Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm tại Kusinārā

AN 3.123 Tại Kusinārā Kusinārasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Kusinārā, tại Rừng Dâng Cúng. Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

"Này các Tỳ kheo, có trường hợp một Tỳ kheo sống nương tựa vào một thị trấn hay làng mạc. Một gia chủ hay con của vị gia chủ đến và mời vị ấy dùng bữa vào ngày hôm sau. Vị Tỳ kheo nhận lời nếu muốn. Khi đêm đã qua, vào buổi sáng, vị ấy đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của vị gia chủ đó, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Vị gia chủ hay con của vị ấy tự tay phục vụ và làm cho vị ấy thỏa mãn với các món ăn ngon, cả tươi sống lẫn nấu chín.

Vị Tỳ kheo ấy nghĩ: ‘Thật tốt quá khi vị gia chủ này phục vụ mình với những món ăn ngon, cả tươi sống lẫn nấu chín.’ Rồi vị ấy nghĩ: ‘Mình thật mong vị gia chủ này cũng sẽ phục vụ mình với những món ăn ngon như vậy trong tương lai.’ Vị ấy ăn món ăn đó với tâm bị trói buộc, say đắm, dính mắc, không thấy sự nguy hại (drawbacks / tác hại, mối nguy), và không hiểu rõ sự xuất ly (escape / lối thoát, sự giải thoát khỏi). Vị ấy suy nghĩ về nó với những tư duy dục lạc (sensual thoughts / suy nghĩ về dục lạc), tư duy sân hận (malicious thoughts / suy nghĩ ác ý), hoặc tư duy não hại (cruel thoughts / suy nghĩ làm hại). Ta nói rằng, sự cúng dường cho một Tỳ kheo như vậy không có quả lớn. Tại sao vậy? Vì Tỳ kheo ấy sống phóng dật (negligent / lơ là, dễ duôi).

Lại nữa, này các Tỳ kheo, có trường hợp một Tỳ kheo sống nương tựa vào một thị trấn hay làng mạc. Một gia chủ hay con của vị gia chủ đến và mời vị ấy dùng bữa vào ngày hôm sau. Vị Tỳ kheo nhận lời nếu muốn. Khi đêm đã qua, vào buổi sáng, vị ấy đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của vị gia chủ đó, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Vị gia chủ hay con của vị ấy tự tay phục vụ và làm cho vị ấy thỏa mãn với các món ăn ngon, cả tươi sống lẫn nấu chín.

Vị ấy không hề nghĩ: ‘Thật tốt quá khi vị gia chủ hay con của vị ấy tự tay phục vụ và làm cho mình thỏa mãn với những món ăn ngon, cả tươi sống lẫn nấu chín.’ Vị ấy không nghĩ: ‘Mình thật mong vị gia chủ này cũng sẽ phục vụ mình với những món ăn ngon như vậy trong tương lai.’ Vị ấy ăn món vật thực khất thực đó với tâm không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, và hiểu rõ sự xuất ly. Vị ấy suy nghĩ về nó với những tư duy xuất ly (thoughts of renunciation / suy nghĩ về sự từ bỏ), tư duy vô sân (thoughts of good will / suy nghĩ không sân hận, tâm từ), hoặc tư duy bất hại (thoughts of harmlessness / suy nghĩ không làm hại, tâm bi). Ta nói rằng, sự cúng dường cho một Tỳ kheo như vậy có quả rất lớn. Tại sao vậy? Vì Tỳ kheo ấy sống không phóng dật (diligent / không lơ là, tinh cần)."

XIII. Phẩm Kusinàra

121. Tại Kusinàra

Một thời Thế Tôn trú ở Kusinàra, tại khóm rừng Bariharana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau: − Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Rồi người gia chủ hay con người gia chủ đi đến vị ấy mời mai lại dùng cơm. Nếu muốn, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhận lời. Sau khi đêm ấy đã mãn, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát và đi đến trú xứ người gia chủ hay con người gia chủ. Sau khi đến, vị ấy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi người gia chủ hay con người gia chủ tự tay đứng mời và làm cho thỏa mãn Tỷ-kheo ấy với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Vị ấy suy nghĩ: “Thật tốt lành thay, người gia chủ hay con người gia chủ này tự tay đứng mời và làm thỏa mãn ta với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm! “Rồi vị ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng người gia chủ hay con người gia chủ này trong tương lai, tự tay đứng mời và làm thỏa mãn ta với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm!”. Vị ấy thọ hưởng món ăn khất thực ấy, tham dính say đắm, đam trước, không thấy sự nguy hại, không thấy được sự xuất ly. Vị ấy ở đây khởi lên suy tầm về dục, khởi lên sự suy tầm về sân, khởi lên sự suy tầm về hại. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng bố thí cho Tỷ-kheo như vậy không có quả lớn. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống phóng dật.

Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Rồi một gia chủ hay con người gia chủ đi đến vị ấy mời mai lại dùng cơm. Nếu muốn, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhận lời. Sau khi đêm ấy đã mãn, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát và đi đến trú xứ người gia chủ hay con người gia chủ. Sau khi đến, vị ấy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi người gia chủ hay con người gia chủ tự tay đứng mời và làm cho thỏa mãn Tỷ-kheo ấy với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Vị ấy không có suy nghĩ: “Thật tốt lành thay, người gia chủ hay con người gia chủ này tự tay đứng mời và làm thỏa mãn ta với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm!”. Rồi vị ấy không suy nghĩ như sau: “Mong rằng người gia chủ hay con người gia chủ này trong tương lai, tự tay đứng mời và làm thỏa mãn ta với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm!”. Vị ấy thọ hưởng món ăn khất thực ấy, không tham dính, không say đắm, không đam trước, thấy được sự nguy hại, thấy được sự xuất ly. Vị ấy ở đây khởi lên suy tầm về viễn ly, khởi lên sự suy tầm về vô sân, khởi lên sự suy tầm về vô hại. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng bố thí cho Tỷ-kheo như vậy có quả lớn. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không sống phóng dật.

AN 3.124 Tranh Cãi Bhaṇḍanasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta thậm chí không thoải mái khi nghĩ đến một nơi mà các Tỳ kheo tranh cãi—cãi vã và tranh chấp, liên tục làm tổn thương nhau bằng lời nói như gai nhọn—huống nữa là đi đến đó. Ta đi đến kết luận về họ: ‘Rõ ràng các vị tôn giả ấy đã từ bỏ ba pháp và tu tập ba pháp.’ Ba pháp nào họ đã từ bỏ? Tư duy xuất ly, tư duy vô sân, và tư duy bất hại. Ba pháp nào họ đã tu tập? Tư duy dục lạc, tư duy sân hận, và tư duy não hại. … Ta đi đến kết luận về họ: ‘Rõ ràng các vị tôn giả ấy đã từ bỏ ba pháp và tu tập ba pháp.’

Ta cảm thấy thoải mái khi đi đến một nơi mà các Tỳ kheo sống hòa hợp—quý trọng lẫn nhau, không cãi vã, hòa hợp như sữa với nước, và nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái—huống nữa là nghĩ đến nơi đó. Ta đi đến kết luận về họ: ‘Rõ ràng các vị tôn giả ấy đã từ bỏ ba pháp và tu tập ba pháp.’ Ba pháp nào họ đã từ bỏ? Tư duy dục lạc, tư duy sân hận, và tư duy não hại. Ba pháp nào họ đã tu tập? Tư duy xuất ly, tư duy vô sân, và tư duy bất hại. … Ta đi đến kết luận về họ: ‘Rõ ràng các vị tôn giả ấy đã từ bỏ ba pháp và tu tập ba pháp.’"

122.- Tranh Luận

− Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp và đã làm quá nhiều ba pháp”.

Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Viễn ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ.

Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã làm quá nhiều.

Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.

Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.

Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ. Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Viễn ly vô tầm, vô sân tầm, bất hại tầm.

Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.

AN 3.125 Tháp Gotamaka Gotamakacetiyasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Tháp Cây Gotamaka. Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

“Này các Tỳ kheo, Ta giảng dạy dựa trên thắng trí (direct knowledge / trí tuệ trực tiếp, sự biết rõ), không phải không có thắng trí. Ta giảng dạy có lý do (reasons / nguyên nhân, cơ sở), không phải không có lý do. Ta giảng dạy có cơ sở chứng minh (demonstrable basis / nền tảng có thể chứng minh), không phải không có cơ sở chứng minh. Vì là như vậy, các ngươi nên theo lời khuyên và sự chỉ dạy của Ta. Điều này đủ để các ngươi cảm thấy hoan hỷ, vui mừng và hạnh phúc: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / vị Phật giác ngộ hoàn toàn)! Pháp (teaching / giáo pháp) đã được khéo giảng! Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ) đang thực hành tốt đẹp!’”

