Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Uruvelā (Ưu Lâu Tần Loa)

AN 4.21 Tại Uruvelā (1) Paṭhamauruvelasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī (Xá Vệ), tại Jetavana (Kỳ Viên), tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đấy, Đức Phật gọi các vị Tỳ kheo (Mendicants / vị khất sĩ, vị sư): “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” (Venerable sir / Kính bạch Ngài) các vị ấy vâng đáp. Đức Phật nói thế này:

"Này các Tỳ kheo, thuở xưa, khi Ta mới giác ngộ (awakened / tỉnh thức hoàn toàn), Ta trú ở Uruvelā (Ưu Lâu Tần Loa), dưới gốc cây banyan của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā (Ni Liên Thiền). Khi đang độc cư thiền tịnh, tâm tư này khởi lên nơi Ta: ‘Người sống không kính trọng, không tôn sùng thì thật khổ đau. Ta nên đảnh lễ, tôn kính và nương tựa vị Sa môn (ascetic / vị tu sĩ) hay Bà la môn (brahmin / người thuộc giai cấp tu sĩ Bà la môn giáo) nào đây?’

Rồi Ta suy nghĩ: 'Ta sẽ đảnh lễ, tôn kính và nương tựa một vị Sa môn hay Bà la môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phần giới (ethics / đạo đức, giới hạnh), nếu giới của Ta chưa hoàn thiện. Nhưng Ta không thấy một vị Sa môn hay Bà la môn nào khác trong thế giới này—với chư thiên (gods / các vị trời), Ma vương (Māras / các loài ma), và Phạm thiên (Divinities / các vị trời Phạm thiên), trong chúng sanh (population / chúng sinh) này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—lại thành tựu giới hạnh hơn Ta, người mà Ta nên đảnh lễ, tôn kính và nương tựa.

Ta sẽ đảnh lễ, tôn kính và nương tựa một vị Sa môn hay Bà la môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phần định (immersion / thiền định, sự tập trung), nếu định của Ta chưa hoàn thiện. Nhưng Ta không thấy một vị Sa môn hay Bà la môn nào khác … lại thành tựu định hơn Ta …

Ta sẽ đảnh lễ, tôn kính và nương tựa một vị Sa môn hay Bà la môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phần tuệ (wisdom / trí tuệ), nếu tuệ của Ta chưa hoàn thiện. Nhưng Ta không thấy một vị Sa môn hay Bà la môn nào khác trong thế giới này … lại thành tựu tuệ hơn Ta …

Ta sẽ đảnh lễ, tôn kính và nương tựa một vị Sa môn hay Bà la môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phần giải thoát (freedom / sự giải thoát), nếu giải thoát của Ta chưa hoàn thiện. Nhưng Ta không thấy một vị Sa môn hay Bà la môn nào khác trong thế giới này … lại thành tựu giải thoát hơn Ta …’

Rồi Ta suy nghĩ: ‘Vậy tại sao Ta không đảnh lễ, tôn kính và nương tựa chính Pháp (teaching / giáo pháp) mà Ta đã giác ngộ?’

Và rồi, Phạm thiên Sahampati (Divinity Sahampati / vị trời Phạm thiên tên Sahampati), biết được dòng tư tưởng của Ta, liền biến mất từ cõi Phạm thiên (realm of divinity / thế giới của các vị trời Phạm thiên) và hiện ra trước mặt Ta, dễ dàng như người lực sĩ duỗi hay co cánh tay. Vị ấy đắp y lệch một bên vai, chắp tay hướng về Ta và nói: ‘Thật đúng vậy, Thế Tôn (Blessed One / Đức Thế Tôn)! Thật đúng vậy, Thiện Thệ (Holy One / Bậc Thiện Thệ)! Tất cả các bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác (perfected ones, fully awakened Buddhas / các vị đã hoàn thiện, các vị Phật giác ngộ hoàn toàn) trong quá khứ đều đã đảnh lễ, tôn kính và nương tựa chính Pháp này. Tất cả các bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai cũng sẽ đảnh lễ, tôn kính và nương tựa chính Pháp này. Kính mong Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác hiện tại, cũng hãy đảnh lễ, tôn kính và nương tựa chính Pháp này.’

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy nói tiếp:

'Tất cả chư Phật, dù trong quá khứ,
Chư Phật của tương lai,
Và Đức Phật hiện tại—
Bậc đoạn trừ sầu muộn cho bao người—

Tôn kính Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính)
Các Ngài đã sống, đang sống,
Và cũng sẽ sống như vậy.
Đây là bản tánh của chư Phật.

Vì thế, người quan tâm đến hạnh phúc tự thân,
Và muốn trở thành bậc tối thượng,
Nên tôn kính Chánh pháp,
Luôn nhớ lời chư Phật dạy.’

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi quanh Ta theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi biến mất ngay tại đó. Bấy giờ, biết được lời thỉnh cầu của vị Phạm thiên và điều phù hợp với chính mình, Ta đã đảnh lễ, tôn kính và nương tựa chính Pháp mà Ta đã giác ngộ. Và vì Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ) cũng đã đạt đến sự vĩ đại, Ta cũng tôn kính Tăng đoàn."

III. Phẩm Uruvelà

(I) (21) Tại Uruvelà (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

− Một thời, này các Tỷ-kheo, ta trú ở Uruvelà trên bờ sống Neranjarà, dưới cây bàng ajapàla, khi mới thành Chánh giác. Trong khi ta Thiền tịnh độc cư, này các Tỷ-kheo, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời, vậy Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn”. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: “Với mục đích làm cho giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Aùc ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác với giới đầy đủ hơn Ta, mà ta có thể cung kính, đảnh lễ, sống y chỉ. Với mục đích làm cho định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác … Với mục đích làm cho tuệ uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác … Với mục đích làm cho giải thoát uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác với giới đầy đủ hơn Ta, mà ta có thể sống cung kính, đảnh lễ, sống y chỉ”. Rồi này các Tỷ-kheo, ta suy nghĩ như sau: “Với pháp này mà Ta đã chơn chánh giác ngộ, Ta hãy cung kính đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy”.

2. Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết tâm tư của ta, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra. Cũng như vậy, Phạm thiên Sahampati biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt ta.

Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y vào môt bên vai, với đầu gối chân mặt quỳ trên đất, chắp tay hướng đến ta và thưa với ta: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, chư Tôn giả ấy đã cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, các Tôn giả ấy sẽ cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hãy cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp”. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:

Chư Phật thời quá khứ
Chư Phật thời vị lai
Và đức Phật hiện tại
Ðoàn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy
Ðã đang và sẽ sống
Cung kính và đảnh lễ
Pháp chơn chánh vi diệu
Pháp nhĩ là như vậy
Ðối với chư Phật-đà
Vậy muốn lợi cho mình
Ước vọng làm đại nhân
Hãy cung kính đảnh lễ
Pháp chơn chánh vi diệu
Hãy ghi nhớ giáo pháp
Chư Phật Chánh Ðẳng Giác\

Này các Tỷ-kheo, Phạm Thiên Sahampati nói như vậy; nói vậy xong, đảnh lễ ta, thân hữu hướng về bên ta rồi biến mất tại chỗ. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi biết được thỉnh nguyện của Phạm thiên, và thích ứng với Ta, Ta sống cung kính, tôn trọng và y chỉ pháp ấy và ta đã tự Chánh Ðẳng Giác. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng chúng Tăng thành tựu sự cao cả nên ta tôn trọng đặc biệt chúng Tăng.

AN 4.22 Tại Uruvelā (2) Dutiyauruvelasutta

"Này các Tỳ kheo, thuở xưa, khi Ta mới giác ngộ, Ta trú ở Uruvelā, dưới gốc cây banyan của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā. Khi ấy, có nhiều vị Bà la môn già cả—những bậc cao niên, lớn tuổi, đã sống lâu năm và đến giai đoạn cuối của cuộc đời—đến gặp Ta và chào hỏi thăm viếng.

Sau khi chào hỏi và chuyện trò xã giao xong, họ ngồi xuống một bên và nói với Ta: 'Thưa ông Gotama, chúng tôi nghe nói rằng:

“Sa môn Gotama không cúi chào các vị Bà la môn già cả, cao niên, lớn tuổi, đã sống lâu năm và đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi.” Và điều này quả thật đúng như vậy, vì ông Gotama không cúi chào các vị Bà la môn già cả, cao niên, lớn tuổi, đã sống lâu năm và đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi. Thưa ông Gotama, điều này là không thích hợp.’

Rồi Ta suy nghĩ: ‘Các vị tôn giả này không biết thế nào là một trưởng lão (senior / bậc lớn tuổi, bậc trưởng thượng), hay những phẩm chất nào làm nên một bậc trưởng lão.’

Này các Tỳ kheo, giả sử có người tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi. Nhưng lời nói của người ấy không đúng lúc, sai sự thật, vô nghĩa, và đi ngược lại giáo pháp hay giới luật. Người ấy nói những điều không đúng thời điểm, vô giá trị, không hợp lý, lan man, và không lợi ích. Khi ấy, người đó sẽ được xem là một ‘trưởng lão trẻ con’.

Bây giờ, giả sử có người còn trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đang độ xuân xanh, trong thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời. Nhưng lời nói của người ấy đúng lúc, đúng sự thật, có ý nghĩa, và phù hợp với giáo pháp và giới luật. Người ấy nói những điều đúng thời điểm, có giá trị, hợp lý, súc tích, và lợi ích. Khi ấy, người đó sẽ được xem là một ‘trưởng lão sáng suốt’.

Có bốn phẩm chất này làm nên một bậc trưởng lão. Bốn phẩm chất nào? Một vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống chế ngự trong giới luật (monastic code / quy tắc tu viện, giới bổn), hành xử đúng mực và khất thực ở nơi thích hợp (resorting for alms in suitable places / đi khất thực ở nơi phù hợp). Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất (seeing danger in the slightest fault), vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người đa văn (learned / học rộng), thọ trì những gì đã học (remembering and keeping what they’ve learned / ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học). Những giáo pháp này toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối (good in the beginning, good in the middle, and good in the end), có ý nghĩa và văn cú rõ ràng (meaningful and well-phrased), mô tả một phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh (entirely full and pure). Vị ấy rất thông thạo những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại (rehearsing them), suy nghiệm trong tâm (mentally scrutinizing them), và thông hiểu bằng trí tuệ (comprehending them theoretically / hiểu rõ về mặt lý thuyết).

Vị ấy chứng đắc bốn thiền na (absorptions / các tầng thiền)—những hiện tại lạc trú thuộc tăng thượng tâm (blissful meditations in this life that belong to the higher mind / sự an trú trong niềm vui ngay trong đời này thuộc về tâm cao thượng)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không trở ngại.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) vô lậu ngay trong đời này. Và vị ấy an trú trong trạng thái đó sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí của mình (with their own insight / bằng sự hiểu biết trực tiếp của chính mình) nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / sự chấm dứt các phiền não ô nhiễm).

Đây là bốn phẩm chất làm nên một bậc trưởng lão.

Kẻ tâm trí bất an
Nói nhiều lời vô nghĩa.
Tư tưởng không ổn định,
Và không thích Chánh pháp.
Kẻ ấy xa rời bậc trưởng lão, với tà kiến
Và thiếu tôn trọng người khác.

Nhưng người thành tựu giới hạnh,
Đa văn và khéo nói, bậc trí tuệ ấy
Chế ngự khi tiếp xúc các pháp,
Thấu hiểu ý nghĩa bằng trí tuệ.

Vượt qua mọi sự vật,
Từ ái, khéo nói,
Đã từ bỏ sinh tử,
Và hoàn thành phạm hạnh.

Đó là người Ta gọi là trưởng lão,
Người không còn lậu hoặc (defilements / phiền não, ô nhiễm).
Với sự đoạn tận các lậu hoặc, một Tỳ kheo
Được tuyên bố là ‘trưởng lão’."

