Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Tại Làng Beluva

AN 4.1 Giác Ngộ Anubuddhasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajjī, tại làng Beluva. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

“Này các Tỷ-kheo, chính do không giác ngộ, không thông hiểu bốn pháp mà Ta và các ông đã lâu đời lưu chuyển luân hồi trong vòng sinh tử. Thế nào là bốn? Thánh giới (Noble ethics / Giới đức cao thượng), thánh định (noble immersion / sự tập trung tâm ý cao thượng), thánh tuệ (noble wisdom / trí tuệ cao thượng), và thánh giải thoát (noble freedom / sự giải thoát cao thượng). Này các Tỷ-kheo, chính thánh giới, thánh định, thánh tuệ, và thánh giải thoát này đã được giác ngộ, thông hiểu. Ái hữu (Craving for continued existence / lòng khao khát tái sinh) đã được đoạn tận, dây dẫn đến tái sinh đã hết, nay không còn đời sống nào nữa.”

Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Giới, định cùng với tuệ,
Và giải thoát vô thượng:
Các pháp này được chứng ngộ
Bởi đức Gotama lừng danh.\

Do vậy, đức Phật, bậc có tuệ giác,
Đã giảng dạy pháp này cho các Tỷ-kheo.
Bậc Đạo Sư đã chấm dứt khổ đau,
Bậc Chánh Đẳng Giác đã tịch diệt."

I. Phẩm Bhandagana

(I) (1) Giác Ngộ

Như vậy, tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajji, tại làng Bhanda. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

2.- Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập bốn pháp, như vậy phải chạy dài, luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy! Thế nào là bốn?

3. Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới, như vậy phải chạy dài, phải luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy. Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, không thể nhập Thánh định, … Thánh tuệ, … Thánh giải thoát, như vậy phải chạy dài, phải luân chuyển trong một thời gian dài, đối với Ta và đối với các Thầy.

4. Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh giới này được giác ngộ, được thể nhập; Thánh tuệ được giác ngộ, được thể nhập; Thánh định được giác ngộ, được thể nhập; Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập; hữu ái được chặt đứt, dây cột của hữu được đoạn tận, nay không còn tái sanh.

5.-Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ sau khi nói vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:

Giới, Thiền định, Trí tuệ
Với giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng
Giác ngộ những pháp này
Ðức Phật thắng tri chúng
Thuyết pháp cho Tỷ-kheo
Ðạo sư đoạn tận khổ
Bậc Tuệ nhãn tịch tịnh.

AN 4.2 Sa Ngã Papatitasutta

"Người không có bốn pháp được gọi là ‘đã rơi khỏi Pháp và Luật này’. Thế nào là bốn? Thánh giới, thánh định, thánh tuệ, và thánh giải thoát. Người không có bốn pháp này được gọi là ‘đã rơi khỏi Pháp và Luật này’.

Người có bốn pháp được gọi là ‘an trú trong Pháp và Luật này’. Thế nào là bốn? Thánh giới, thánh định, thánh tuệ, và thánh giải thoát. Người có bốn pháp này được gọi là ‘an trú trong Pháp và Luật này’.

Họ rơi, sụp đổ và sa ngã;
Tham lam, họ quay trở lại.
Công việc đã hoàn thành, niềm vui được hưởng thụ,
Hạnh phúc được tìm thấy qua hạnh phúc."

(II) (2) Rời Khỏi

1.- Người không thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này. Thế nào là bốn?

Không thành tựu Thánh giới, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này. Không thành tựu Thánh Thiền định, này các Tỷ-kheo, … không thành tựu Thánh Trí tuệ, này các Tỷ-kheo … không thành tựu Thánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này.

Không thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bị rời khỏi pháp luật này.

2. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này. Thế nào là bốn?

3. Thành tựu Thánh giới, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này. Thành tựu Thánh định, này các Tỷ-kheo, … thành tựu Thánh Trí tuệ, này các Tỷ-kheo … thành tựu Thánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là không rời khỏi pháp luật này.

