Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Đi Kinh Hành

AN 4.11 Đi Kinh Hành (Carasutta)

"Này các tỳ kheo (mendicant / vị khất sĩ, vị sư), giả sử một vị tỳ kheo khi đang đi kinh hành, khởi lên một dục tầm (sensual thought / suy nghĩ về dục vọng), sân tầm (malicious thought / suy nghĩ về sân hận), hay hại tầm (cruel thought / suy nghĩ về sự hãm hại). Vị ấy dung thứ nó, không từ bỏ, không loại trừ, không tiêu diệt, không làm cho nó biến mất. Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘không nhiệt tâm (keen / nhiệt tình, siêng năng), không tỉnh giác (prudent / thận trọng, sáng suốt), luôn biếng nhác, và thiếu tinh tấn (lacking energy / thiếu nỗ lực, thiếu cố gắng)’ khi đang đi kinh hành.

Giả sử một vị tỳ kheo khi đang đứng… ngồi… hay khi đang nằm thức, khởi lên một dục tầm, sân tầm, hay hại tầm. Vị ấy dung thứ nó, không từ bỏ, không loại trừ, không tiêu diệt, không làm cho nó biến mất. Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘không nhiệt tâm, không tỉnh giác, luôn biếng nhác, và thiếu tinh tấn’ khi đang nằm thức.

Giả sử một vị tỳ kheo khi đang đi kinh hành, khởi lên một dục tầm, sân tầm, hay hại tầm. Vị ấy không dung thứ nó, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho nó biến mất. Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘nhiệt tâm và tỉnh giác, luôn tinh cần (energetic / siêng năng, nỗ lực) và quyết tâm’ khi đang đi kinh hành.

Giả sử một vị tỳ kheo khi đang đứng… ngồi… hay khi đang nằm thức, khởi lên một dục tầm, sân tầm, hay hại tầm. Vị ấy không dung thứ nó, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho nó biến mất. Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘nhiệt tâm và tỉnh giác, luôn tinh cần và quyết tâm’ khi đang nằm thức."

Dù đi hay đứng,
Ngồi hay nằm xuống,
Nếu khởi ác tầm (bad thought / suy nghĩ xấu xa)
Liên quan đời sống gia đình (domestic life / đời sống tại gia),

Người ấy đi vào tà đạo (wrong path / con đường sai lầm),
Lạc giữa những điều mê hoặc.
Tỳ kheo như vậy không có khả năng
Chứng nghiệm vô thượng giác ngộ (highest awakening / sự giác ngộ cao nhất).

Nhưng người nào, dù đứng hay đi,
Ngồi hay nằm xuống,
Đã an tịnh các tầm (calmed their thoughts / làm lắng dịu các suy nghĩ),
Ưa thích sự an tịnh nội tâm (loving peace of mind / yêu thích sự bình an trong tâm);
Tỳ kheo như vậy có khả năng
Chứng nghiệm vô thượng giác ngộ."

II. Phẩm Hành

I. (11) Hành.

1.- Này các Tỷ-kheo, Nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.

2. Này các Tỷ-kheo, Nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng. Nếu khi đi khi đứng
Khi ngồi hay khi nằm
Khởi lên ác tầm tư
Liên hệ đến gia đình
Thực hành theo ác đạo
Mờ ám bởi si mê
Vị Tỷ-kheo như vậy
Không chứng Vô thượng giác
Ai khi đi khi đứng
Khi ngồi hay khi nằm
Ðiều phục được tâm tư
Yêu thích tầm chỉ định
Vị Tỷ-kheo như vậy
Chứng được Vô thượng giác\

AN 4.12 Giới Hạnh (Sīlasutta)

"Này các tỳ kheo, hãy sống giữ gìn giới (ethical precepts / các quy tắc đạo đức) và biệt biệt giải thoát giới (monastic code / giới luật riêng của tu sĩ, giúp giải thoát từng phần). Hãy sống thu thúc (restrained / tự kiểm soát, giữ gìn) trong giới luật riêng, hành xử đúng mực và đi khất thực ở nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, hãy giữ gìn các học giới đã thọ nhận. Khi các ông đã làm được như vậy, còn có gì phải làm nữa?