(II) (22) Tại Uruvelà (2)

1. Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta trú ở Uruvelà, trên bờ sống Neranjarà, dưới cây bàng Nigrodha, khi mới thành Chánh giác. Rồi này các Tỷ-kheo, rất nhiều Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng, đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, đi đến ta; sau khi đến, nói lên với ta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn ấy nói với Ta như sau: “Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi được nghe như sau: “Sa-môn Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời”. Thưa Tôn giả Gotama, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn giả môn Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả Gotama là không được tốt đẹp”.

2. Này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Các Tôn giả này không hiểu gì về trưởng lão, hay các pháp tác thành vị trưởng lão”.

Nếu trưởng lão, này các Tỷ-kheo, là 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, và nếu vị ấy nói phi thời, nói phi chân, nói phi nghĩa, nói phi pháp, nói phi luật, nói những lời không đáng giữ gìn, lời nói không hợp thời cơ, không hợp lý, không có giới hạn, không có liên hệ đến mục đích, thời vị ấy chỉ được gọi là vị trưởng lão ngu. Nếu là một vị tuổi trẻ, này các Tỷ kheo, một thanh niên còn non trẻ, tóc đen nhánh, trong tuổi hiền thiện của đời, còn trong tuổi thanh xuân, vị ấy nói lời đúng thời, nói lời chân thực, nói lời có nghĩa, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật, nói những lời đáng giữ gìn, lời nói hợp thời cơ, hợp lý, có giới hạn, liên hệ đến mục đích, thời vị ấy chỉ được gọi là vị trưởng lão hiền trí.

3. Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp tác thành trưởng lão này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe, những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì đọc tụng bằng lời, quán sát với ý, thể nhập với chánh kiến, đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức; do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, bốn pháp này tác thành vị trưởng lão.

Ai với tâm cống cao
Nói nhiều lời phù phiếm
Với tư duy không định
Như thú không ưa pháp
Xa địa vị trưởng lão
Ác kiến, không kính trọng
Và ai đủ giới hạnh
Nghe nhiều trí biện tài
Sống chế ngự bậc trí
Ðối với tất cả pháp
Vị ấy với trí tuệ
Quán thấy chơn ý nghĩa
Ðạt cứu cánh các pháp
Không hoang vu, biện tài
Ðoạn tận sanh và chết
Viên mãn hành Phạm hạnh
Vị ấy ta gọi tên
Trưởng lão không lậu hoặc
Do đoạn trừ lậu hoặc
Ðược gọi là trưởng lão.\

AN 4.23 Thế Gian Lokasutta

"Này các Tỳ kheo, thế gian đã được Như Lai (Realized One / Bậc Như Lai, danh hiệu của Phật) liễu tri; và Ngài đã ly tham (detached / không còn tham ái, tách rời) khỏi thế gian. Tập khởi của thế gian (origin of the world / nguyên nhân sinh khởi của thế gian) đã được Như Lai liễu tri; và Ngài đã từ bỏ tập khởi của thế gian. Đoạn diệt của thế gian (cessation of the world / sự chấm dứt của thế gian) đã được Như Lai liễu tri; và Ngài đã chứng ngộ đoạn diệt của thế gian. Con đường đưa đến đoạn diệt của thế gian (practice that leads to the cessation of the world / phương pháp thực hành dẫn đến sự chấm dứt của thế gian) đã được Như Lai liễu tri; và Ngài đã tu tập con đường đưa đến đoạn diệt của thế gian.

Trong thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—bất cứ những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, nhận biết, đạt được, tìm cầu, và khám phá bởi tâm trí, tất cả những điều đó đã được Như Lai liễu tri. Đó là lý do Ngài được gọi là ‘Như Lai’.

Từ đêm Như Lai chứng ngộ vô thượng chánh đẳng giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng) cho đến đêm Ngài nhập Niết bàn (fully extinguished / đạt đến sự tịch diệt hoàn toàn)—trong vô dư y Niết bàn giới (element of extinguishment with no residue / Niết bàn giới không còn dư thừa)—mọi điều Ngài nói, phát biểu, và diễn đạt đều là chân thật, không khác đi. Đó là lý do Ngài được gọi là ‘Như Lai’.

Như Lai nói như thế nào, làm như thế ấy; làm như thế nào, nói như thế ấy. Vì như vậy, đó là lý do Ngài được gọi là ‘Như Lai’.

Trong thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến thắng (vanquisher, the unvanquished), bậc thấy biết tất cả (universal seer), bậc tự chủ (wielder of power). Đó là lý do Ngài được gọi là ‘Như Lai’.

Trực tiếp biết rõ thế gian như nó là,
Và mọi thứ trong đó,
Ngài ly tham khỏi toàn thế gian,
Không dính mắc với toàn thế gian.

Bậc tinh cần ấy là nhà vô địch
Người giải thoát khỏi mọi ràng buộc.
Ngài đã đạt đến sự an tịnh tối thượng:
Niết bàn (extinguishment / Niết bàn, sự tịch diệt), không sợ hãi từ bất cứ đâu.

Ngài là Đức Phật, với các lậu hoặc đã tận,
Không phiền não, với các nghi ngờ đã đoạn trừ.
Ngài đã đạt đến sự đoạn tận mọi nghiệp (end of all deeds / sự chấm dứt mọi hành động tạo tác),
Giải thoát với sự đoạn tận các chấp thủ (end of attachments / sự chấm dứt mọi sự bám víu).

Thế Tôn ấy là Đức Phật,
Ngài là sư tử tối thượng,
Trong toàn thế giới với chư thiên,
Ngài chuyển bánh xe pháp thiêng liêng.

Và vì thế, những chư thiên và loài người,
Những ai đã đến quy y (refuge / nương tựa) Phật,
Cùng nhau tụ hội và tôn kính Ngài,
Bậc tâm hồn vĩ đại và không sợ hãi:

‘Đã được điều phục, Ngài là bậc điều phục tối cao,
An tịnh, Ngài là bậc thấy biết giữa những người an tịnh,
Giải thoát, Ngài là bậc giải thoát hàng đầu,
Đã vượt qua, Ngài là bậc dẫn đường xuất sắc nhất.’