Sau khi chết họ rơi
Bị rơi họ tham ái
Do vậy họ trở lại
Một lần nữa tái sanh
Ðã làm việc phải làm
Ðã thích việc đáng thích
Người ấy được an lạc
Do an lạc đưa đến

AN 4.3 Tan Vỡ (1) Paṭhamakhatasutta

"Khi một người ngu si, bất tài, không chân thật có bốn phẩm chất, họ tự làm cho mình tan vỡ và tổn hại. Họ đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều điều ác. Thế nào là bốn? Không xem xét, không thẩm tra, họ tán dương người đáng bị chỉ trích, và họ chỉ trích người đáng được tán dương. Họ khơi dậy lòng tin vào những điều đáng ngờ, và họ không khơi dậy lòng tin vào những điều đáng tin. Khi một người ngu si, bất tài, không chân thật có bốn phẩm chất này, họ tự làm cho mình tan vỡ và tổn hại. Họ đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều điều ác.

Khi một người sáng suốt, có tài, chân thật có bốn phẩm chất, họ giữ cho mình nguyên vẹn và không bị tổn thương. Họ không đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều công đức. Thế nào là bốn? Sau khi xem xét và thẩm tra, họ chỉ trích người đáng bị chỉ trích, và họ tán dương người đáng được tán dương. Họ không khơi dậy lòng tin vào những điều đáng ngờ, và họ khơi dậy lòng tin vào những điều đáng tin. Khi một người sáng suốt, có tài, chân thật có bốn phẩm chất này, họ giữ cho mình nguyên vẹn và không bị tổn thương. Họ không đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều công đức.

Khi bạn tán dương người đáng bị chỉ trích,
Hay chỉ trích người đáng được tán dương,
Bạn tự chọn lấy vận rủi bằng miệng mình:
Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.\

Vận rủi khi chơi xúc xắc là chuyện nhỏ,
Nếu tất cả những gì bạn mất là tiền bạc
Và mọi thứ bạn sở hữu, ngay cả chính bạn.
Vận rủi thực sự khủng khiếp
Là căm ghét các bậc thánh.\

Trong hơn hai nghìn tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ năm,
Và thêm năm trăm triệu tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ năm,
Kẻ phỉ báng các bậc thánh sẽ xuống địa ngục,
Vì đã hướng lời nói và ý nghĩ xấu xa đến họ."

(III) (3) Mất Gốc (1)

− Tán thán, không tán thán, tín nhiệm, không tín nhiệm.

1. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là bốn?

Không có suy xét, không có cứu xét, tán thán người không đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, không tán thán người đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ không đáng tín nhiệm; Không có suy xét, không có cứu xét, bất tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.

2. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là bốn?

Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, không tán thán những người không đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tán thán những người đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ đáng tín nhiệm; sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều phước đức.

Ai khen người đáng chê
Ai chê người đáng khen
Kẻ ấy với miệng lưỡi
Chứa chấp điều bất hạnh
Do vì bất hạnh ấy
Không tìm được an lạc
Nhỏ nhen không đáng kể
Là loại bất hạnh này
Bất hạnh do cờ bạc
Phá hoại các tài sản
Lớn hơn, lớn hơn nhiều
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người
Và cả với riêng mình
Những ai với ác ý
Ðối với bậc Thiện thệ
Trải qua một trămngàn
Thời Nirabbudà
Và cộng ba mươi sáu
Với năm Abbudà
Bị sanh vào địa ngục
Trong suốt thời gian ấy
Nếu mắng nhiếc bậc Thánh
Với lời, ý, nguyện ác.

AN 4.4 Tan Vỡ (2) Dutiyakhatasutta

"Khi một người ngu si, bất tài, không chân thật hành xử sai trái với bốn hạng người, họ tự làm cho mình tan vỡ và tổn hại. Họ đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều điều ác. Thế nào là bốn? Mẹ… cha… một bậc Như Lai (Realized One / người đã giác ngộ hoàn toàn)… và một đệ tử của bậc Như Lai. Khi một người ngu si, bất tài, không chân thật hành xử sai trái với bốn hạng người này, họ tự làm cho mình tan vỡ và tổn hại. Họ đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều điều ác.