Giả sử một vị tỳ kheo khi đang đi kinh hành, đã đoạn trừ tham ái (desire / lòng ham muốn) và sân hận (ill will / lòng căm ghét, ác ý), đã từ bỏ hôn trầm và thụy miên (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ), trạo cử và hối quá (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận), và nghi (doubt / sự hoài nghi). Tinh tấn của vị ấy được khơi dậy và không thối chuyển, niệm (mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ) được thiết lập và sáng tỏ, thân được khinh an (body is tranquil / thân thể nhẹ nhàng, an lạc) và không dao động, và tâm định tĩnh (mind is immersed in samādhi / tâm trí tập trung, an định) - samādhi (immersion / định tâm, sự tập trung cao độ). Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘nhiệt tâm và tỉnh giác, luôn tinh cần và quyết tâm’ khi đang đi kinh hành.

Giả sử một vị tỳ kheo khi đang đứng… ngồi… và khi đang nằm thức, đã đoạn trừ tham ái và sân hận, đã từ bỏ hôn trầm và thụy miên, trạo cử và hối quá, và nghi. Tinh tấn của vị ấy được khơi dậy và không thối chuyển, niệm được thiết lập và sáng tỏ, thân được khinh an và không dao động, và tâm định tĩnh. Một vị tỳ kheo như vậy được gọi là ‘nhiệt tâm và tỉnh giác, luôn tinh cần và quyết tâm’ khi đang nằm thức.

Cẩn trọng khi đi, cẩn trọng khi đứng,
Cẩn trọng khi ngồi, cẩn trọng khi nằm;
Vị tỳ kheo cẩn trọng co duỗi chân tay,
Cẩn trọng khi duỗi ra.

Trên, dưới, xung quanh,
Xa tận cùng trái đất;
Vị ấy quán xét sự sinh diệt (rise and fall / sinh khởi và mất đi)
Của các pháp như các uẩn - uẩn.

Tu tập những gì đưa đến tâm tịch tịnh,
Luôn luôn chánh niệm;
Họ gọi vị tỳ kheo như vậy
Là ‘luôn luôn quyết tâm’."

(II) (12) Chế Ngự

− Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha. Hãy sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Ðã sống sống đầy đủ giới, này các Tỳ kheo, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, đã được chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha, sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, còn có gì cần phải làm thêm nữa?

Nếu Tỷ-kheo trong khi đi, tham, sân, si được từ bỏ, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được từ bỏ, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu các Tỷ-kheo khi đang đi có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.

Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng, … nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi … nếu Tỷ-kheo trong khi nằm thức, tham, sân, si được từ bỏ … hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuống nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu các Tỷ-kheo khi đang thức có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.

Ði đứng biết tự chế
Ngồi nằm biết tự chế
Tỷ-kheo biết tự chế
Khi co tay, duỗi tay
Phía trên, ngang cùng khắp
Xa cho đến cùng tột
Bất cứ sanh thú nào
Ở tại thế giới này
Khéo quán sát sanh diệt
Của tất cả pháp uẩn
Tâm chỉ tịnh chánh hạnh
Thường xuyên chuyên học tập
Liên tục, hằng siêng năng
Tỷ-kheo được gọi vậy.\

AN 4.13 Tinh Tấn (Padhānasutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn chánh tinh tấn (right efforts / sự cố gắng chân chính) này. Bốn là gì?

Một vị tỳ kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, quyết tâm để các pháp ác, bất thiện (bad, unskillful qualities / những trạng thái tâm xấu, không tốt) chưa sinh sẽ không sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, quyết tâm để các pháp ác, bất thiện đã sinh được đoạn trừ.

Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, quyết tâm để các pháp thiện (skillful qualities / những trạng thái tâm tốt) chưa sinh sẽ sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, quyết tâm để các pháp thiện đã sinh được duy trì, không mất đi, mà tăng trưởng, viên mãn, và hoàn thiện nhờ tu tập.