Và vì thế họ tôn kính Ngài,
Bậc tâm hồn vĩ đại và không sợ hãi.
Trong thế giới với chư thiên,
Ngài không có đối thủ (rival)."

(III) (23). Thế Giới.

1. - Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh Ðẳng Giác, Như Lai không hệ lụy đối với đời. Này các Tỷ-kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Ðẳng Giác. Thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Ðẳng Giác. Thế giới đoạn diệt được Như Lai đoạn tận. Thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Ðẳng Giác. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập.

2. Cái gì, này các Tỷ-kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai Chánh Ðẳng Giác. Do vậy, được gọi là Như Lai. Từ đêm, này các Tỷ-kheo, Như Lai được Chánh Ðẳng Giác, đến đêm Như Lai nhập Niết-bàn, trong thời gian ấy, điều gì Như Lai nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy, được gọi là Như Lai.

3. Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai.

Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến đại tự tại, do vậy được gọi là Như Lai.

Do thắng tri thế giới
Ðúng như thật như vậy
Ly hệ mọi thế giới
Không chấp thủ thế giới
Thắng tất cả bậc trí
Giải thoát mọi buộc ràng
Cảm thọ tối thắng tịnh
Niết-bàn, không sợ hãi
Vị này đoạn lậu hoặc
Bậc Giác ngộ, Trí giả
Không dao động nhiễu loạn
Nghi ngờ được chặt đứt
Ðạt diện tận mọi nghiệp
Giải thoát diệt sanh y
Là Thế Tôn là Phật
Bậc Sư tử vô thượng
Trong thế giới, Thiên giới
Chuyển bánh xe pháp luân
Như vậy hàng Thiên, Nhân
Ðến quy y đức Phật
Gặp nhau đảnh lễ Ngài
Vĩ đại không sanh hữu
Ðiều phục bậc tối thượng
Trong người được điều phục
Anh tịnh bậc ẩn sĩ
Những người được an tịnh
Giải thoát bậc tối thượng
Những người được giải thoát
Vượt qua bậc tối thắng
Những người được vượt qua
Như vậy họ lễ Ngài
Vĩ đại, không sanh hữu
Thiên giới, thế giới này
Không ai được bằng ngài.\

AN 4.24 Tại Tịnh Xá Kāḷaka Kāḷakārāmasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāketa (Sa Kỳ), tại tịnh xá Kāḷaka. Tại đấy, Đức Phật gọi các vị Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Đức Phật nói thế này:

"Trong thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—bất cứ những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, nhận biết, đạt được, tìm cầu, và khám phá bởi tâm trí: điều đó Ta biết.

Trong thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—bất cứ những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, nhận biết, đạt được, tìm cầu, và khám phá bởi tâm trí: điều đó Ta đã thấu suốt. Điều đó đã được Như Lai biết, nhưng Như Lai không lệ thuộc vào nó.

Nếu Ta nói rằng ‘Ta không biết … thế giới với chư thiên’, Ta sẽ nói dối.

Nếu Ta nói rằng ‘Ta vừa biết vừa không biết … thế giới với chư thiên’, điều đó cũng giống như vậy.

Nếu Ta nói rằng ‘Ta không biết cũng không phải không biết … thế giới với chư thiên’, đó sẽ là lỗi của Ta.

Vì vậy, Như Lai thấy cái cần thấy, nhưng không tưởng tri (conceive / nhận thức qua khái niệm, tưởng tượng) cái được thấy, không tưởng tri cái không được thấy, không tưởng tri cái sẽ được thấy, và không tưởng tri người thấy. Ngài nghe cái cần nghe, nhưng không tưởng tri cái được nghe, không tưởng tri cái không được nghe, không tưởng tri cái sẽ được nghe, và không tưởng tri người nghe. Ngài suy nghĩ cái cần suy nghĩ, nhưng không tưởng tri cái được suy nghĩ, không tưởng tri cái không được suy nghĩ, không tưởng tri cái sẽ được suy nghĩ, và không tưởng tri người suy nghĩ. Ngài biết cái cần biết, nhưng không tưởng tri cái được biết, không tưởng tri cái không được biết, không tưởng tri cái sẽ được biết, và không tưởng tri người biết.

Vì Như Lai không bị lay động (unaffected) giữa những sự vật có thể được thấy, nghe, suy nghĩ, và biết, Ngài là bậc không bị lay động. Và Ta nói rằng không có sự vững chãi nào tốt đẹp hơn hay tinh tế hơn thế này.

Người như vậy không chấp lấy bất cứ điều gì
Được thấy, nghe, hay nghĩ là chân thật hay giả dối tối hậu.
Nhưng những người khác lại chấp thủ, nghĩ rằng đó là sự thật,
Bị giới hạn bởi những định kiến của họ.

Vì đã thấy mũi tên (dart / phiền não, sự đau khổ) này
Mà người đời bị dính mắc và bám víu,
Nói rằng, ‘Tôi biết, tôi thấy, nó là như vậy’,
Các bậc Như Lai không có sự chấp thủ."

(IV) (24) Kàlaka

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại khu vườn Kàlaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy … được ý tư sát, tất cả ta đều biết. Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới này … được thấy, được ý tư sát, Ta đã được biết rõ như sau: “Tất cả đều được Như Lai biết đến. Như Lai không có dựng đứng lên”. Này các Tỷ-kheo, nếu ta nói rằng: “Ta biết tất cả, cái gì trong toàn thế giới … được thấy, được ý tư sát”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu ta nói như sau: “Ta cả hai biết và không biết”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta không biết và cũng không phải biết”. Như vậy là có nói láo trong Ta. Như vậy có lỗi trong Ta.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Ðã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Ðã thức tri những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa, hơn người như vậy, không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy.