Khi một người sáng suốt, có tài, chân thật hành xử đúng đắn với bốn hạng người, họ giữ cho mình nguyên vẹn và không bị tổn thương. Họ không đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều công đức. Thế nào là bốn? Mẹ… cha… một bậc Như Lai… và một đệ tử của bậc Như Lai. Khi một người sáng suốt, có tài, chân thật hành xử đúng đắn với bốn hạng người này, họ giữ cho mình nguyên vẹn và không bị tổn thương. Họ không đáng bị người trí khiển trách và phê bình, và họ tạo ra nhiều công đức.

Một người làm điều sai trái
Với mẹ hay cha mình,
Hay với bậc Như Lai, đức Phật,
Hoặc một vị đệ tử của Ngài,
Tạo ra nhiều điều ác.\

Vì hạnh kiểm bất chính của họ
Đối với cha mẹ,
Họ bị người trí chỉ trích trong đời này,
Và sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ.\

Một người làm điều đúng đắn
Với mẹ và cha mình,
Hay với bậc Như Lai, đức Phật,
Hoặc một vị đệ tử của Ngài,
Tạo ra nhiều công đức.\

Vì hạnh kiểm đúng đắn của họ
Đối với cha mẹ,
Họ được người trí khen ngợi trong đời này,
Và sau khi chết, họ hoan hỷ tái sinh lên cõi trời."

(IV) (4) Mất Gốc (2)

1.- Do tà hạnh trong bốn sự, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình sử xự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nhiều điều vô phước. Thế nào là tà hạnh trong bốn sự?

Tà hạnh đối với mẹ, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh … tạo nên nhiều điều vô phước. Tà hạnh đối với cha, này các Tỷ-kheo, … Tà hạnh đối với Như Lai, này các Tỷ-kheo,… Tà hạnh đối với đệ tử của Như Lai, này các Tỷ-kheo…, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân … và tạo nên nhiều điều vô phước. Tà hạnh trong bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, … tạo nên nhiều điều vô phước.

2. Chánh hạnh trong bốn sự này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự không như người mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là chánh hạnh trong bốn sự?

Chánh hạnh đối với mẹ, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh … tạo nhiều phước đức. Chánh hạnh đối với cha, này các Tỷ-kheo, … Chánh hạnh đối với Như Lai, này các Tỷ kheo… Chánh hạnh đối với đệ tử Như Lai, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự không như người mất gốc … tạo nhiều phước đức. Chánh hạnh trong bốn sự này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, … tạo nhiều phước đức.

Ðối với mẹ và cha
Ai hành xử tà vạy
Với Như Lai Chánh Giác
Hay với đệ tử Ngài
Người xử sự như vậy
Tạo nhiều điều vô phước
Những ai có ác hạnh
Ðối với mẹ và cha
Ðời này, bậc trí trách
Ðời sau sanh đọa xứ
Ðối với mẹ và cha
Ai hành xử chơn chánh
Với Như Lai Chánh Giác
Hay với đệ tử Ngài
Người xử sự như vậy
Tạo nhiều điều phước đức
Những ai có chánh hạnh
Ðối với mẹ và cha
Ðời này, bậc trí khen
Ðời sau hưởng Thiên giới

AN 4.5 Theo Dòng Anusotasutta

"Có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Người đi xuôi dòng; người đi ngược dòng; người tự đứng vững; và vị Bà-la-môn đã vượt qua, đứng ở bờ bên kia.

Và ai là người đi xuôi dòng? Đó là người tham gia vào các dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan) và làm điều xấu ác. Người này được gọi là người đi xuôi dòng.

Và ai là người đi ngược dòng? Đó là người không tham gia vào các dục lạc hay làm điều xấu ác. Họ sống đời sống phạm hạnh đầy đủ và thanh tịnh trong đau khổ và buồn rầu, khóc lóc, mặt đẫm nước mắt. Người này được gọi là người đi ngược dòng.

Và ai là người tự đứng vững? Đó là người, với sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (lower fetters / năm trói buộc thấp), được hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên). Vị ấy nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa. Người này được gọi là người tự đứng vững.

Và ai là vị Bà-la-môn đã vượt qua, đứng ở bờ bên kia? Đó là người ngay trong đời này tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ không còn ô nhiễm) do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não). Người này được gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua, đứng ở bờ bên kia.

Đây là bốn hạng người có mặt ở trên đời.