Đó là bốn chánh tinh tấn.

Nhờ tinh tấn chân chính,
Họ đã nghiền nát quyền lực của Ma vương;
Không chấp thủ, họ đã vượt qua
Nguy hiểm của sinh tử.
Biết đủ và không lay động,
Họ đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng;
Nay họ đã vượt qua tất cả binh lực của Namuci,
Họ được hạnh phúc."

(III) (13) Chánh Cần

− Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được diệt trừ, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; này các Tỷ-kheo, đây là bốn chánh cần.

Với các pháp chánh cần
Chúng chinh phục Ma giới
Không dính chúng vượt qua
Sợ hãi về sanh tử
Hoan hỷ ly dục vọng
Chúng thắng Ma, Ma quân
Mọi lực namuci
Chúng thoát ly an lạc.\

AN 4.14 Phòng Hộ (Saṁvarasutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn loại tinh tấn (efforts / sự nỗ lực, cố gắng) này. Bốn là gì? Phòng hộ tinh tấn (effort to restrain / nỗ lực giữ gìn, kiểm soát), đoạn trừ tinh tấn (effort to give up / nỗ lực từ bỏ, loại trừ), tu tập tinh tấn (effort to develop / nỗ lực phát triển), và hộ trì tinh tấn (effort to preserve / nỗ lực duy trì, bảo vệ).

Và này các tỳ kheo, thế nào là phòng hộ tinh tấn? Khi một vị tỳ kheo mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, tướng riêng (don’t get caught up in the features and details / không bị cuốn theo hình dáng tổng thể hay chi tiết). Nếu nhãn căn (faculty of sight / khả năng nhìn của mắt) không được phòng hộ, các pháp ác, bất thiện như tham ái (covetousness / lòng tham lam) và ưu (displeasure / sự buồn rầu, bất mãn) sẽ chi phối. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự phòng hộ, bảo vệ nhãn căn, và thực hiện sự phòng hộ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân cảm xúc… Khi ý biết pháp (know an idea with their mind / ý nhận biết các đối tượng tâm), vị ấy không nắm giữ tướng chung, tướng riêng. Nếu ý căn (faculty of mind / khả năng nhận biết của tâm ý) không được phòng hộ, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu sẽ chi phối. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự phòng hộ, bảo vệ ý căn, và thực hiện sự phòng hộ ý căn. Đây gọi là phòng hộ tinh tấn.

Và này các tỳ kheo, thế nào là đoạn trừ tinh tấn? Đó là khi một vị tỳ kheo không dung thứ một dục tầm, sân tầm, hay hại tầm đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho nó biến mất. Vị ấy không dung thứ bất kỳ pháp ác, bất thiện nào đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho chúng biến mất. Đây gọi là đoạn trừ tinh tấn.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tu tập tinh tấn? Đó là khi một vị tỳ kheo tu tập thất giác chi (awakening factors / bảy yếu tố giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả): niệm (mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ), trạch pháp (investigation of principles / sự phân biệt, lựa chọn pháp), tinh tấn (energy / sự nỗ lực, cố gắng), hỷ (rapture / niềm vui, sự phấn khởi), khinh an (tranquility / sự nhẹ nhàng, an lạc của thân và tâm), định (immersion / sự tập trung tâm ý), và xả (equanimity / sự bình tâm, không thiên vị), vốn dựa trên viễn ly (rely on seclusion / dựa vào sự xa lánh dục vọng), ly tham (fading away / sự phai nhạt lòng tham), đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt khổ đau), và hướng đến từ bỏ (ripen as letting go / chín muồi trong sự buông bỏ). Đây gọi là tu tập tinh tấn.

Và này các tỳ kheo, thế nào là hộ trì tinh tấn? Đó là khi một vị tỳ kheo hộ trì một đề mục thiền (meditation subject / đối tượng để thiền quán) là cơ sở tốt đẹp của định: tưởng xương trắng (perception of a skeleton / quán tưởng về bộ xương), tử thi bị giòi đục (worm-infested corpse / quán tử thi bị giòi ăn), tử thi xanh tím (livid corpse / quán tử thi tái xanh), tử thi nứt nẻ (split open corpse / quán tử thi nứt ra), hay tử thi sình trương (bloated corpse / quán tử thi trương phình). Đây gọi là hộ trì tinh tấn.