Cái gì được thấy, nghe
Ðược cảm giác chấp trước
Ðược nghĩ là chân thực
Bởi các hạng người khác
Giữa những người thấy vậy
Ta không phải như vậy
Những điều chúng tuyên bố
Dầu là thật hay láo
Ta không xem tối hậu
Ta trong thời đã qua
Thấy được mũi tên này
Loài Người bị câu móc
Ta biết và Ta thấy
Các đức Phật Như Lai
Không tham đắm như vậy.\

AN 4.25 Đời Sống Phạm Hạnh Brahmacariyasutta

"Này các Tỳ kheo, phạm hạnh (spiritual life / đời sống phạm hạnh, đời sống tu tập thanh tịnh) này không phải được sống vì mục đích lừa dối người (deceiving people) hay mơn trớn người (flattering them), cũng không phải vì lợi ích của lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng (possessions, honor, or popularity), cũng không phải vì lợi ích hơn thua trong tranh luận (winning debates), cũng không phải với suy nghĩ: ‘Để mọi người biết đến ta!’ Đời sống phạm hạnh này được sống vì mục đích sự chế ngự (restraint / sự tự kiểm soát, phòng hộ), sự từ bỏ (giving up / sự xả ly), sự ly tham (fading away / sự nhạt dần tham ái), và sự đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt).

Đức Phật dạy đời sống phạm hạnh
Không phải vì truyền thống (tradition),
Mà vì sự chế ngự và từ bỏ,
Và vì nó đưa đến Niết bàn (culminates in extinguishment).
Đây là con đường được các bậc đại nhân (great souls) theo đuổi,
Các bậc đại tiên (great seers).

Những ai thực hành nó
Như đã được Đức Phật dạy,
Làm theo lời thầy dạy (teacher’s bidding),
Sẽ chấm dứt khổ đau."

(V) (25) Phạm Hạnh

1.- Phạm hạnh được sống, này các Tỷ-kheo, không vì mục đích lừa dối quần chúng, không vì mục đính mơn trớn quần chúng, không vì mục đích được lợi ích về lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, không vì mục đích được lợi ích thoát khỏi lời phê bình bàn tán, không với ý nghĩ: “Mong quần chúng biết ta như vậy”. Và này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh này được sống với mục đích được chế ngự, với mục đính đoạn tận, với mục đích ly tham, với mục đích đoạn diệt.

Với mục đích chế ngự,
Với mục đích đoạn tận,
Là đời sống Phạm hạnh,
Tránh xa lời nói suông,
Thế Tôn đã tuyên bố,
Ði đến nhập Niết-bàn,
Con đường này được đi,
Bởi đại nhân, đại sĩ,
Ai dấn bước thực hành,
Ðúng như lời Phật dạy,
Sẽ chấm dứt khổ đau,
Làm theo Ðạo Sư dạy.\

AN 4.26 Kẻ Lừa Đảo Kuhasutta

"Này các Tỳ kheo, những Tỳ kheo là kẻ lừa đảo (deceivers) và kẻ mơn trớn (flatterers), kiêu căng (pompous) và giả dối (fake), ngạo mạn (insolent), và tâm tán loạn (scattered): những Tỳ kheo đó không phải là đệ tử của Ta. Họ đã rời bỏ giáo pháp và giới luật này, và họ không đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Nhưng những Tỳ kheo chân thật (genuine), không mơn trớn, chú tâm (attentive / cẩn trọng, chú ý), dễ bảo (amenable / dễ dạy, thuận theo), và tâm định tĩnh (serene / tâm thanh tịnh, yên lặng): những Tỳ kheo đó là đệ tử của Ta. Họ không rời bỏ giáo pháp và giới luật này, và họ đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Những kẻ lừa đảo và mơn trớn,
>Kiêu căng và giả dối,
Ngạo mạn và tâm tán loạn:
Những kẻ này không tăng trưởng trong giáo pháp
Đã được Đức Phật toàn giác giảng dạy.

Nhưng những người chân thật, không mơn trớn, chú tâm,
Dễ bảo, và tâm định tĩnh:
Những người này tăng trưởng trong giáo pháp
Đã được Đức Phật toàn giác giảng dạy."

(VI) (26) Kẻ Lừa Dối.

1.- Những vị Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, lừa dối cứng đầu, lắm mồm lắm miệng, hoang dâm, hỗn hào, không có định tĩnh, những Tỷ-kheo ấy không phải là Tỷ-kheo của Ta. Những Tỷ-kheo ấy đã rơi khỏi Pháp Luật này. Và họ không đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng trong Pháp Luật này. Và này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo nào không lừa dối, không lắm mồm lắm miệng, có trí, không cứng đầu, khéo định tĩnh, những Tỷ-kheo ấy phải là Tỷ-kheo của Ta. Và những Tỷ-kheo ấy không rơi khỏi Pháp Luật này, và họ đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng trong Pháp Luật này.

Kẻ lừa dối cứng đầu,
Kẻ lắm mồm, hoang dâm,
Kẻ hỗn hào, không định,
Không tăng trưởng các pháp,
Ðược bậc Chánh Ðẳng Giác,
Tuyên bố và thuyết giảng,
Không lừa, không lắm mồm,
Có trí, không cứng đầu,
Với tâm khéo định tĩnh,
Chúng tăng trưởng các pháp,
Ðược bậc Chánh Ðẳng Giác,
Tuyên bố và thuyết giảng.\

AN 4.27 Sự Tri Túc Santuṭṭhisutta

"Này các Tỳ kheo, bốn vật dụng tối thiểu (trifles / những thứ nhỏ nhặt, đơn giản) này dễ tìm và không đáng chê trách (blameless / không có lỗi). Bốn điều gì? Y phấn tảo (rag-robes / y may từ vải vụn nhặt nơi bỏ rác) … Vật thực khất thực (lump of almsfood / thức ăn nhận được khi đi xin) … Sàng tọa gốc cây (lodgings at the root of a tree / chỗ ở dưới gốc cây) … Nước tiểu mục làm thuốc (rancid urine as medicine / nước tiểu bò lên men dùng làm thuốc) …

Bốn vật dụng tối thiểu này dễ tìm và không đáng chê trách. Khi một Tỳ kheo bằng lòng với những vật dụng tối thiểu dễ tìm, vị ấy có một trong những yếu tố của đời sống Sa môn (factors of the ascetic life), Ta nói vậy.

Khi bạn bằng lòng với những gì không đáng chê trách,
Tối thiểu, và dễ tìm,
Bạn không buồn phiền
Về chỗ ở, y phục,
Thức ăn, và đồ uống,
Và bạn không bị ngăn ngại (obstructed) ở bất cứ đâu.

Những phẩm chất này được nói là
Thuộc về đời sống Sa môn (integral to the ascetic life).
Chúng được làm chủ bởi người tu tập,
Biết đủ và tinh cần (diligent / siêng năng)."

(VII) (27) Biết Ðủ

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Thế nào là bốn?

Trong các loại y, này các Tỷ-kheo, y phấn tảo (y lượm từ đống rác) là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các loại đồ ăn, này các Tỷ-kheo, khi khất thực từng miếng là không quan trọng, dễ được và không vi phạm. Trong các sàng tọa, này các Tỷ-kheo, gốc cây là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các loại dược phẩm, này các Tỷ-kheo, nước đái quỉ là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi.

Bốn loại, này các Tỷ-kheo, không quan trọng dễ được, không có phạm lỗi này, nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết đủ, với các loại không quan trọng dễ được này, Ta tuyên bố rằng đây là một trong những chi phần của Sa-môn hạnh.

Biết đủ với sự vật,
Không quan trọng, dễ được,
Lại không có phạm tội,
Tâm không bị phiền nhiễu,
Về vấn đề trú xứ,
Y áo và ăn uống,
Tâm không bị lo lắng,
Về phương hướng phải đi,
Các pháp được tuyên bố,
Thuận lợi Sa-môn hạnh,
Chúng được có đầy đủ.
Với vị biết vừa đủ,
Với vị không phóng dật,
Tinh cần trong học tập.\

AN 4.28 Truyền Thống Cao Quý Ariyavaṁsasutta

"Này các Tỳ kheo, bốn thánh chủng (noble traditions / truyền thống bậc Thánh) này là nguyên thủy (primordial), lâu đời (long-standing), truyền thống (traditional), và cổ xưa (ancient). Chúng không tạp loạn (uncorrupted), như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ, và cũng sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí (sensible) không xem thường chúng. Bốn điều gì?

Thứ nhất, một Tỳ kheo bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào, và tán thán sự tri túc (contentment / sự biết đủ) như vậy. Vị ấy không cố gắng kiếm y phục bằng cách không đúng đắn (improper way). Vị ấy không buồn phiền nếu không nhận được y phục. Và nếu nhận được y phục, vị ấy sử dụng nó mà không bị ràng buộc (untied), không say đắm (uninfatuated), không chấp thủ (unattached), thấy rõ sự nguy hại (seeing the drawback), và hiểu rõ lối thoát ly (understanding the escape). Nhưng vị ấy không khen mình chê người (glorify themselves or put others down) vì sự tri túc của mình. Một Tỳ kheo khéo léo (deft), không mệt mỏi (tireless), tỉnh giác (aware / biết rõ), và chánh niệm (mindful / nhớ nghĩ đúng đắn, tỉnh thức) trong việc này được gọi là người đứng vững trong thánh chủng cổ xưa, nguyên thủy.

Hơn nữa, một Tỳ kheo bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào …

Hơn nữa, một Tỳ kheo bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào …

Hơn nữa, một Tỳ kheo thích thú và ưa thích thiền định (enjoys meditation and loves to meditate). Vị ấy thích thú và ưa thích sự từ bỏ (enjoys giving up and loves to give up). Nhưng vị ấy không khen mình chê người vì lòng yêu thích thiền định và sự từ bỏ của mình. Một Tỳ kheo khéo léo, không mệt mỏi, tỉnh giác, và chánh niệm trong việc này được gọi là người đứng vững trong thánh chủng cổ xưa, nguyên thủy.

Bốn thánh chủng này là nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không tạp loạn, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ cũng như sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không xem thường chúng.

Khi một Tỳ kheo có bốn thánh chủng này, nếu vị ấy sống ở phương đông, vị ấy chế ngự được sự bất mãn (prevail over discontent), và sự bất mãn (discontent) không chế ngự được vị ấy. Nếu vị ấy sống ở phương tây … phương bắc … phương nam, vị ấy chế ngự được sự bất mãn, và sự bất mãn không chế ngự được vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì người tinh cần (attentive / người siêng năng, chú tâm) chế ngự được tham ái (desire) và sự bất mãn.

Sự bất mãn không thể chế ngự người tinh cần;
Người tinh cần không bị sự bất mãn chế ngự.
Người tinh cần có thể chế ngự sự bất mãn,
Vì người tinh cần là những người chế ngự sự bất mãn.

Ai có thể cản được người đoạn trừ (dispeller),
Người đã từ bỏ mọi nghiệp (who’s thrown away all deeds)?
Như một khối vàng Diêm Phù Đàn (Pendant of Black Plum River gold / loại vàng ròng tốt nhất từ sông Jambu),
Ai xứng đáng chê trách (criticize) họ?
Ngay cả chư thiên cũng tán thán họ,
Và bởi Phạm thiên (Divinity), họ cũng được tán thán."

(VIII) (28) Truyền Thống.