Tất cả những người với dục vọng không kiềm chế,
Không thoát khỏi ái dục, hưởng thụ dục lạc trong đời này:
Lại và lại, họ quay về với sinh và già;
Những người đi xuôi dòng chìm đắm trong ái dục.\

Vì vậy, người chú tâm trong đời này,
Với chánh niệm được thiết lập,
Không tham gia vào dục lạc và việc xấu ác.
Dù đau khổ, họ từ bỏ dục lạc:
Họ gọi người đó là
Người đi ngược dòng’.

Người đã từ bỏ năm ô nhiễm,
Bậc hữu học toàn hảo, không còn thối chuyển,
Đã chế ngự tâm mình,
Với các căn lắng dịu trong định,
Người đó được gọi là ‘người tự đứng vững’.

Bậc hiền trí đã thông hiểu mọi sự,
Cao và thấp,
Đã quét sạch và chấm dứt chúng, khiến chúng không còn nữa;
Họ đã hoàn thành phạm hạnh,
Và đi đến tận cùng thế giới,
Họ được gọi là ‘người đã vượt qua’."

(V) (5) Thuận Dòng

1.- Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, hiện hữu có mặt ở đời. Thế nào là bốn? Hạng người đi thuận dòng, hạng người đi nghịch dòng, hạng người tự đứng lại, vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ biên kia, đứng trên đất liền.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đi thuận dòng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thọ hưởng các dục và làm các nghiệp ác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người đi thuận dòng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đi ngược dòng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không thọ hưởng các dục, không làm ác nghiệp, với khổ, với ưu, nước mắt đầy mặt, khóc than, sống Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người đi ngược dòng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự đứng lại?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người do diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời ấy nữa. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người tự đứng lại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bên bờ kia, đứng trên đất liền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền.

Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

Những ai sống ở đời
Không chế ngự các dục
Không từ bỏ ly tham
Thọ hưởng các dục vọng
Họ đi đến sanh già
Ðến rồi lại đến nữa
Bị khát ái trói buộc
Họ đi thuận dòng đời

Do vậy bậc có trí
Ở đời, trú chánh niệm
Không thọ hưởng các dục
Không hành trì điều ác
Dầu chịu sự khổ đau
Từ bỏ các dục vọng
Họ được gọi hạng người
Ði ngược lại dòng đời.\

Những ai quyết đoạn tận
Năm phiền não kiết sử
Bậc hữu học viên mãn
Không còn bị thối thất
Ðạt được tâm điều phục
Các căn được định tĩnh
Vị ấy được gọi là
Người đã tự đứng lại
Ðối các pháp thắng liệt
Vị ấy được giác tri
Ðã được quét, quạt sạch
Các pháp được chấm dứt
Vị ấy bậc trí giả
Phạm hạnh được thành tựu
Ðược tên gọi danh xưng
Bậc đã đi đến nơi
Chỗ tận cùng thế giới
Bậc đã đến bờ kia.

AN 4.6 Ít Học Appassutasutta

"Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Một người có thể:

1. Ít học và không hiểu được ý nghĩa của việc học.
2. Ít học nhưng hiểu được ý nghĩa của việc học.
3. Học nhiều nhưng không hiểu được ý nghĩa của việc học.
4. Học nhiều và hiểu được ý nghĩa của việc học.

Và thế nào là người ít học và không hiểu được ý nghĩa của việc học? Đó là khi một người học ít về các loại kinh điển: văn xuôi, văn vần kết hợp, giải thích, kệ, lời cảm hứng, truyện cổ, truyện tiền thân, truyện hy hữu, và các bài giảng rộng. Và với chút ít đã học, họ không hiểu ý nghĩa cũng như giáo pháp, và họ không thực hành đúng theo Pháp. Như vậy là người ít học và không hiểu được ý nghĩa của việc học.

Và thế nào là người ít học nhưng hiểu được ý nghĩa của việc học? Đó là khi một người học ít về các loại kinh điển: văn xuôi, văn vần kết hợp, giải thích, kệ, lời cảm hứng, truyện cổ, truyện tiền thân, truyện hy hữu, và các bài giảng rộng. Nhưng với chút ít đã học, họ hiểu ý nghĩa và giáo pháp, và họ thực hành đúng theo Pháp. Như vậy là người ít học nhưng hiểu được ý nghĩa của việc học.