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Các Tỳ kheo hài lòng, tán thán lời Thế Tôn dạy. Và trong khi bài pháp này đang được nói lên, thiên hà nghìn thế giới rung chuyển.

123.- Ðiện Thờ Gotama

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại điện thờ Gotama. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thắng trí, không phải với không thắng trí. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với nhân duyên, không phải với không nhân duyên. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thần thông, không phải với không thần thông. Này các Tỷ-kheo, do vì Ta thuyết pháp có thắng trí, không phải với không thắng trí; do vì Ta thuyết pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên; do vì Ta thuyết pháp có thần thông, không phải không có thần thông, nên giáo giới cần phải làm, giảng dạy cần phải làm.

Thật là vừa đủ, này các Tỷ-kheo, để các Thầy bằng lòng. Thật là vừa đủ để các Thầy hân hoan. Thật là vừa đủ để các Thầy hoan hỷ, Chánh Ðẳng Giác là Thế Tôn! Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, khéo hành trì, chúng Tăng!

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ lời Thế Tôn giảng. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, một ngàn thế giới đều rung động.

AN 3.126 Bharaṇḍu Kālāma Bharaṇḍukālāmasutta

Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala thì đến Kapilavatthu.

Mahānāma thuộc dòng họ Thích Ca nghe tin Ngài đã đến. Ông đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và đứng sang một bên. Thế Tôn nói với ông: “Này Mahānāma, hãy vào Kapilavatthu và xem có chỗ nào phù hợp để Ta nghỉ qua đêm không.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Mahānāma đáp. Ông trở lại Kapilavatthu và tìm kiếm khắp thành phố, nhưng không tìm thấy chỗ nào phù hợp để Thế Tôn nghỉ qua đêm.

Rồi Mahānāma đi đến chỗ Thế Tôn và nói: “Bạch Thế Tôn, không có chỗ nào phù hợp ở Kapilavatthu để Ngài nghỉ qua đêm. Nhưng có vị Bharaṇḍu người Kālāma này, trước đây từng là bạn đồng tu (spiritual companion / bạn cùng tu tập) của Thế Tôn. Sao Ngài không nghỉ đêm tại am thất của ông ấy?”

“Này Mahānāma, hãy đi và trải tọa cụ.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Mahānāma đáp. Ông đi đến am thất của Bharaṇḍu, trải tọa cụ và chuẩn bị sẵn nước rửa chân. Rồi ông quay lại chỗ Thế Tôn và nói: “Tọa cụ và nước rửa chân đã sẵn sàng. Xin mời Thế Tôn tùy nghi.”

Sau đó, Thế Tôn đi đến am thất của Bharaṇḍu, ngồi xuống chỗ đã trải sẵn và rửa chân.

Lúc ấy, Mahānāma nghĩ: “Hôm nay đã quá muộn để đảnh lễ Thế Tôn. Ngài đang mệt. Ngày mai mình sẽ đảnh lễ Thế Tôn.” Ông đảnh lễ Thế Tôn và đi quanh Ngài theo chiều bên phải một cách kính trọng, rồi rời đi.

Rồi, khi đêm đã qua, Mahānāma thuộc dòng họ Thích Ca đi đến chỗ Thế Tôn và ngồi sang một bên. Thế Tôn nói với ông:

“Này Mahānāma, có ba hạng đạo sư này được tìm thấy trên đời. Ba hạng nào? Một hạng đạo sư chủ trương sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), nhưng không phải về sắc (forms / hình thể, vật chất) hay thọ (feelings / cảm giác, cảm xúc). Một hạng đạo sư chủ trương sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc và sắc, nhưng không phải về thọ. Một hạng đạo sư chủ trương sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc, sắc, và thọ. Đó là ba hạng đạo sư được tìm thấy trên đời. Ba hạng đạo sư này có cùng mục đích hay khác mục đích?”

Khi Thế Tôn nói vậy, Bharaṇḍu nói với Mahānāma: “Hãy nói là giống nhau, này Mahānāma!”

Thế Tôn nói: “Hãy nói là khác nhau, này Mahānāma!”

Lần thứ hai, Bharaṇḍu nói: “Hãy nói là giống nhau, này Mahānāma!”

