Không vô biên xứ. Vị ấy thưởng thức cảnh giới ấy, hy cầu cảnh giới ấy, thỏa mãn với cảnh giới ấy, an trú trong cảnh giới ấy, tín giải cảnh giới ấy, an trú nhiều trong cảnh giới ấy, không có từ bỏ cảnh giới ấy, đến khi mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên đã đạt đến Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, thọ mạng của chư Thiên đã đạt đến Không vô biên xứ là hai mươi ngàn kiếp. Kẻ phàm phu, sau khi trú ở đấy cho đến hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, kẻ ấy đi vào địa ngục, đi vào loại bàng sanh, đi vào cõi ngạ quỷ. Nhưng đệ tử của Thế Tôn, sau khi trú ở đấy cho hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, cuối cùng nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Ðây là sự đặc thù, đây là sự tăng thượng, đây là sự sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe nhiều và kẻ vô văn phàm phu về vấn đề sanh thú và tái sanh.

2. Lại nữa, này các Tỷ Kheo, ở đây có người vượt qua Không vô biên xứ, xem “thức là vô biên”, đạt đến an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy thưởng thức cảnh giới ấy, hy cầu cảnh giới ấy, thỏa mãn với cảnh giới ấy, an trú trong cảnh giới ấy, tín giải cảnh giới ấy, an trú nhiều trong cảnh giới ấy, không có từ bỏ cảnh giới ấy, đến khi mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên đã đạt Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, thọ mạng của chư Thiên đã đạt đến Thức vô biên xứ là bốn mươi ngàn kiếp. Kẻ phàm phu, sau khi trú ở đấy cho đến hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, kẻ ấy đi vào địa ngục, đi vào loại bàng sanh, đi vào cõi ngạ quỷ. Nhưng đệ tử của Thế Tôn, sau khi trú ở đấy cho hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, cuối cùng nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Ðây là sự đặc thù, đây là sự tăng thượng, đây là sự sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe nhiều và kẻ vô văn phàm phu về vấn đề sanh thú và tái sanh.

3. Lại nữa, naỳ các Tỷ kheo, ở đây có người vượt qua Thức vô biên xứ, xem “không có gì cả”, đạt đến an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy thưởng thức cảnh giới ấy, hy cầu cảnh giới ấy, thỏa mãn với cảnh giới ấy, an trú trong cảnh giới ấy, tín giải cảnh giới ấy, không có từ bỏ cảnh giới ấy, đến khi mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên đã đạt Vô sở hữu xứ. Này các Tỷ-kheo, thọ mạng của chư Thiên đã đạt đến Vô sở hữu xứ là sáu mươi ngàn kiếp. Kẻ phàm phu, sau khi trú ở đấy cho đến hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, kẻ ấy đi vào địa ngục, đi vào loại bàng sanh, đi vào cõi ngạ quỷ. Nhưng đệ tử của Thế Tôn, sau khi trú ở đấy cho hết thọ mạng, sau khi trải qua tất cả thời gian thọ mạng của chư Thiên ấy, cuối cùng nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Ðây là sự đặc thù, đây là sự tăng thượng, đây là sự sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe nhiều và kẻ vô văn phàm phu về vấn đề sanh thú và tái sanh.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.

AN 3.117 Thất Bại và Thành Tựu Vipattisampadāsutta

"Này các Tỳ kheo, có ba sự thất bại. Ba sự nào? Thất bại về giới (ethics / các quy tắc đạo đức), thất bại về tâm (mind / tâm trí, ý thức), và thất bại về kiến (view / quan điểm, nhận thức). Và thế nào là thất bại về giới? Đó là khi một người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thất bại về giới’.

Và thế nào là thất bại về tâm? Đó là khi một người tham lam (covetous / lòng tham muốn) và sân độc (malicious / lòng ác ý, căm ghét). Đây gọi là ‘thất bại về tâm’.

Và thế nào là thất bại về kiến? Đó là khi một người có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm), một cái nhìn lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc bố thí, cúng dường, hay tế lễ. Không có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Không có đời sau. Không có cha mẹ, không có các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) hóa sinh. Và không có các vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là ‘thất bại về kiến’. Một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, bị tái sinh vào đọa xứ, ác thú (bad place / nơi xấu xa, cảnh giới thấp), địa ngục vì thất bại về giới, tâm, hoặc kiến.

Đó là ba sự thất bại.

Có ba sự thành tựu. Ba sự nào? Thành tựu về giới, tâm, và kiến.

Và thế nào là thành tựu về giới? Đó là khi một người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là thành tựu về giới.

Và thế nào là thành tựu về tâm? Đó là khi một người biết đủ và có lòng từ. Đây gọi là thành tựu về tâm.

Và thế nào là thành tựu về kiến? Đó là khi một người có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn), một cái nhìn không lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Có ý nghĩa trong việc bố thí, cúng dường, và tế lễ. Có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Có đời sau. Có cha mẹ, và có các chúng sanh hóa sinh. Và có các vị Sa-môn và Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là thành tựu về kiến. Một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào thiện thú (good place / nơi tốt đẹp, cảnh giới lành), thiên giới (heavenly realm / cõi trời) vì thành tựu về giới, tâm, hoặc kiến.

Đó là ba sự thành tựu."

115.- Khiếm Khuyết Và Viên Mãn.

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba sự khiếm khuyết này. Thế nào là ba? Khiếm khuyết về giới, khiếm khuyết về tâm, khiếm khuyết về tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về giới?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khiếm khuyết về giới.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về tâm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tham lam, với tâm sân hận. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khiếm khuyết về tâm.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về tri kiến?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có tà kiến, có tri kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có cúng tế, không có quả dị thục trong các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, ở đời không có các hàng Sa-môn, Bà-lamôn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình với thắng trí, giác ngộ đời này, đời sau và truyền dạy lại”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khiếm khuyết về tri kiến.

4. Do nhân khiếm khuyết về giới, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do nhân khiếm khuyết về tâm, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do nhân khiếm khuyết về tri kiến, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba khiếm khuyết.

5. Này các Tỷ-kheo, có ba viên mãn này. Thế nào là ba? Viên mãn về giới, viên mãn về tâm, viên mãn về tri kiến.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về giới?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là viên mãn về giới.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về tâm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không tham lam, không có tâm sân hận. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là viên mãn về tâm.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về tri kiến?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có chánh kiến, không có tri kiến điên đảo: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có cúng tế, có quả dị thục trong các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, ở đời có các hàng Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình với thắng trí, giác ngộ đời này, đời sau và truyền dạy lại”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là viên mãn về tri kiến.

8. Do nhân viên mãn về giới, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này. Do nhân viên mãn về tâm, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này. Do nhân viên mãn về tri kiến, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba viên mãn.

AN 3.118 Con Súc Sắc Chắc Thắng Apaṇṇakasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba sự thất bại. Ba sự nào? Thất bại về giới, tâm, và kiến.

Và thế nào là thất bại về giới? Đó là khi một người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thất bại về giới’.

Và thế nào là thất bại về tâm? Đó là khi một người tham lam và sân độc. Đây gọi là ‘thất bại về tâm’.

Và thế nào là thất bại về kiến? Đó là khi một người có tà kiến, một cái nhìn lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc bố thí, cúng dường, hay tế lễ. Không có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Không có đời sau. Không có cha mẹ, không có các chúng sanh hóa sinh. Và không có các vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là ‘thất bại về kiến’. Một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, bị tái sinh vào đọa xứ, ác thú, địa ngục vì thất bại về giới, tâm, hoặc kiến. Giống như tung con súc sắc chắc thắng: nó luôn rơi đúng mặt ngửa. Cũng vậy, một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, bị tái sinh vào đọa xứ, ác thú, địa ngục vì thất bại về giới, tâm, hoặc kiến.

Đó là ba sự thất bại.

Có ba sự thành tựu. Ba sự nào? Thành tựu về giới, tâm, và kiến.

Và thế nào là thành tựu về giới? Đó là khi một người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là thành tựu về giới.

Và thế nào là thành tựu về tâm? Đó là khi một người biết đủ và có lòng từ. Đây gọi là thành tựu về tâm.

Và thế nào là thành tựu về kiến? Đó là khi một người có chánh kiến, một cái nhìn không lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Có ý nghĩa trong việc bố thí, cúng dường, và tế lễ. Có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Có đời sau. Có cha mẹ, và có các chúng sanh hóa sinh. Và có các vị Sa-môn và Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là thành tựu về kiến. Một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào thiện thú, thiên giới vì thành tựu về giới, tâm, hoặc kiến. Giống như tung con súc sắc chắc thắng: nó luôn rơi đúng mặt ngửa. Cũng vậy, một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào thiện thú, thiên giới vì thành tựu về giới, tâm, hoặc kiến.