Đó là bốn loại tinh tấn.

Phòng hộ và đoạn trừ,
Tu tập và hộ trì:
Đây là bốn tinh tấn
Được dạy bởi bà con của mặt trời
Tỳ kheo nào nhiệt tâm thực hành những điều này
Có thể đạt đến sự chấm dứt khổ đau."

(IV) (14) Chế Ngự

− Này các Tỷ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên vì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thâm cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên … không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, có bốn này tinh cần này. Chế ngự và đoạn tận
Tu tập và hộ trì
Bốn loại tinh cần này
Ðược bà con mặt trời
Tuyên bố và thuyết giảng
Ở đời vị Tỷ-kheo
Nhiệt tình đối với chúng
Ðạt được diệt khổ tận\

AN 4.15 Được Xem Là Tối Thắng (Paññattisutta)

"Này các tỳ kheo, bốn hạng này được xem là tối thắng (regarded as foremost / được coi là cao nhất, tốt nhất). Bốn là gì? Tối thắng về thân hình là Rāhu (La Hầu), vua của a-tu-la (Rāhu, lord of titans / La Hầu, vua của loài thần chống đối trời) - a-tu-la (titans / loài thần có phước báu nhưng tâm sân hận, thường chiến đấu với chư thiên). Tối thắng về hưởng thụ dục lạc là vua Mandhātā. Tối thắng về quyền lực thống trị là Ma vương Ác độc. Trong thế gian này—với chư thiên (gods / các vị trời), Ma chúng (Māras / các loài ma), và Phạm thiên (divinities / các vị trời ở cõi sắc giới và vô sắc giới), trong chúng sinh này với các sa môn (ascetics / những người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục) và bà la môn (brahmins / giai cấp tu sĩ, trí thức trong xã hội Ấn Độ cổ), chư thiên và loài người—một bậc Như Lai (Realized One / bậc đã đạt đến chân lý như thật), bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn, viên mãn) được xem là tối thắng. Đó là bốn hạng được xem là tối thắng.

Rāhu tối thắng về thân hình,
Mandhātā về hưởng thụ dục lạc,
Ma vương về quyền lực thống trị,
Rực rỡ với quyền lực và vinh quang.

Trên, dưới, xung quanh,
Xa tận cùng trái đất;
Trong toàn thế gian với chư thiên,
Đức Phật được tuyên bố là tối thắng."

(V) (15) Thi Thiết

− Này các Tỷ-kheo, có bốn thi thiết tối thượng này. Thế nào là bốn?

Tối thượng trong những kẻ có tự ngã, này các Tỷ-kheo, tức là Ràhu, A-tu-la vương. Tối thượng trong các vị thọ hưởng các dục, này các Tỷ-kheo, tức là vua Mandhàtà. Tối thượng trong các vị có quyền lực tối thắng, này các Tỷ-kheo, tức là ác Ma. Trong thế giới chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, cùng với các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, này các Tỷ-kheo, Như Lai được gọi là tối thượng, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Này các Tỷ-kheo, có bốn sự thi thiết tối thượng này.

Ràhù là tối thượng
Trong các vị tự ngã
Mandhàtà tối thượng
Trong các vị hưởng dục
Màrà là tối thượng
Giữa những bậc uy quyền
Với thần túc danh xưng
Vị ấy được chói sáng
Phía trên, ngang phía dưới
Khắp sanh thú ở đời
Trong thế giới chư Thiên
Phật được gọi tối thượng.\

AN 4.16 Vi Diệu (Sokhummasutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn loại vi diệu (subtlety / sự tinh tế, sâu sắc) này. Bốn là gì?