Và thế nào là người học nhiều nhưng không hiểu được ý nghĩa của việc học? Đó là khi một người học nhiều về các loại kinh điển: văn xuôi, văn vần kết hợp, giải thích, kệ, lời cảm hứng, truyện cổ, truyện tiền thân, truyện hy hữu, và các bài giảng rộng. Nhưng dù đã học nhiều, họ không hiểu ý nghĩa cũng như giáo pháp, và họ không thực hành đúng theo Pháp. Như vậy là người học nhiều nhưng không hiểu được ý nghĩa của việc học.

Và thế nào là người học nhiều và hiểu được ý nghĩa của việc học? Đó là khi một người học nhiều về các loại kinh điển: văn xuôi, văn vần kết hợp, giải thích, kệ, lời cảm hứng, truyện cổ, truyện tiền thân, truyện hy hữu, và các bài giảng rộng. Và với lượng lớn đã học, họ hiểu ý nghĩa và giáo pháp, và họ thực hành đúng theo Pháp. Như vậy là người học nhiều và hiểu được ý nghĩa của việc học.

Đây là bốn hạng người có mặt ở trên đời.

Nếu bạn không học nhiều,
Và không vững vàng trong giới hạnh,
Họ sẽ chỉ trích bạn cả hai mặt,
Về giới hạnh và học vấn của bạn.

Nếu bạn không học nhiều,
Và bạn vững vàng trong giới hạnh,
Họ sẽ khen ngợi hạnh kiểm của bạn,
Vì việc học của bạn đã thành công.

Nếu bạn học nhiều,
Nhưng không vững vàng trong giới hạnh,
Họ sẽ chỉ trích hạnh kiểm của bạn,
Vì việc học của bạn chưa thành công.

Nếu bạn học nhiều,
Và bạn vững vàng trong giới hạnh,
Họ sẽ khen ngợi bạn cả hai mặt,
Về giới hạnh và học vấn của bạn.\

Một đệ tử trí tuệ của đức Phật
Người học rộng và ghi nhớ giáo pháp;
Như vàng ròng sông Jambu,
Ai xứng đáng chỉ trích họ?
Ngay cả chư Thiên cũng tán dương họ,
Và bởi Phạm Thiên, họ cũng được tán dương."

(VI) (6) Học Hỏi Ít.

1.- Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe ít, điều đã được nghe được khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp đúng pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe được khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Nếu là người nghe ít
Không định tĩnh trong giới
Họ chỉ trích người ấy,
Cả hai, giới và nghe\

Nếu là người nghe ít
Nhưng khéo định trong giới
Họ khen về giới đức
Về nghe không đầy đủ\

Nếu là người nghe nhiều
Không định tĩnh trong giới
Họ chỉ trích người ấy,
Về nghe được đầy đủ\

Nếu là người nghe nhiều
Lại khéo định trong giới
Họ tán thán người ấy
Cả hai, giới và nghe\

Phật đệ tử nghe nhiều
Trì pháp, có trí tuệ
Như vàng cõi diêm phủ
Ai có thể chỉ trích?
Chư thiên khen vị ấy
Phạm thiên cũng ngợi khen

AN 4.7 Làm Đẹp Sobhanasutta

"Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này, những người có tài năng, có học thức, vững vàng, và đa văn, những người đã ghi nhớ giáo pháp và thực hành đúng theo Pháp, làm đẹp cho Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ). Thế nào là bốn? Một vị Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo-ni, một nam cư sĩ, và một nữ cư sĩ.

Bốn hạng người này, những người có tài năng, có học thức, vững vàng, và đa văn, những người đã ghi nhớ giáo pháp và thực hành đúng theo Pháp, làm đẹp cho Tăng đoàn.

Bất cứ ai có tài năng và vững vàng,
Học rộng, ghi nhớ giáo pháp,
Sống đúng theo giáo pháp—
Người như vậy được gọi là làm đẹp cho Tăng đoàn.

Một Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh,
Và một Tỷ-kheo-ni đa văn,
Một nam cư sĩ có lòng tin,
Và một nữ cư sĩ có lòng tin nữa:
Những người này làm đẹp cho Tăng đoàn,
Họ là những người làm đẹp cho Tăng đoàn."