Thế Tôn nói: “Hãy nói là khác nhau, này Mahānāma!”

Lần thứ ba, Bharaṇḍu nói: “Hãy nói là giống nhau, này Mahānāma!”

Thế Tôn nói: “Hãy nói là khác nhau, này Mahānāma!”

Lúc ấy, Bharaṇḍu nghĩ: “Thế Tôn đã khiển trách ta ba lần trước mặt vị Mahānāma danh tiếng này. Sao ta không rời khỏi Kapilavatthu?” Rồi Bharaṇḍu người Kālāma rời khỏi Kapilavatthu, không bao giờ trở lại.

124. Bharandu

1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala và đi đến Kapilavatthu. Họ Thích Mahànàma nghe tin Thế Tôn đã đến Kapilavatthu. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma đang đứng một bên:

− Hãy đi, này Mahànàma và tìm xem ở Kapilavatthu có chỗ nào, tại chỗ ấy, hôm nay chúng ta sẽ trú lại một đêm.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Họ Thích Mahànàma vâng đáp Thế Tôn, đi vào Kapilavatthu, đi khắp toàn vùng Kapilavatthu và không thấy một chỗ nào, Thế Tôn có thể trú một đêm. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, ở Kapilavatthu không có chỗ nào, tại đây, hôm nay Thế Tôn có thể trú một đêm. Nhưng có Bharandu, người Kàlàmà này, trước tu Phạm hạnh với Thế Tôn. Hôm nay, Thế Tôn hãy ở một đêm tại am thất của vị ấy. − Này Mahànàma, hãy đi và trải một tấm thảm cho ta ở đó.

− Thua vâng, bạch Thế Tôn.

Họ Thích Mahànàma vâng đáp Thế Tôn, đi đến am thất của Bharandu người Kàlàmà, sau khi đến, trải tấm thảm, đặt nước để rửa chân, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, tấm thảm đã trải, nước để rửa chân đã sẵn sàng, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời!

3. Rồi Thế Tôn đi đến am thất của Bharandu người Kàlàmà, sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân.

Rồi họ Thích Mahànàma nghĩ như sau: “Nay không phải thời để hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn đang mệt mỏi. Ngày mai ta sẽ đến hầu hạ Thế Tôn”. Nghĩ vậy xong bèn đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về ngài rồi đi ra.

Họ Thích Mahànàma, sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma đang ngồi một bên:

4. - Này Mahànàma, có ba vị đạo sư có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?

Ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, nhưng không trình bày sự biến tri của các sắc, không trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, trình bày sự biến tri của các sắc, nhưng không trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Nhưng ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, trình bày sự biến tri của các sắc, trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Này Mahànàma, có ba vị đạo sư này có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba vị này, này Mahànàma, kết luận là một hay là sai khác?

5. Khi được nói như vậy, Bharandu, người Kàlàmà, nói với họ Thích Mahànàma:

− Này Mahànàma, hãy nói là một.

Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma:

− Này Mahànàma, hãy nói là khác.

Lần thứ hai, Brahandu, người Kàlàmà nói với họ Thích Mahànàma:

− Này Mahànàma, hãy nói là một.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma:

− Này Mahànàma, hãy nói là khác.

Lần thứ ba Brahandu, người Kàlàmà nói với họ Thích Mahànàma:

− Này Mahànàma, hãy nói là một.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma: − Này Mahànàma, hãy nói là khác.

6. Rồi Bharandu, người Kàlàmà suy nghĩ như sau: “Trước mặt họ Thích Mahànàma có thế lực lớn này, ta bị Sa-môn Gotama nói trái ngược cho đến lần thứ ba. Vậy ta hãy rời khỏi Kapilavatthu”.

Rồi Bharandu người Kàlàmà đi ra khỏi Kapilavatthu, một sự ra đi khỏi Kapilavatthu, không bao giờ có trở lại nữa.

AN 3.127 Với Hatthaka Hatthakasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, Tu viện của Anāthapiṇḍika.

Rồi, vào lúc đêm khuya, thiên tử Hatthaka quang minh, chiếu sáng toàn bộ Rừng Jeta, đi đến chỗ Thế Tôn. Nghĩ rằng: “Ta sẽ đứng trước mặt Thế Tôn,” vị ấy lại bị chìm xuống, tan chảy và không thể đứng yên. Giống như khi bơ lỏng hoặc dầu đổ trên cát, nó chìm xuống, tan chảy và không thể đứng vững.