Một vị tỳ kheo có sự vi diệu tối thượng về sắc (ultimate subtlety of form / sự tinh tế cao nhất về hình thể vật chất) - sắc (form / hình thể vật chất). Vị ấy không thấy có sự vi diệu nào khác về sắc tốt hơn hay vi diệu hơn thế, cũng không mong cầu nó.

Một vị tỳ kheo có sự vi diệu tối thượng về thọ (ultimate subtlety of feeling / sự tinh tế cao nhất về cảm giác) - thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính). Vị ấy không thấy có sự vi diệu nào khác về thọ tốt hơn hay vi diệu hơn thế, cũng không mong cầu nó.

Một vị tỳ kheo có sự vi diệu tối thượng về tưởng (ultimate subtlety of perception / sự tinh tế cao nhất về tri giác, nhận biết) - tưởng (perception / sự nhận biết, ghi nhớ đối tượng). Vị ấy không thấy có sự vi diệu nào khác về tưởng tốt hơn hay vi diệu hơn thế, cũng không mong cầu nó.

Một vị tỳ kheo có sự vi diệu tối thượng về hành (ultimate subtlety of choices / sự tinh tế cao nhất về các hoạt động tâm ý, ý chí) - hành (choices / các hoạt động tâm ý, ý chí tạo nghiệp). Vị ấy không thấy có sự vi diệu nào khác về hành tốt hơn hay vi diệu hơn thế, cũng không mong cầu nó.

Đó là bốn loại vi diệu.

Biết sự vi diệu của sắc,
Nguyên nhân của thọ,
Tưởng từ đâu sinh khởi,
Và nơi nó đoạn diệt;
Và biết hành là khác,
Là khổ và là vô ngã,

Tỳ kheo ấy thấy đúng đắn,
An tịnh, ưa thích trạng thái an tịnh.
Vị ấy mang thân cuối cùng,
Đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng."

(VI) (16).- Trí Tế Nhị

− Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng … thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.

Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưu tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.\

AN 4.17 Thiên Vị (1) (Paṭhamaagatisutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn cách đưa đến quyết định thiên vị (prejudiced decisions / quyết định không công bằng do thành kiến) - thiên vị (prejudice / sự không công bằng, nghiêng về một bên). Bốn là gì? Đưa ra quyết định thiên vị vì yêu thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê (stupidity / sự ngu dốt, thiếu hiểu biết), và thiên vị vì sợ hãi. Đó là bốn cách đưa đến quyết định thiên vị.

Nếu ngươi hành động trái với Chánh pháp
Vì yêu thích, sân hận, sợ hãi, hay si mê,
Danh tiếng ngươi sẽ lu mờ,
Như mặt trăng trong thời kỳ trăng khuyết."

(VI) (17) Sanh Thú Không Nên Ði

− Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú này không nên đi mà đi. Thế nào là bốn?

Ði đến sanh thú vì dục, đi đến sanh thú vì sân, đi đến sanh thú vì si, đi đến sanh thú vì sợ hãi. Có bốn sanh thú không nên đi mà đi này.

Dắt dẫn bởi dục sân
Bới sợ hãi si mê
Ai vượt qua chánh pháp
Thời danh xưng người ấy
Bị tổn hại hư hại
Như trăng trong thời tối.\

AN 4.18 Thiên Vị (2) (Dutiyaagatisutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn cách đưa đến quyết định không thiên vị. Bốn là gì? Đưa ra quyết định không thiên vị vì yêu thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, và không thiên vị vì sợ hãi. Đó là bốn cách đưa đến quyết định không thiên vị.

Nếu ngươi không hành động trái với Chánh pháp
Vì yêu thích, sân hận, sợ hãi, và si mê,
Danh tiếng ngươi sẽ tăng trưởng,
Như mặt trăng trong thời kỳ trăng tròn (waxing fortnight / nửa tháng trăng tròn dần)."

(VIII) (18) Sanh Thú Nên Ði

− Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú này nên đi mà đi. Thế nào là bốn?

Không vì dục đi đến sanh thú, không vì sân đi đến sanh thú, không vì si đi đến sanh thú, không vì sợ hãi đi đến sanh thú. Này các Tỷ-kheo, có bốn sanh thú nên đi mà đi này.