1. - Có bốn truyền thống bậc Thánh này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại y nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại y nào, không vì nhân y phục rơi vào sự tầm cầu bất chính, không thích hợp. Nếu không được y, không có lo âu tiếc nuối; nếu được y không có tham lam, mê say, tham đắm; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ y, không vì biết đủ với bất cứ loại y nào, không có khen mình chê người. Ai ở đây, không khéo (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đấy gọi là Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào…

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại khất thực nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại khất thực nào, không vì nhân khất thực rơi vào sự tầm cầu bất chính, không thích hợp. Nếu không được đồ ăn khất thực, không có lo âu tiếc nuối; nếu được đồ ăn khất thực, không có tham lam, mê say, tham đắm; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ đồ ăn khất thực, không vì biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, không có khen mình, chê người. Ai ở đây khôn khéo (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại sàng tọa nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại sàng tọa nào, không vì nhân sàng tọa rời vào sự tầm cầu bất chính, không thích hợp. Nếu không được sàng tọa, không có lo âu tiếc nuối; nếu được sàng tọa, không có tham lam, mê say, đắm đuối; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ sàng tọa, không có khen mình chê người. Ai ở đây khôn khéo, (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận, nhưng không vì ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận mà khen mình chê người. Ai ở đây khôn khéo, không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đứng trên Thánh truyền thông, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

Bốn truyền thống bậc Thánh này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.

2. Thành tựu bốn Thánh truyền thống này, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trú ở phương Ðông, vị ấy nhiếp phục không hoan hỷ, không hoan hỷ không nhiếp phục vị ấy. Nếu trú ở phương Tây, vị ấy nhiếp phục không hoan hỷ, không hoan hỷ không nhiếp phục vị ấy. Nếu trú ở phương Bắc, vị ấy nhiếp phục không hoan hỷ, không hoan hỷ không nhiếp phục vị ấy. Nếu trú ở phương Nam, vị ấy nhiếp phục không hoan hỷ, không hoan hỷ không nhiếp phục vị ấy. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì bậc trí nhiếp phục không hoan hỷ và hoan hỷ.

Hoan hỷ không nhiếp phục,
Không nhiếp phục bậc trí,
Không hoan hỷ không nhiếp,
Không nhiếp phục bậc trí,
Bậc trí nhiếp phục được,
Nhiếp phục không hoan hỷ.
Vị xóa bỏ mọi nghiệp,
Trừ khử và ngăn chặn,
Như vàng ròng Diêm-phù.
Ai xứng đáng cất giữ?
Chư Thiên khen vị ấy,
Phạm thiên cũng tán thán.\

AN 4.29 Dấu Chân Pháp Dhammapadasutta

"Này các Tỳ kheo, bốn dấu chân Pháp (footprints of the Dhamma / những nền tảng của Giáo pháp) này là nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không tạp loạn, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ cũng như sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không xem thường chúng. Bốn điều gì? Sự tri túc, từ tâm (good will / lòng nhân ái, thiện ý), chánh niệm (right mindfulness / sự nhớ nghĩ đúng đắn, tỉnh thức), và chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn, thiền định đúng đắn).

Bốn dấu chân Pháp này là nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không tạp loạn, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ cũng như sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không xem thường chúng.

Bạn nên sống với sự tri túc,
Và một trái tim từ ái,
Chánh niệm, với tâm thống nhất (unified mind),
Nội tâm tịch tĩnh (serene within)."

(IX) (29) Pháp Cú

1. - Có bốn pháp cú này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là bốn?

Không tham, này các Tỷ-kheo, là pháp cú được biết là tối sơ… có trí quở trách. Không sân, này các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, là pháp cú được biết là tối sơ… có trí quở trách. Chánh niệm, này các Tỷ-kheo, là pháp cú được biết là tối sơ… có trí quở trách. Chánh định, này các Tỷ-kheo, là pháp cú được biết là tối sơ… có trí quở trách.

Bốn pháp cú này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thông, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. 2.

Hãy sống không có tham,
Với tâm không có sân,
Chánh niệm và nhất tâm,
Nội tâm khéo định tĩnh.\

AN 4.30 Các Du Sĩ Ngoại Đạo Paribbājakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, có nhiều du sĩ ngoại đạo (wanderers / các nhà tu hành lang thang thuộc tôn giáo khác) rất nổi tiếng đang cư trú tại tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī. Trong số đó có Annabhāra, Varadhara, Sakuludāyī, và các du sĩ ngoại đạo rất nổi tiếng khác. Vào buổi chiều muộn, Đức Phật rời khỏi nơi độc cư và đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với các du sĩ ngoại đạo:

"Này các du sĩ ngoại đạo, bốn dấu chân Pháp này là nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không tạp loạn, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ cũng như sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không xem thường chúng. Bốn điều gì? Sự tri túc … Từ tâm … Chánh niệm … Chánh định … Bốn dấu chân Pháp này là nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không tạp loạn, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị tạp loạn bây giờ cũng như sẽ không bị như vậy trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không xem thường chúng.

Này các du sĩ ngoại đạo, nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ bác bỏ dấu chân Pháp về sự tri túc này, và mô tả một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại tham đắm các dục với lòng ham muốn mãnh liệt (covets sensual pleasures with acute lust).’ Thì Ta sẽ nói với họ: ‘Hãy để họ đến, nói, và thảo luận. Chúng ta sẽ xem họ mạnh mẽ đến đâu.’ Hoàn toàn không thể bác bỏ dấu chân Pháp về sự tri túc này, và chỉ ra một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại tham đắm các dục với lòng ham muốn mãnh liệt.

Nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ bác bỏ dấu chân Pháp về từ tâm này, và mô tả một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại có sân hận và ác ý (ill will and malicious intent).’ Thì Ta sẽ nói với họ: ‘Hãy để họ đến, nói, và thảo luận. Chúng ta sẽ xem họ mạnh mẽ đến đâu.’ Hoàn toàn không thể bác bỏ dấu chân Pháp về từ tâm này, và chỉ ra một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại có sân hận và ác ý.

Nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ bác bỏ dấu chân Pháp về chánh niệm này, và mô tả một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại thất niệm, bất tỉnh giác (unmindful, with no situational awareness / không có niệm, không biết rõ).’ Thì Ta sẽ nói với họ: ‘Hãy để họ đến, nói, và thảo luận. Chúng ta sẽ xem họ mạnh mẽ đến đâu.’ Hoàn toàn không thể bác bỏ dấu chân Pháp về chánh niệm này, và chỉ ra một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại thất niệm, không tỉnh giác.

Nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ bác bỏ dấu chân Pháp về chánh định này, và mô tả một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại có tâm tán loạn, phóng dật (scattered, with straying mind).’ Thì Ta sẽ nói với họ: ‘Hãy để họ đến, nói, và thảo luận. Chúng ta sẽ xem họ mạnh mẽ đến đâu.’ Hoàn toàn không thể bác bỏ dấu chân Pháp về chánh định này, và chỉ ra một Sa môn hay Bà la môn chân chính lại có tâm tán loạn, phóng dật.

Nếu bất kỳ ai tưởng tượng rằng họ có thể chỉ trích và bác bỏ bốn dấu chân Pháp này, họ đáng bị sự phản bác và chỉ trích (rebuttal and criticism) trên bốn lý do chính đáng (legitimate grounds) ngay trong đời này. Bốn lý do nào?

Nếu bạn bác bỏ dấu chân Pháp về sự tri túc, thì bạn phải tôn vinh và ca ngợi những Sa môn và Bà la môn tham đắm các dục với lòng ham muốn mãnh liệt.

Nếu bạn bác bỏ dấu chân Pháp về từ tâm, bạn phải tôn vinh và ca ngợi những Sa môn và Bà la môn có sân hận và ác ý.

Nếu bạn bác bỏ dấu chân Pháp về chánh niệm, thì bạn phải tôn vinh và ca ngợi những Sa môn và Bà la môn thất niệm, không tỉnh giác.

Nếu bạn bác bỏ dấu chân Pháp về chánh định, bạn phải tôn vinh và ca ngợi những Sa môn và Bà la môn có tâm tán loạn, phóng dật.

Nếu bất kỳ ai tưởng tượng rằng họ có thể chỉ trích và bác bỏ bốn dấu chân Pháp này, họ đáng bị sự phản bác và chỉ trích trên bốn lý do chính đáng ngay trong đời này.

Ngay cả những du sĩ ngoại đạo thời quá khứ, Vassa và Bhañña ở Ukkalā, những người theo thuyết vô nhân, vô hành, vô hữu (doctrines of no-cause, inaction, and nihilism / các học thuyết cho rằng không có nguyên nhân, không có hành động tạo tác, không có gì tồn tại), cũng không tưởng tượng rằng bốn dấu chân Pháp này nên bị chỉ trích hay bác bỏ. Tại sao vậy? Vì sợ bị khiển trách, chỉ trích và bắt lỗi (blamed, criticized, and faulted).

Người có từ tâm, luôn chánh niệm,
Nội tâm tịch tĩnh,
Tu tập để đoạn trừ tham ái,
Được gọi là ‘người tinh cần’."

(X) (30) Các Du Sĩ

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijihakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, nhiều du sĩ danh tiếng, có danh tiếng, sống tại khu vườn du sĩ trên bờ sông Sappini, như các du sĩ Annabhàra, Varadhara, Sakuludàyi, và một số du sĩ có danh tiếng khác.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến khu vườn của các du sĩ trên bờ sông Sappini, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

2. Có bốn pháp cú này, này các Du sĩ, được biết là tối sơ… (giống như kinh số 29, chỉ khác là kinh này nói với các Du sĩ, không phải với các Tỷ-kheo như kinh trước và không có bài kệ)…\

Này các Du sĩ, có bốn pháp cú này được biết là tối sơ… không bị quở trách.

3. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú không tham này; tuy vậy vị ấy vẫn có lòng tham, tham đắm sắc bén trong các dục”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên. Hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra, rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn như vậy đã tự mình chứng được pháp cú không tham sẽ được nêu rõ là có lòng tham, tham đắm sắc bén trong các dục. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú không sân này, tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn có sân, trong ý vẫn có tư duy hiềm hận”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên, hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra: rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn đã tự chứng được pháp cú không sân này sẽ được nêu rõ là tâm vẫn có sân, trong ý vẫn có tư duy hiềm hận. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú chánh niệm này, tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn thất niệm, không có tỉnh giác”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên, hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra: rằng một Sa-môn hay Bà-lamôn, đã tự mình chứng được pháp cú chánh niệm sẽ được nêu rõ là thất niệm không có tỉnh giác”. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú chánh định này, tuy vậy vị ấy vẫn không định tĩnh, tâm vẫn dao động”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên. Hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra, rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn đã tự mình chứng được pháp cú chánh định, sẽ được nêu rõ là không định tĩnh, tâm vẫn dao động.

4. Này các Du sĩ, nếu có ai nghĩ rằng, cần phải chỉ trích, cần phải bài xích bốn pháp cú này, thời ngay trong hiện tại, bốn sự phản kháng chỉ trích xứ đúng pháp được khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn?

Nếu Tôn giả chỉ trích, bài xích pháp cú không tham, thời các Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lòng tham, có lòng tham sắc bén đối với các dục, các vị ấy cần phải được Tôn giả đảnh lễ, các vị ấy cần phải được Tôn giả tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích pháp cú không sân… chỉ trích pháp cú chánh niệm… chỉ trích pháp cú chánh định, thời các Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tâm, tâm bị dao động, các vị ấy cần phải được Tôn giả đảnh lễ, các vị ấy cần phải được Tôn giả tán thán.

5. - Này các Du sĩ, ai nghĩ rằng cần phải chỉ trích, cần phải bài xích bốn pháp cú này, thời ngay trong hiện tại, bốn sự phản kháng chỉ trích xứ đúng pháp này, được khởi lên cho vị ấy. Này các Du sĩ, cho đến các dân chúng ở Ukkala và dân chúng Vassà, dân chúng Bhannà theo vô nhân luận, theo vô tác luận, theo hư vô luận, những vị ấy cũng đã không nghĩ rằng bốn pháp cú này cần phải chỉ trích, cần phải bài xích. Vì cớ sao? Vì sợ bị quở trách, phẫn nộ, công kích.

Thường không sân, chánh niệm,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Tham nhiếp phục, học tập,
Ðược gọi không phóng dật.\