Rồi Thế Tôn nói với Hatthaka: “Này Hatthaka, hãy hiện một hình tướng vững chắc.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Hatthaka đáp. Vị ấy hiện một hình tướng vững chắc, đảnh lễ Thế Tôn và đứng sang một bên.

Thế Tôn nói với vị ấy: “Này Hatthaka, Ta tự hỏi liệu bây giờ ngươi có còn công bố những giáo pháp mà ngươi đã công bố khi còn là người không?”

"Con vẫn công bố những giáo pháp mà con đã công bố khi còn là người. Và con cũng công bố những giáo pháp mà con chưa từng công bố khi còn là người.

Cũng như Thế Tôn ngày nay sống giữa đám đông các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ; giữa các vua chúa và các vị đại thần, các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ, con cũng sống giữa đám đông các vị trời. Các vị trời từ xa đến, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ nghe pháp trước sự hiện diện của Hatthaka.’

Bạch Thế Tôn, con đã qua đời mà chưa thỏa mãn ba điều. Ba điều nào? Được thấy Thế Tôn; được nghe Chánh pháp; và được phục vụ Tăng đoàn. Con đã qua đời mà chưa thỏa mãn ba điều này.

Con chưa bao giờ thỏa mãn
Việc được thấy Thế Tôn,
Phục vụ Tăng đoàn,
Hay nghe Chánh pháp.\

Rèn luyện giới cao thượng,
Thích nghe Chánh pháp chân thật,
Hatthaka đã đến cõi Aviha
Mà chưa thỏa mãn ba điều này.

125.- Hatthaka

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetanava, khu vườn của Anàthapindika.

Rồi Thiên tử Hatthaka, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetanava đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ đứng thẳng trước Thế Tôn”, nhưng vị ấy chìm xuống, lún xuống, không có thể đứng thẳng; ví như thục tô hay dầu đổ trên cát, chìm xuống, lún xuống, không thể giữ lại. Cũng vậy, Thiên tử Hatthaka nghĩ rằng: “Ta sẽ đứng thẳng trước mặt Thế Tôn”, nhưng vị ấy chìm xuống, lún xuống, không thể đứng thẳng.

2. Rồi Thế Tôn nói với Thiên tử Hatthaka:

− Này Hatthaka, hãy hóa thành một tự thể thô xấu.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thiên tử Hatthaka vâng đáp Thế Tôn sau khi hóa thành một tự thể thô xấu, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Hatthaka đang đứng một bên:

− Này Hatthaka, các pháp được diễn tiến trước kia, khi Ông còn làm người, các pháp ấy được diễn tiến hiện nay đối với Ông không?

− Bạch Thế Tôn, các pháp được diễn tiến trước kia, khi con còn làm người, các pháp ấy có được diễn tiến hiện nay với con. Và bạch Thế Tôn, có các pháp không được diễn tiến trước kia, khi con còn làm người, các pháp ấy có được diễn tiến hiện nay đối với con. Ví như, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sống, được các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, các vua chúa, các đại thần của vua, các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo đoanh vây. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con sống được các Thiên tử đoanh vây. Từ xa, bạch Thế Tôn, các Thiên tử đi đến, nghĩ rằng: “Chúng ta hãy đến nghe pháp từ Thiên tử Hatthaka”.

Có ba pháp, bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Thế nào là ba?

Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được thấy Thế Tôn, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được nghe Diệu pháp, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ được phục vụ hầu hạ chúng Tăng, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Có ba pháp này, bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ. Con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Con thấy không vừa đủ
Khi được gặp Thế Tôn
Ðược phục vụ chúng Tăng
Ðược lắng nghe Diệu pháp
Học tập tăng thượng giới
Thích thú nghe Diệu pháp
Do đối với ba pháp
Cảm thấy không vừa đủ
Thiên tử Hatthaka
Ðược sanh vô phiền thiên

AN 3.128 Đắng Cay Kaṭuviyasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Varanasi, tại Vườn Nai ở Isipatana.