(VI I) (7) Chói Sáng Tăng Chúng

− Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn? Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, …, nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng.

Ai là người thông minh
Là người không sợ hãi
Lại là người nghe nhiều
Và cũng hạng trì pháp
Ðối với chánh diệu pháp
Thực hành pháp tùy pháp
Người như vậy được gọi
Vị chói sáng tăng chúng
Vị Tỷ-kheo đủ giới
Tỷ-kheo-ni nghe nhiều
Bậc cư sĩ tín nam
Bậc cư sĩ tín nữ
Họ chói sáng Tăng chúng
Là ánh sáng Tăng chúng

AN 4.8 Tự Tín Vesārajjasutta

"Này các Tỷ-kheo, bậc Như Lai có bốn loại tự tín (self-assurance / sự tự tin vững chắc, không sợ hãi). Với những điều này, Ngài tự nhận vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng. Thế nào là bốn?

Ta không thấy lý do nào để bất cứ ai—dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất kỳ ai khác trên đời—có thể khiển trách Ta một cách hợp pháp, rằng: ‘Ngài tự xưng là bậc Phật Toàn Giác, nhưng Ngài không hiểu rõ các pháp này.’ Vì không thấy lý do nào như vậy, Ta sống an ổn, không sợ hãi, và tự tín.

Ta không thấy lý do nào để bất cứ ai—dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất kỳ ai khác trên đời—có thể khiển trách Ta một cách hợp pháp, rằng: ‘Ngài tự xưng đã đoạn tận mọi lậu hoặc, nhưng Ngài vẫn còn các lậu hoặc này.’ Vì không thấy lý do nào như vậy, Ta sống an ổn, không sợ hãi, và tự tín.

Ta không thấy lý do nào để bất cứ ai—dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất kỳ ai khác trên đời—có thể khiển trách Ta một cách hợp pháp, rằng: ‘Những pháp mà Ngài nói là chướng ngại thực ra không phải là chướng ngại cho người thực hiện chúng.’ Vì không thấy lý do nào như vậy, Ta sống an ổn, không sợ hãi, và tự tín.

Ta không thấy lý do nào để bất cứ ai—dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất kỳ ai khác trên đời—có thể khiển trách Ta một cách hợp pháp, rằng: ‘Mặc dù Ngài dạy rằng Pháp này dẫn đến mục đích đoạn tận hoàn toàn khổ đau, nhưng nó không dẫn đến đó cho người thực hành nó.’ Vì không thấy lý do nào như vậy, Ta sống an ổn, không sợ hãi, và tự tín.

Bậc Như Lai có bốn loại tự tín này. Với những điều này, Ngài tự nhận vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.

Các cơ sở khác nhau để chỉ trích
Mà các Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào
Biến mất khi đối diện bậc Như Lai,
Bậc tự tín, đã vượt qua mọi cơ sở chỉ trích.

Ngài chuyển bánh xe Chánh Pháp
Như một bậc toàn hảo,
Hoàn thiện, lòng bi mẫn với mọi chúng sinh.
Chúng sinh tôn kính Ngài,
Bậc đứng đầu giữa trời và người,
Người đã vượt qua sự tái sinh."

(VIII ) (8) Vô Sở Úy

− Có bốn vô sở úy của Như Lai, này các Tỷ-kheo, do thành tựu bốn vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển pháp luân. Thế nào là bốn?

Ngài tự nhận là Chánh Ðẳng Giác, nhưng những pháp này không được Ngài Chánh Ðẳng Giác. Ở đấy, nếu có Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Như Lai tự nhận là Ngài đã đoạn trừ các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ. Ở đấy, nếu có vị Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Các pháp Như Lai nói là các chướng ngại pháp, ai có thọ dụng chúng không đủ có chướng ngại gì. Ở đấy, nếu có Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này. Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Pháp và mục đích mà Như Lai tuyên bố, không được Người chơn chánh thực hành đoạn diệt khổ đau. Ở đấy, nếu có vị Bà-la-môn, Sa-môn, hay Thiên, Nhân, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời buộc tội ta đúng pháp như vậy; này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có trường hợp này.