Đó là ba sự thành tựu."

116.- Chính Xác.

1.- Này các Tỷ kheo, có ba khiếm khuyết này, thế nào là ba?

Khiếm khuyết về giới, khiếm khuyết về tâm, khiếm khuyết về tri kiến… (Giống như kinh 115, 1-4).

2.- Ví như naỳ các Tỷ Kheo, một hột súc sắc chính xác, nếu được liệng về mặt trên, được nằm về mặt ấy, được nằm khéo đặt. Cũng vậy, Này các Tỷ kheo, do nhân khiếm khuyết về giói các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục… Do nhân khiếm khuyết về tâm,…Do nhân khiếm khuyết về tri kiến… này các Tỷ-kheo, … sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục . Các pháp này, naỳ các Tỷ kheo, là ba khuyết điểm.

3.- Này các Tỷ-kheo, có ba viên mãn này. Thế nào là ba? Viên mãn về giới, viên mãn về tâm, viên mãn về tri kiến. … (Như kinh 115, 5-8).

4.- Ví như này các Tỷ Kheo, một hột súc sắc chính xác, nếu được liệng về mặt trên, được nằm về mặt ấy, được nằm khéo đặt. Cũng vậy, Này các Tỷ kheo, do nhân viên mãn về giơi… do nhân viên mãn về tâm … do nhân viên mãn về tri kiến, này các Tỷ kheo, các loại hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này. Các pháp này, này các Tỷ kheo, là ba viên mãn.

AN 3.119 Nghiệp Kammantasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba sự thất bại. Ba sự nào? Thất bại về nghiệp (action / hành động, tạo tác), thất bại về mạng (livelihood / cách sinh sống, nghề nghiệp), và thất bại về kiến.

Và thế nào là thất bại về nghiệp? Đó là khi một người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, hoặc nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thất bại về nghiệp’.

Và thế nào là thất bại về mạng? Đó là khi một thánh đệ tử có tà mạng (wrong livelihood / cách sinh sống sai trái) và kiếm sống bằng tà mạng. Đây gọi là ‘thất bại về mạng’.

Và thế nào là thất bại về kiến? Đó là khi một người có tà kiến, một cái nhìn lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc bố thí, cúng dường, hay tế lễ. Không có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Không có đời sau. Không có cha mẹ, không có các chúng sanh hóa sinh. Và không có các vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là ‘thất bại về kiến’. Đó là ba sự thất bại.

Có ba sự thành tựu. Ba sự nào? Thành tựu về nghiệp, mạng, và kiến.

Và thế nào là thành tựu về nghiệp? Đó là khi một người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thành tựu về nghiệp’.

Và thế nào là thành tựu về mạng? Đó là khi một thánh đệ tử có chánh mạng (right livelihood / cách sinh sống đúng đắn) và kiếm sống bằng chánh mạng. Đây gọi là ‘thành tựu về mạng’.

Và thế nào là thành tựu về kiến? Đó là khi một người có chánh kiến, một cái nhìn không lệch lạc, chẳng hạn như: ‘Có ý nghĩa trong việc bố thí, cúng dường, và tế lễ. Có quả báo của các nghiệp thiện và ác. Có đời sau. Có cha mẹ, và có các chúng sanh hóa sinh. Và có các vị Sa-môn và Bà-la-môn sống đúng đắn, thực hành đúng đắn, và những người mô tả đời sau sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.’ Đây gọi là ‘thành tựu về kiến’.

Đó là ba sự thành tựu."

117.- Hành Ðộng

1 - Này các Tỷ-kheo, có ba khiếm khuyết này. Thế nào là ba? Khiếm khuyết về hành động, khiếm khuyết về sanh kế, khiếm khuyết về tri kiến.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về hành động?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người sát sanh … (như 115.1)nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây là khiếm khuyết về hành động.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về sanh kế?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người theo tà sanh kế, nuôi sống bằng tà sanh kế. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khiếm khuyết về sanh kế.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khiếm khuyết về tri kiến? (như kinh 115.3).

4. Này các Tỷ-kheo, có ba viên mãn này. Thế nào là ba? Viên mãn về hành động, viên mãn về sanh kế, viên mãn về tri kiến.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về hành động? … (như kinh 115.5)

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về sanh kế?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người theo chánh sanh kế, nuôi sống bằng chánh sanh kế. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là viên mãn về sanh kế.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là viên mãn về tri kiến? … (như kinh 115.7)

Này các Tỷ-kheo, các pháp này là ba viên mãn.

AN 3.120 Thanh Tịnh (1) Paṭhamasoceyyasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba loại thanh tịnh (purity / sự trong sạch) này. Ba loại nào? Thanh tịnh về thân, thanh tịnh về lời nói, và thanh tịnh về ý.

Và thế nào là thanh tịnh về thân? Đó là khi một người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Đây gọi là ‘thanh tịnh về thân’.

Và thế nào là thanh tịnh về lời nói? Đó là khi một người không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thanh tịnh về lời nói’.

Và thế nào là thanh tịnh về ý? Đó là khi một người biết đủ, có lòng từ, và có chánh kiến. Đây gọi là ‘thanh tịnh về ý’.

Đó là ba loại thanh tịnh."

118.- Thanh Tịnh (1)

− Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này. Thế nào là ba? Thân thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý thanh tịnh.

Thế nào là thân thanh tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người từ bỏ sánh sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, này các Tỷ-kheo, đây gọi là thân thanh tịnh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lời nói thanh tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tục nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lời nói thanh tịnh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ý thanh tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có tham lam, với tâm không sân không hận, có chánh tri kiến. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý thanh tịnh.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba thanh tịnh.

AN 3.121 Thanh Tịnh (2) Dutiyasoceyyasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba loại thanh tịnh này. Ba loại nào? Thanh tịnh về thân, thanh tịnh về lời nói, và thanh tịnh về ý.

Và thế nào là thanh tịnh về thân? Đó là khi một vị Tỳ kheo không sát sinh, không trộm cắp, không hành dâm. Đây gọi là ‘thanh tịnh về thân’.

Và thế nào là thanh tịnh về lời nói? Đó là khi một vị Tỳ kheo không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là ‘thanh tịnh về lời nói’.

Và thế nào là thanh tịnh về ý?

Đó là khi một vị Tỳ kheo có dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc) trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta có dục tham trong ta.’ Khi không có dục tham trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta không có dục tham trong ta.’ Vị ấy hiểu rõ dục tham sinh khởi như thế nào; khi nó đã sinh khởi, nó được từ bỏ như thế nào; và khi nó đã được từ bỏ, nó sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai như thế nào.

Khi có sân hận (ill will / lòng căm ghét, ác ý) trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta có sân hận trong ta’; và khi không có sân hận trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta không có sân hận trong ta’. Vị ấy hiểu rõ sân hận sinh khởi như thế nào; khi nó đã sinh khởi, nó được từ bỏ như thế nào; và khi nó đã được từ bỏ, nó sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai như thế nào.

Khi có hôn trầm và thụy miên (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ) trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta có hôn trầm và thụy miên trong ta’; và khi không có hôn trầm và thụy miên trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta không có hôn trầm và thụy miên trong ta’. Vị ấy hiểu rõ hôn trầm và thụy miên sinh khởi như thế nào; khi chúng đã sinh khởi, chúng được từ bỏ như thế nào; và khi chúng đã được từ bỏ, chúng sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai như thế nào.

Khi có trạo cử và hối quá (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận) trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta có trạo cử và hối quá trong ta’; và khi không có trạo cử và hối quá trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta không có trạo cử và hối quá trong ta’. Vị ấy hiểu rõ trạo cử và hối quá sinh khởi như thế nào; khi chúng đã sinh khởi, chúng được từ bỏ như thế nào; và khi chúng đã được từ bỏ, chúng sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai như thế nào.

Khi có nghi (doubt / sự hoài nghi) trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta có nghi trong ta’; và khi không có nghi trong mình, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta không có nghi trong ta’. Vị ấy hiểu rõ nghi sinh khởi như thế nào; khi nó đã sinh khởi, nó được từ bỏ như thế nào; và khi nó đã được từ bỏ, nó sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai như thế nào.

Đây gọi là ‘thanh tịnh về ý’.

Đó là ba loại thanh tịnh.

Thân thanh tịnh, lời nói thanh tịnh,
Và tâm thanh tịnh không ô nhiễm.
Người thanh tịnh, đầy đủ sự thanh tịnh,
Đã gột sạch mọi điều xấu xa, họ nói vậy."\

119.- Thanh Tịnh (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này, Thế nào là ba? Thân thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý thanh tịnh.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thân thanh tịnh? (như kinh 118, về thân thanh tịnh).

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lời nói thanh tịnh? (như kinh 118, về lời nói thanh tịnh).

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ý thanh tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, nếu nội tâm có ước muốn về dục, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta có ước muốn về dục”. Nếu nội tâm không có ước muốn về dục, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta không có ước muốn về dục”. Ước muốn về dục chưa sanh khởi, được sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Ước muốn về dục đã sanh khởi, được đoạn trừ thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Và ước muốn về dục đã được đoạn trừ, tương lai không sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy.

5. Nếu nội tâm có sân, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta có sân”. Nếu nội tâm không có sân, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta không có sân”. Sân chưa sanh khởi, được sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Sân đã sanh khởi, được đoạn trừ thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Và sân đã được đoạn trừ, tương lai không sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy.

6. Nếu tâm có hôn trầm thụy miên, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta có hôn trầm thụy miên”. Nếu nội tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta không có hôn trầm thụy miên”. Hôn trầm thụy miên chưa sanh khởi, được sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Hôn trầm thụy miên đã sanh khởi, được đoạn trừ thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Và hôn trầm thụy miên đã được đoạn trừ, tương lai không sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy.

7. Nếu tâm có trạo hối, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta có trạo hối”. Nếu nội tâm không có trạo hối, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta không có trạo hối”. Trạo hối chưa sanh khởi, được sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Trạo hối đã sanh khởi, được đoạn trừ thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Và trạo hối đã được đoạn trừ, tương lai không sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy.

8. Nếu tâm có nghi, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta có nghi”. Nếu nội tâm không có nghi, vị ấy rõ biết: “Nội tâm ta không có nghi”. Nghi chưa sanh khởi, được sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Nghi đã sanh khởi, được đoạn trừ thế nào, vị ấy rõ biết như vậy. Và nghi đã được đoạn trừ, tương lai không sanh khởi thế nào, vị ấy rõ biết như vậy.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý thanh tịnh. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba thanh tịnh.

Thân và lời thanh tịnh Tâm thanh tịnh vô lậu Trong sạch được thanh tịnh Ðược gọi ác đoạn trừ.

AN 3.122 Mâu-ni Moneyyasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba loại mâu-ni (sagacity / sự thông thái, trí tuệ của bậc ẩn sĩ/thánh nhân) này. Ba loại nào? Mâu-ni về thân, mâu-ni về lời nói, và mâu-ni về ý.

Và thế nào là mâu-ni về thân? Đó là khi một vị Tỳ kheo không sát sinh, không trộm cắp, không hành dâm. Đây gọi là ‘mâu-ni về thân’.

Và thế nào là mâu-ni về lời nói? Đó là khi một vị Tỳ kheo không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, hoặc không nói lời vô ích. Đây gọi là ‘mâu-ni về lời nói’.

Và thế nào là mâu-ni về ý? Đó là khi một vị Tỳ kheo chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy an trú, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ do sự đoạn tận các lậu hoặc. Đây gọi là ‘mâu-ni về ý’. Đó là ba loại mâu-ni.

Bậc mâu-ni (sage / bậc ẩn sĩ/thánh nhân) về thân, bậc mâu-ni về lời nói,
Bậc mâu-ni về tâm không ô nhiễm;
Bậc mâu-ni, đầy đủ sự mâu-ni,
Đã từ bỏ tất cả, họ nói vậy."\

120.- Toàn Hảo.

− Này các Tỷ-kheo, có ba sự toàn hảo. Thế nào là ba? Toàn hảo về thân, toàn hảo về lời nói, toàn hảo về ý.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là toàn hảo về thân? … (như kinh 118).

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là toàn hảo về lời nói? … (như kinh 118).

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là toàn hảo về ý? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn trừ có lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý toàn hảo.

Này các Tỷ-kheo, các pháp này là ba toàn hảo.

Thân và lời toàn hảo, Tâm toàn hảo vô lậu, Toàn hảo, được toàn hảo Ðược gọi đoạn tất cả.