Rồi Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Varanasi để khất thực. Khi Thế Tôn đang đi khất thực gần nơi buộc bò ở cây đa lá sóng, Ngài thấy một vị Tỳ kheo bất mãn đang tìm kiếm lạc thú ở các đối tượng bên ngoài, thất niệm (unmindful / thiếu chánh niệm), không có tỉnh giác (situational awareness / sự biết rõ hoàn cảnh) hay định (immersion / sự tập trung, thiền định), với tâm lang thang và không thu thúc các căn (undisciplined faculties / các giác quan không được kiểm soát).

Thế Tôn nói với vị ấy: “Này Tỳ kheo, đừng để mình trở nên đắng cay. Nếu ngươi đắng cay, mưng mủ với sự thối rữa, thì ruồi nhặng chắc chắn sẽ quấy nhiễu và xâm nhập ngươi.”

Nghe lời khuyên này của Thế Tôn, vị Tỳ kheo ấy cảm thấy sự xúc động (sense of urgency / cảm giác thôi thúc tu tập). Rồi, sau bữa ăn, khi trở về từ khất thực, Thế Tôn kể lại cho các Tỳ kheo những gì đã xảy ra. …

Khi Ngài nói vậy, một trong các Tỳ kheo hỏi Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, ‘đắng cay’ là gì? ‘Thối rữa’ là gì? Và ‘ruồi nhặng’ là gì?”

"Tham ái (desire / sự khao khát, ham muốn) là đắng cay; sân hận (ill will / tâm trạng tức giận, ác ý) là sự thối rữa; và những tư duy bất thiện (bad, unskillful thoughts / suy nghĩ xấu, không thiện xảo) là ruồi nhặng. Nếu ngươi đắng cay, mưng mủ với sự thối rữa, thì ruồi nhặng chắc chắn sẽ quấy nhiễu và xâm nhập ngươi.

Khi mắt tai không phòng hộ,
Không chế ngự các căn,
Ruồi nhặng—những tư duy tham dục—
Sẽ quấy nhiễu ngươi.\

Một Tỳ kheo đắng cay,
Mưng mủ với thối rữa,
Xa rời Niết bàn (extinguished / sự dập tắt phiền não, giải thoát),
Khổ đau là phận của họ.\

Dù ở làng hay rừng vắng,
Nếu không tự tìm thấy an tịnh (peace / sự bình an, tĩnh lặng) trong mình,
Kẻ ngu si, khờ dại,
Chỉ được ruồi nhặng tôn vinh.\

Nhưng những người có giới hạnh,
Yêu thích tuệ (wisdom / trí tuệ) và an tịnh,
Họ, được an tịnh, ngủ yên,
Vì đã loại bỏ ruồi nhặng.

126.- Thối Nát.

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana vườn Nai

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Thế Tôn, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, gần cây sung, chỗ cột đàn bò, thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với vị Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.

2. Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới như vậy, cảm thấy xúc động mạnh. Rồi Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Ba-la-nại xong, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, ở đâ y, sau khi đắp y vào buổi sáng, Ta cầm lấy y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Này các Tỷ-kheo, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, Ta thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Ta liền nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra””.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được ta giáo giới với lời giáo giới này, cảm thấy xúc động mạnh.

3. Khi nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thối nát cái gì, mùi hôi thối cái gì, các loài rồi lằng là gì?

− Tham cầu, này các Tỷ-kheo, là thối nát; sân là mùi hôi thối, các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng. Này các Tỷ-kheo, ai làm cho các tự ngã thối nát, đầy ứ, thoát ra mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không chiếm cứ”, sự kiện như vậy không xảy ra.

Tai mắt không giữ gìn
Các căn không phòng hộ
Ruồi lằng sẽ bu đậu
Các tư duy tham ái
Tỷ-kheo làm thối nát
Ðầy ứ những mùi hôi
Xa thay là Niết-bàn!
Chịu phần về bất hạnh
Tại làng hay trong rừng
Tự ngã không an tịnh
Kẻ ngu và không trí
Ði đứng đầy ruồi lằng
Ai đầy đủ giới luật
Thích tịch tịnh trí tuệ
Sống an tịnh hạnh phúc
Mọi ruồi lằng diệt trừ

AN 3.129 Với Anuruddha (1) Paṭhamaanuruddhasutta

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi sang một bên và bạch rằng:

“Thưa Thế Tôn, đôi khi, với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy siêu phàm) thanh tịnh và siêu nhân (purified and superhuman / trong sạch và vượt người thường) của con, con thấy rằng những người nữ—khi thân hoại mạng chung—đa phần tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (place of loss, a bad place, the underworld, hell / nơi khổ đau, cảnh giới xấu, nơi đoạ đày, địa ngục). Do có bao nhiêu pháp mà người nữ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?”