Dắt dẫn bởi dục sân
Bởi sợ hãi si mê
Ai không vượt chánh pháp
Thời danh xưng người ấy
Ðược đầy đủ vuông tròn
Như trăng trong thời sáng\

AN 4.19 Thiên Vị (3) (Tatiyaagatisutta)

"Này các tỳ kheo, có bốn cách đưa đến quyết định thiên vị. Bốn là gì? Đưa ra quyết định thiên vị vì yêu thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, và thiên vị vì sợ hãi. Đó là bốn cách đưa đến quyết định thiên vị.

Có bốn cách đưa đến quyết định không thiên vị. Bốn là gì? Đưa ra quyết định không thiên vị vì yêu thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, và không thiên vị vì sợ hãi. Đó là bốn cách đưa đến quyết định không thiên vị.

Nếu ngươi hành động trái với Chánh pháp
Vì yêu thích, sân hận, sợ hãi, hay si mê,
Danh tiếng ngươi sẽ lu mờ,
Như mặt trăng trong thời kỳ trăng khuyết.

Nếu ngươi không hành động trái với Chánh pháp
Vì yêu thích, sân hận, sợ hãi, và si mê,
Danh tiếng ngươi sẽ tăng trưởng,
Như mặt trăng trong thời kỳ trăng tròn."

(IX) (19) Không Nên Ði

(Kinh này là kinh 17 và kinh 18 hợp lại).\

AN 4.20 Người Chỉ Định Vật Thực (Bhattuddesakasutta)

"Này các tỳ kheo, một người chỉ định vật thực (meal designator / người phân chia thức ăn trong tăng đoàn) có bốn phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Bốn là gì? Họ đưa ra quyết định thiên vị vì yêu thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, và thiên vị vì sợ hãi. Một người chỉ định vật thực có bốn phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Một người chỉ định vật thực có bốn phẩm chất sẽ được sinh lên cõi trời. Bốn là gì? Họ đưa ra quyết định không thiên vị vì yêu thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, và không thiên vị vì sợ hãi. Một người chỉ định vật thực có bốn phẩm chất này sẽ được sinh lên cõi trời.

Tất cả những người có dục vọng không kiềm chế,
Không theo nguyên tắc, không tôn trọng nguyên tắc,
Bị dẫn đi sai đường
Bởi yêu thích, sân hận, si mê, hay sợ hãi,
Được gọi là ‘hội chúng cặn bã’:

Đó là lời dạy của vị sa môn hiểu biết (ascetic who knows / vị tu sĩ có trí tuệ).
Và vì vậy những bậc chân nhân đáng tán thán,
Dựa trên nguyên tắc, không làm điều sai trái,
Không bị dẫn đi sai đường
Bởi yêu thích, sân hận, si mê, hay sợ hãi,
Được gọi là ‘hội chúng tinh hoa’:
Đó là lời dạy của vị sa môn hiểu biết."

(X) (20) Người Ðầu Bếp

− Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục. Thế nào là bốn?

Ði đến sanh thú vì dục, đi đến sanh thú vì sân, đi đến sanh thú vì si, đi đến sanh thú vì sợ hãi. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục.

− Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là bốn? Không vì dục đi đến sanh thú, không vì sân đi đến sanh thú, không vì si đi đến sanh thú, không vì sợ hãi đi đến sanh thú. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.

Những ai đối với dục
Hạng người không chế ngự
Là hạng người phi pháp
Tôn trọng điều phi pháp
Họ đi bị dắt dẫn
Bởi dục sân, sợ hãi
Làm uế nhiễm hội chúng
Họ được gọi như vậy
Như vậy họ được gọi
Bởi Sa-môn hiểu biết
Do vậy bậc Chân nhân
Các bậc đáng tán thán
Họ trú vào Chánh pháp
Họ không làm điều ác
Họ đi, không bị dẫn
Bởi dục, sân, sợ hãi
Tinh hoa của hội chúng
Họ được gọi nva
Như vậy họ được gọi
Bởi Sa-môn hiểu biết\