Này các Tỷ-kheo, do Ta không thấy có trường hợp này, nên Ta trú, đạt an ổn, đạt được không run sợ, đạt được không sợ hãi.

Bốn pháp không sợ hãi này của Như Lai, này các Tỷ-kheo, do thành tựu bốn vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển pháp luân.

Các loại luận đàm này,
Ðược y chỉ rộng rãi
Sa-môn, Bà-la-môn,
Nương tựa, y chỉ họ
Khi họ đến Như Lai
Họ không còn tồn tại
Các luận đàm được nói
Họ run sợ, sợ hãi
Ai chinh phục tất cả
Chuyển vận được Pháp luân
Vì lòng thương tất cả
Mọi chúng sanh hữu tình
Với những bậc như vậy
Tối thắng giữa Thiên nhân
Mọi chúng sanh đảnh lễ
Bậc vượt quan sanh hữu.

AN 4.9 Sự Phát Sinh Của Ái Dục Taṇhuppādasutta

"Này các Tỷ-kheo, có bốn điều làm phát sinh ái (craving / lòng khao khát, ham muốn) nơi một vị Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Vì y phục, vì vật thực khất thực, vì chỗ ở, hoặc vì tái sinh trong trạng thái này hay trạng thái khác.

Đây là bốn điều làm phát sinh ái nơi một vị Tỷ-kheo.

Ái là bạn đồng hành của con người
Khi họ lang thang trong hành trình dài này.
Họ đi từ trạng thái này sang trạng thái khác,
Nhưng không thoát khỏi luân hồi.

Biết rõ sự nguy hại này—
Rằng ái là nguyên nhân của khổ đau—
Thoát khỏi ái, không còn chấp thủ,
Một Tỷ-kheo sẽ du hành trong chánh niệm."

(IX) (9) Khát Ái

− Có bốn ái sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, khi nào ái sanh, có thể sanh khởi nơi vị Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

Do nhận y áo, này các Tỷ-kheo, ái khi khởi lên, khởi lên nơi vị Tỷ-kheo, hay do nhận đồ ăn khất thực … hay do nhận sàng tọa … hay do nhận đây là hữu, đây là phi hữu, ái khi khởi lên, khởi lên vị Tỷ-kheo.

Bốn ái sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, khi nào ái sanh, có thể sanh khởi nơi vị Tỷ-kheo.

Người có ái làm bạn
Sẽ luân chuyển dài dài
Khi hiện hữu chỗ này
Khi hiện hữu chỗ khác
Người ấy không dừng được
Sự luận chuyển tái sanh
Rõ biết nguy hại này
Chính ái sanh đau khổ
Tỷ-kheo từ bỏ ái
Không nắm giữ chấp thủ
An trú, không thất niệm
Vị ấy sống xuất gia.

AN 4.10 Các Ách Yogasutta

"Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ách (yokes / những ràng buộc, gánh nặng) này. Thế nào là bốn? Dục ách (yoke of sensual pleasures / ách dục lạc), hữu ách (yoke of future lives / ách tái sinh), kiến ách (yoke of views / ách tà kiến), và vô minh ách (yoke of ignorance / ách vô minh).

Và thế nào là dục ách? Đó là khi vị ấy không thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các dục lạc. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với dục lạc còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là dục ách. Như vậy là dục ách.

Và thế nào là hữu ách? Đó là khi vị ấy không thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các đời sống tương lai. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với sự hiện hữu tiếp diễn còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là hữu ách. Như vậy là dục ách và hữu ách.

Và thế nào là kiến ách? Đó là khi vị ấy không thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các tà kiến. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với các tà kiến còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là kiến ách. Như vậy là dục ách, hữu ách, và kiến ách.

Và thế nào là vô minh ách? Đó là khi vị ấy không thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xúc xứ (fields of contact / sáu nơi tiếp xúc của giác quan), do đó vô minh (ignorance / sự không biết) và sự không hiểu biết về sáu xúc xứ còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là vô minh ách. Như vậy là dục ách, hữu ách, kiến ách, và vô minh ách. Đây là những pháp xấu ác, bất thiện, làm ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, gây đau khổ, đưa đến khổ đau và sự tái sinh, già, chết trong tương lai. Đó là lý do tại sao người bị chúng trói buộc được gọi là: ‘người chưa tìm thấy sự an ổn khỏi các ách’.

Đây là bốn loại ách.

Có bốn loại thoát ly khỏi ách (unyoking / sự thoát khỏi ràng buộc) này. Thế nào là bốn? Thoát ly khỏi dục ách, hữu ách, kiến ách, và vô minh ách.

Và thế nào là thoát ly khỏi dục ách? Đó là khi vị ấy thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các dục lạc. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với dục lạc không còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là thoát ly khỏi dục ách. Như vậy là thoát ly khỏi dục ách.

Và thế nào là thoát ly khỏi hữu ách? Đó là khi vị ấy thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các đời sống tương lai. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với sự hiện hữu tiếp diễn không còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là thoát ly khỏi hữu ách. Như vậy là thoát ly khỏi dục ách và hữu ách.

Và thế nào là thoát ly khỏi kiến ách? Đó là khi vị ấy thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của các tà kiến. Do đó, lòng tham, sự thích thú, tình cảm, sự say đắm, khát ái, đam mê, chấp thủ, và lòng khao khát đối với các tà kiến không còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là thoát ly khỏi kiến ách. Như vậy là thoát ly khỏi dục ách, hữu ách, và kiến ách.

Và thế nào là thoát ly khỏi vô minh ách? Đó là khi vị ấy thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xúc xứ, do đó vô minh và sự không hiểu biết về sáu xúc xứ không còn tiềm ẩn bên trong. Đây được gọi là thoát ly khỏi vô minh ách. Như vậy là thoát ly khỏi dục ách, hữu ách, kiến ách, và vô minh ách. Đây là những pháp xấu ác, bất thiện, làm ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, gây đau khổ, đưa đến khổ đau và sự tái sinh, già, chết trong tương lai. Đó là lý do tại sao người thoát khỏi chúng được gọi là: ‘người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các ách’.

Đây là bốn loại thoát ly khỏi ách.

Bị trói buộc bởi cả dục lạc
Và mong muốn tái sinh trong đời sau;
Cũng bị trói buộc bởi tà kiến,
Và bị vô minh chi phối,\

Chúng sinh tiếp tục luân hồi,
Với sinh tử tiếp diễn.
Nhưng những ai hiểu rõ dục lạc,
Và ách đối với mọi đời sống tương lai;\

Với ách tà kiến bị nhổ sạch,
Và vô minh bị xua tan,
Thoát khỏi mọi ách,
Thực sự những bậc hiền trí ấy đã thoát khỏi ách của họ."

(X) (10) Các Ách

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn ách này. Thế nào là bốn? Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là dục ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục ách.

Và thế nào là hữu ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu, nên hữu tham, hữu hỷ, hữu luyến, hữu đam mê, hữu khát, hữu não, hữu chấp thủ, hữu ái trong các hữu xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu ách.

Và thế nào là kiến ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kiến ách.

Và thế nào là vô minh ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như không thật quán tri sự tập khởi … sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh ách.

Ðây là dục ách, hữu ách, kiến ách và vô minh ách.

Bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là không an ổn khỏi các ách. Này các Tỷ-kheo, có bốn ách này.

2. Này các Tỷ-kheo, có bốn ách ly này. Thế nào là bốn? Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ly dục ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly dục ách.

Và thế nào là ly hữu ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các hữu. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các hữu, nên hữu tham, hữu hỷ, hữu luyến, hữu đam mê, hữu khát, hữu não, hữu chấp thủ, hữu ái trong các hữu không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly hữu ách.

Và thế nào là ly kiến ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly kiến ách.

Và thế nào là ly vô minh ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như thật quán tri sự tập khởi … sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly vô minh ách.

Ðây là ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách.

Không bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là an ổn khỏi các ách. Này các Tỷ-kheo, có bốn ly ách này.

Bị trói buộc cả hai
Dục ách và hữu ách
Bị trói buộc kiến ách
Với vô minh thượng phủ
Chúng sanh bị luân chuyển
Ði đến sanh và chết
Những ai liễu tri dục
Và toàn bộ hữu ách
Nhổ vất bỏ kiến ách
Và từ bỏ vô minh
Ly hệ tất cả ách
Họ vượt khỏi các ách