“Này Anuruddha, khi người nữ có ba pháp, khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ba pháp nào? Một người nữ sống ở nhà với tâm đầy vết nhơ san tham (stinginess / sự keo kiệt, bỏn xẻn) vào buổi sáng, đố kỵ (jealousy / sự ganh tị) vào buổi trưa, và dục ái (sexual desire / ham muốn tình dục) vào buổi tối. Khi người nữ có ba pháp này, khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

127. Anuruddha (1)

1. Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy phần lớn các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đầy đủ với bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

2. - Do đầy đủ ba pháp, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?

Ở đây, này Anuruddha, nữ nhân vào buổi sáng sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của xan lẫn; vào buổi trưa sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của tật đố; vào buổi chiều sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh cấu uế của dục tham. Do đầy đủ với ba pháp này, này Anuruddha các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

AN 3.130 Với Anuruddha (2) Dutiyaanuruddhasutta

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta, chào hỏi và trao đổi những lời thăm hỏi thân tình. Sau khi chào hỏi xong, ông ngồi sang một bên và nói:

“Thưa Tôn giả Sāriputta, có việc này. Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu nhân, con quán sát thiên hà nghìn thế giới. Tinh tấn (energy / sự nỗ lực, siêng năng) của con được khơi dậy và không mệt mỏi, niệm (mindfulness / sự chú tâm, tỉnh giác) của con được thiết lập và sáng suốt, thân con khinh an (tranquil / nhẹ nhàng, an tĩnh) và không dao động, và tâm con định tĩnh (immersed in samādhi / tâm nhập định). Nhưng tâm con vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc (defilements / phiền não, những thứ làm ô nhiễm tâm) do không chấp thủ (not grasping / không bám víu).”

“Này Tôn giả Anuruddha, khi ngài nói: ‘Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu nhân, con quán sát thiên hà nghìn thế giới,’ đó là mạn (conceit / sự kiêu ngạo, tự mãn) của ngài. Và khi ngài nói: ‘Tinh tấn của con được khơi dậy và không mệt mỏi, niệm của con được thiết lập và sáng suốt, thân con khinh an và không dao động, và tâm con định tĩnh,’ đó là trạo cử (restlessness / sự bồn chồn, dao động tâm) của ngài. Và khi ngài nói: ‘Nhưng tâm con vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc do không chấp thủ,’ đó là hối quá (remorse / sự hối hận, ăn năn) của ngài. Thiện thay, ngài nên từ bỏ ba pháp này. Hãy lờ chúng đi và hướng tâm đến bất tử (freedom from death / trạng thái không chết, Niết bàn).”

Sau một thời gian, Anuruddha từ bỏ ba pháp này. Lờ chúng đi, ông hướng tâm đến bất tử. Rồi Anuruddha, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết đoán, không lâu sau đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ông sống, đã thành tựu bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống thế tục.

Ông hiểu rõ: “Sanh đã tận; phạm hạnh đã thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Anuruddha trở thành một trong các vị A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện, đạt giác ngộ).

128.- Anuruddha (2)

1. Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuruddha nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Tôn giả Sàriputta, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên, tôi có thể nhìn một ngàn thế giới. Phấn chấn là tinh tấn của tôi; không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm; tâm được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh nhất tâm. Tuy vậy, tâm của tôi chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có không chấp thủ.

2. Này Hiền giả Anuruddha, Hiền giả suy nghĩ như sau: “Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhânn, tôi có thể nhìn một ngàn thế giới”. Ðây là kiêu mạn của Hiền giả. Này Hiền giả Anuruddha, nếu Hiền giả suy nghĩ như sau: “Phấn chấn là tinh tấn của tôi; không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm; tâm được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh nhất tâm”, đây là trạo cử của Hiền giả. Này Hiền giả Anuruddha, Hiền giả suy nghĩ như sau: “Tuy vậy, tâm của tôi chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có không chấp thủ”; đây là hối quá của Hiền giả. Lành thay, nếu Tôn giả Anuruddha đoạn trừ ba pháp này, không tác ý ba pháp này, hãy chú tâm vào giới bất tử.

3. Rồi Tôn giả Anuruddha, sau môt thời gian, sau khi đoạn trừ ba pháp này, sau khi không tác ý ba pháp này, chú tâm vào giới bất tử. Rồi Tôn giả Anuruddha sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà một thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, sau khi chứng ngộ, chứng đạt, vị ấy an trú. Vị ấy chứng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Tôn giả Anuruddha trở thành một vị A-lahán nữa.

AN 3.131 Che Đậy Paṭicchannasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba điều được thực hiện một cách che đậy, không công khai. Ba điều nào? Phụ nữ kết hôn có che mạng, không để lộ mặt. Các bài tụng của Bà-la-môn được truyền dạy một cách che đậy, không công khai. Tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm) được truyền bá một cách che đậy, không công khai. Ba điều này được thực hiện một cách che đậy, không công khai.

Có ba điều tỏa sáng một cách công khai, không che đậy. Ba điều nào? Mặt trăng tỏa sáng công khai, không che đậy. Mặt trời tỏa sáng công khai, không che đậy. Giáo pháp và giới luật do Như Lai (Realized One / người đã đến như vậy, danh hiệu Phật) tuyên thuyết tỏa sáng công khai, không che đậy. Ba điều này tỏa sáng một cách công khai, không che đậy."

129.- Che Giấu

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này được che giấu khi thực hành, không có hiển lộ. Thế nào là ba?

Sở hành của nữ nhân, này các Tỷ-kheo, được che dấu khi thực hành, không có hiển lộ. Chú thuật của Bà-la-môn, này các Tỷ-kheo, được che dấu khi thực hành, không có hiển lộ. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, được che dấu khi thực hành, không có hiển lộ. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được che giấu khi thực hành, không có hiển lộ.

2. Này các Tỷ-kheo, ba pháp này chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu. Vành tròn của mặt trăng, này các Tỷ-kheo, chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu. Vành tròn của mặt trời, này các Tỷ-kheo, chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu. Pháp và Luật được Thế Tôn tuyên thuyết, này các Tỷ-kheo, chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu. Ba pháp này chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu.

AN 3.132 Những Vết Khắc Lekhasutta

"Này các Tỳ kheo, có ba hạng người này được tìm thấy trên đời. Ba hạng nào? Người như vết khắc trên đá, người như vết vẽ trên cát, và người như vết vẽ trên nước.

Và ai là người như vết khắc trên đá? Đó là người thường hay tức giận, và cơn giận của họ tồn tại rất lâu. Giống như vết khắc trên đá, không dễ bị gió và nước làm mòn đi, mà tồn tại rất lâu. Cũng vậy, một người thường hay tức giận, và cơn giận của họ tồn tại rất lâu. Đây gọi là người như vết khắc trên đá.

Và ai là người như vết vẽ trên cát? Đó là người thường hay tức giận, nhưng cơn giận của họ không tồn tại lâu. Giống như vết vẽ trên cát, nhanh chóng bị gió và nước làm mòn đi, và không tồn tại lâu. Cũng vậy, một người thường hay tức giận, nhưng cơn giận của họ không tồn tại lâu. Đây gọi là người như vết vẽ trên cát.

Và ai là người như vết vẽ trên nước? Đó là người, dù bị ai đó nói lời thô lỗ, khắc nghiệt và khó chịu, vẫn giữ liên lạc, giao tiếp và chào hỏi họ. Giống như vết vẽ trên nước, biến mất ngay lập tức, và không tồn tại lâu. Cũng vậy, một người, dù bị ai đó nói lời thô lỗ, khắc nghiệt và khó chịu, vẫn giữ liên lạc, giao tiếp và chào hỏi họ. Đây gọi là người như vết vẽ trên nước.

Đó là ba hạng người được tìm thấy trên đời."

130.- Chữ Viết Trên Ðá, Trên Ðất, Trên Nước.

1. - Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người như chữ viết trên đá, hạng người như chữ viết trên đất, hạng người như chữ viết trên nước.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đá?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Này các Tỷ-kheo, ví như chữ viết trên đá không bị gió hay nước tẩy xóa mau chóng, được tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên đá.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đất?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không tiếp tục lâu dài. Này các Tỷ-kheo, ví như chữ viết trên đất bị gió hay nước tẩy xóa mau chóng, không có tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không có tiếp tục lâu dài. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên đất.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên nước?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, ví như chữ viết trên nước được mau chóng biến mất, không có tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên nước.

Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời