Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Phước Tuôn Chảy

AN 4.51 Phước Tuôn Chảy (1) Paṭhamapuññābhisandasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỳ kheo, có bốn loại dòng phước (overflowing merit / phước báu tuôn chảy), dòng thiện (overflowing goodness / thiện pháp tuôn chảy) này. Chúng nuôi dưỡng an lạc, đưa đến cõi trời, chín muồi trong an lạc và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến lợi ích và an lạc. Bốn loại đó là gì?

Khi một vị Tỳ kheo nhập và an trú trong tâm định vô lượng (limitless immersion of heart / sự tập trung tâm ý không giới hạn) trong khi sử dụng y phục, dòng phước đối với người thí chủ là vô lượng…

Khi một vị Tỳ kheo nhập và an trú trong tâm định vô lượng trong khi thọ dụng vật thực khất thực, dòng phước đối với người thí chủ là vô lượng…

Khi một vị Tỳ kheo nhập và an trú trong tâm định vô lượng trong khi sử dụng chỗ ở, dòng phước đối với người thí chủ là vô lượng…

Khi một vị Tỳ kheo nhập và an trú trong tâm định vô lượng trong khi sử dụng dược phẩm và vật dụng trị bệnh, dòng phước đối với người thí chủ là vô lượng…

Đây là bốn loại dòng phước, dòng thiện. Chúng nuôi dưỡng an lạc, đưa đến cõi trời, chín muồi trong an lạc và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến lợi ích và an lạc.

Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử bậc thánh) có được bốn loại dòng phước và dòng thiện này, thật không dễ để nắm bắt được họ có bao nhiêu phước bằng cách nói rằng đây là mức độ của dòng phước của họ… dẫn đến an lạc. Nó chỉ đơn giản được xem là một khối phước không thể đếm, không thể lường, vĩ đại (incalculable, immeasurable, great mass of merit / khối phước lớn không đếm xuể, không lường được).

Giống như cố gắng nắm bắt xem có bao nhiêu nước trong đại dương. Không dễ để nói có bao nhiêu gallon, bao nhiêu trăm, ngàn, trăm ngàn gallon nước. Nó chỉ đơn giản được xem là một khối nước không thể đếm, không thể lường, vĩ đại.

Cũng vậy, khi một thánh đệ tử có được bốn loại dòng phước này, nó chỉ đơn giản được xem là một khối phước không thể đếm, không thể lường, vĩ đại.

Vô số người dùng nước các sông,
Dù sông ngòi nhiều vô kể,
Tất cả đều đổ về biển lớn, đại dương bao la,
Biển cả hung dữ, nơi chứa đầy bảo vật.

Cũng vậy, khi một người cúng dường
Thức ăn, thức uống, và y phục;
Và họ là người cho giường, ghế, và chiếu—
Các dòng phước chảy về người trí ấy,
Như sông ngòi mang nước về biển cả."

VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước

(I) (51) Phẩm Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (1)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi

2. - Có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai…

… Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ trú xứ của ai… hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

2. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước”; vì rằng cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì nắm lấy một số lượng phước thiện và nói rằng: “có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, đem đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng.

Biển lớn không hạn lượng,
Hồ lớn nhiều sợ hãi,
Là kho tàng cất giữ,
Vô số lượng châu báu,
Cũng là chỗ trú ẩn,
Vô số các loại cá,
Là chỗ các sóng lớn,
Quy tụ chảy ra biển,
Cũng vậy người bố thí,
Ðồ ăn và đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Chỗ ngồi và thảm nệm,
Bậc Hiền thí như vậy,
Phước đức ùa chảy đến,
Như sông dẫn dòng nước,
Ùa chảy vào bể cả.

AN 4.52 Phước Tuôn Chảy (2) Dutiyapuññābhisandasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn loại dòng phước, dòng thiện này. Chúng nuôi dưỡng an lạc, đưa đến cõi trời, chín muồi trong an lạc và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến lợi ích và an lạc. Bốn loại đó là gì?

Đó là khi một thánh đệ tử có tịnh tín bất động (experiential confidence / niềm tin vững chắc dựa trên kinh nghiệm) nơi Đức Phật (Buddha): ‘Vị Thế Tôn (blessed / bậc được tôn kính) ấy là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện), Phật Toàn Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc khéo đi), Thế Gian Giải (knower of the world / bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ điều ngự trượng phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn.’ Đây là loại dòng phước thứ nhất…

Lại nữa, một thánh đệ tử có tịnh tín bất động nơi Pháp (Dhamma): ‘Pháp đã được Đức Phật khéo thuyết (well explained / được giảng giải rõ ràng)—thiết thực hiện tại (apparent in the present life / có thể thấy ngay trong đời này), không có thời gian (immediately effective / có kết quả tức thì), đến để mà thấy (inviting inspection / mời đến để tự mình xem xét), hướng thượng (relevant / có khả năng dẫn dắt), được người trí tự mình giác hiểu (sensible people can know it for themselves / người có trí tuệ có thể tự mình hiểu rõ).’ Đây là loại dòng phước thứ hai…

Lại nữa, một thánh đệ tử có tịnh tín bất động nơi Tăng đoàn (Saṅgha): ‘Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật là những vị diệu hạnh (practicing the way that’s good / thực hành tốt đẹp), trực hạnh (sincere / thực hành ngay thẳng), như lý hạnh (systematic / thực hành đúng đắn), và chánh hạnh (proper / thực hành chân chính). Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi tám chúng (four pairs, the eight individuals / bốn đôi vị, tám bậc cá nhân). Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận lễ vật), đáng được tôn trọng (worthy of hospitality / xứng đáng được tiếp đón), đáng được bố thí (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận vật phẩm cúng dường), đáng được chắp tay (worthy of greeting with joined palms / xứng đáng được kính lễ), và là ruộng phước vô thượng ở đời (supreme field of merit for the world / là mảnh đất phước báu cao quý nhất trên đời).’ Đây là loại dòng phước thứ ba…

Lại nữa, giới hạnh (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một thánh đệ tử được bậc thánh yêu quý (loved by the noble ones / được các bậc thánh ưa thích), không bể vụn (unbroken / không bị phá vỡ), không tì vết (impeccable / không có lỗi lầm), không uế nhiễm (spotless / không bị ô uế), và không ô trược (unmarred / không bị hoen ố), đem lại giải thoát (liberating / giúp giải thoát), được người trí tán thán (praised by sensible people / được người có trí tuệ khen ngợi), không bị chấp thủ (not mistaken / không bị sai lầm, không bị bám víu), và đưa đến thiền định (leading to immersion / dẫn đến sự tập trung tâm ý). Đây là loại dòng phước thứ tư…

Đây là bốn loại dòng phước, dòng thiện. Chúng nuôi dưỡng an lạc, đưa đến cõi trời, chín muồi trong an lạc và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến lợi ích và an lạc.

Ai có niềm tin nơi Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy),
Không lay chuyển và vững chắc;
Có giới hạnh tốt đẹp,
Được bậc thánh tán thán và yêu quý;

Ai có lòng tin nơi Tăng đoàn,
Và có chánh kiến (correct view / thấy biết đúng đắn):
Họ được gọi là người thịnh vượng,
Đời sống của họ không vô ích.

Vậy nên người trí hãy chuyên tâm
Vào tín, giới hạnh,
Lòng tin, và tuệ quán Pháp,
Nhớ lời dạy của chư Phật."

(II) (52) Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện… hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Phật; bậc Thế Tôn ấy là bậc ng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn… Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ nhất… hạnh phúc an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ hai… hạnh phúc, an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. ng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ ba… hạnh phúc, an lạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với những giới, được bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ tư… hạnh phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Ai tin giới, hiền thiện,
Bậc Thánh khen, mến chuộng.
Ai tịnh tín chúng Tăng,
Với cái nhìn chánh trực,
Người ấy được họ gọi,
Không phải là người nghèo.
Ðời sống người như vậy,
Không phải đời trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thắng pháp,
Bậc trí chú tâm niệm,
Lời dạy của chư Phật.

AN 4.53 Chung Sống (1) Paṭhamasaṁvāsasutta

Có một thời Đức Phật đang đi trên con đường giữa Madhurā và Verañjā, cùng lúc đó cũng có nhiều gia chủ (householders / chủ nhà, người tại gia), cả nam lẫn nữ. Đức Phật rời khỏi con đường và ngồi dưới gốc cây, nơi các gia chủ nhìn thấy Ngài.

Họ đến gần Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với họ:

"Này các gia chủ, có bốn cách chung sống. Bốn cách đó là gì?

  1. Một ngạ quỷ nam (male zombie / người nam sống như quỷ đói - chỉ người ác) sống với một ngạ quỷ nữ (female zombie / người nữ sống như quỷ đói - chỉ người ác);
  2. Một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên (goddess / vị nữ ở cõi trời - chỉ người thiện);
  3. Một nam thiên (god / vị nam ở cõi trời - chỉ người thiện) sống với một ngạ quỷ nữ;
  4. Một nam thiên sống với một nữ thiên.

Và thế nào là một ngạ quỷ nam sống với một ngạ quỷ nữ? Đó là khi người chồng sát sanh (kills living creatures / giết hại chúng sinh), trộm cắp (steals / lấy của không cho), tà dâm (commits sexual misconduct / quan hệ tình dục bất chính), nói dối (lies / nói lời không thật), và uống rượu và các chất say (consumes beer, wine, and liquor intoxicants / dùng các thứ gây say sưa, nghiện ngập). Người ấy ác giới (unethical / không giữ giới, đạo đức xấu), ác pháp (bad character / có tính cách xấu xa), sống tại gia với tâm đầy vết nhơ keo kiệt (stain of stinginess / sự ô uế của lòng bỏn xẻn), mắng nhiếc, phỉ báng Sa-môn, Bà-la-môn (abusing and insulting ascetics and brahmins / chửi mắng, nói xấu các vị tu sĩ và Bà-la-môn). Và người vợ cũng… ác giới, ác pháp… Đó là cách một ngạ quỷ nam sống với một ngạ quỷ nữ.

Và thế nào là một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên? Đó là khi người chồng… ác giới, ác pháp… Nhưng người vợ không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, hay uống rượu và các chất say. Bà ấy trì giới (ethical / giữ giới, có đạo đức), thiện pháp (good character / có tính cách tốt đẹp), sống tại gia với tâm không còn vết nhơ keo kiệt (rid of the stain of stinginess / tâm không còn ô uế bởi lòng bỏn xẻn), không mắng nhiếc, phỉ báng Sa-môn, Bà-la-môn. Đó là cách một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên.

Và thế nào là một nam thiên sống với một ngạ quỷ nữ? Đó là khi người chồng… trì giới, thiện pháp… Nhưng người vợ… ác giới, ác pháp… Đó là cách một nam thiên sống với một ngạ quỷ nữ.

Và thế nào là một nam thiên sống với một nữ thiên? Đó là khi người chồng… trì giới, thiện pháp… Và người vợ cũng… trì giới, thiện pháp… Đó là cách một nam thiên sống với một nữ thiên.

Đây là bốn cách chung sống.

Khi cả hai đều ác giới,
Keo kiệt và mắng nhiếc,
Thì vợ và chồng
Sống chung như ngạ quỷ.

Khi chồng ác giới,
Keo kiệt và mắng nhiếc,
Nhưng vợ trì giới,
Rộng rãi bố thí (bountiful / hào phóng cúng dường, bố thí), không còn keo kiệt,
Nàng là nữ thiên sống
Với người chồng ngạ quỷ.

Khi chồng trì giới,
Rộng rãi bố thí, không còn keo kiệt,
Nhưng vợ ác giới,
Keo kiệt và mắng nhiếc,
Nàng là ngạ quỷ sống
Với người chồng nam thiên.

Khi cả hai có tín (faithful / có niềm tin) và rộng rãi bố thí,
Biết tự chế (disciplined / có sự kiểm soát, thu thúc), sống đúng pháp (living righteously / sống theo Chánh pháp),
Thì vợ và chồng
Nói lời tốt đẹp với nhau.

Họ có đủ mọi thứ cần thiết,
Nên sống an nhàn.
Kẻ thù của họ nản lòng,
Khi cả hai đồng đẳng về giới hạnh.

Đã thực hành Pháp ở đây,
Cả hai đồng đẳng về giới và hạnh (precepts and observances / các quy tắc đạo đức và cách thực hành),
Họ hoan hỷ ở cõi trời,
Hưởng thụ mọi lạc thú mong muốn."

(III) (53) Sống Chung (1)

1. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Và nhiều nam gia chủ và nữ gia chủ cũng đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới một gốc cây, trên chỗ đã được sửa soạn. Các nam gia chủ và nữ gia chủ thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ đang ngồi một bên:

2. - Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?

Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chúng với Thiên nữ. Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.

3. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.

4. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này gia chủ, người chồng sát sanh… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.

5. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?

Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Như vậy, này các Gia chủ là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.

6. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-lamôn, và người vợ cũng là người không sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Gia chủ, có bốn loại chung sống này.

Cả hai là ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Cặp vợ và chồng ấy,
Ðê tiện sống đê tiện.
Chồng là người ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Như vậy vợ Thiên nữ
Sống với chồng đê tiện.
Chồng là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Vợ là đê tiện nữ,
Chúng sống chồng, Thiên nam.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng.
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành.
Ở đây sống theo pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều cầu mong.

AN 4.54 Chung Sống (2) Dutiyasaṁvāsasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn cách chung sống. Bốn cách đó là gì?

  1. Một ngạ quỷ nam sống với một ngạ quỷ nữ;
  2. Một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên;
  3. Một nam thiên sống với một ngạ quỷ nữ;
  4. Một nam thiên sống với một nữ thiên.

Và thế nào là một ngạ quỷ nam sống với một ngạ quỷ nữ? Đó là khi người chồng sát sanh, trộm cắp, tà dâm; người ấy dùng lời nói dối, nói đâm thọc (divisive speech / nói lời chia rẽ), nói lời thô ác (harsh speech / nói lời độc ác, cộc cằn), hay nói lời phù phiếm (nonsensical speech / nói lời vô ích, nhảm nhí); và người ấy tham lam (covetous / mong muốn chiếm đoạt), sân hận (malicious / có lòng ác ý, căm ghét), và có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm). Người ấy ác giới, ác pháp, sống tại gia với tâm đầy vết nhơ keo kiệt, mắng nhiếc, phỉ báng Sa-môn, Bà-la-môn. Và người vợ cũng… ác giới, ác pháp… Đó là cách một ngạ quỷ nam sống với một ngạ quỷ nữ.

Và thế nào là một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên? Đó là khi người chồng… ác giới, ác pháp… Nhưng người vợ không sát sanh, trộm cắp, hay tà dâm. Bà ấy không dùng lời nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô ác, hay nói lời phù phiếm. Và bà ấy không tham lam (contented / biết đủ, không tham muốn), không sân hận (kind-hearted / có lòng từ bi, không ác ý), có chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn). Bà ấy trì giới, thiện pháp, sống tại gia với tâm không còn vết nhơ keo kiệt, không mắng nhiếc, phỉ báng Sa-môn, Bà-la-môn. Đó là cách một ngạ quỷ nam sống với một nữ thiên.

Và thế nào là một nam thiên sống với một ngạ quỷ nữ? Đó là khi người chồng… trì giới, thiện pháp… Nhưng người vợ… ác giới, ác pháp… Đó là cách một nam thiên sống với một ngạ quỷ nữ.

Và thế nào là một nam thiên sống với một nữ thiên? Đó là khi người chồng… trì giới, thiện pháp… Và người vợ cũng… trì giới, thiện pháp… Đó là cách một nam thiên sống với một nữ thiên.

Đây là bốn cách chung sống." …

(IV) (54) Sống Chung (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?

Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chung với Thiên nữ. Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chồng là người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân tâm, tà kiến, ác giới, ác tánh, sống trong gia đình với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân tâm, tà kiến, ác giới, ác tánh, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam chung sống với đê tiện nữ.

3. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh… nhiếc mắng, chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham, không có sân tâm, chánh kiến, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm vị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.

4. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho… nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bàla-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.

5. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-lamôn; và người vợ cũng là người không sát sanh… không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này.

Cả hai là ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Cặp vợ và chồng ấy,
Ðê tiện sống đê tiện,
Chồng là người ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Như vậy vợ Thiên nữ
Sống với chồng đê tiện.
Chồng là người có giới,
Bố thí, không xan tham,
Còn người vợ ác giới,
Xan tham và nhiếc mắng,
Vợ là đê tiện nữ,
Chung sống chồng, Thiên nam.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều cầu mong.

AN 4.55 Đồng Đẳng (1) Paṭhamasamajīvīsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú ở xứ Bhagga, tại Đồi Cá Sấu, trong vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā.

Khi ấy, vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Nakulapitā (householder Nakula’s father), rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Sau đó, gia chủ Nakulapitā và nữ gia chủ Nakulamātā (housewife Nakula’s mother) đến gần Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Nakulapitā thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, từ khi chúng con còn trẻ, và Nakulamātā được gả cho con, con không nhớ đã từng phản bội bà ấy dù chỉ trong ý nghĩ, huống chi là hành động. Chúng con mong muốn được gặp lại nhau cả trong đời này và đời sau.”

Rồi Nakulamātā thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, từ khi chúng con còn trẻ, và con được gả cho Nakulapitā, con không nhớ đã từng phản bội ông ấy dù chỉ trong ý nghĩ, huống chi là hành động. Chúng con mong muốn được gặp lại nhau cả trong đời này và đời sau.”

"Này các gia chủ, nếu vợ chồng muốn gặp lại nhau cả trong đời này và đời sau, họ nên đồng đẳng về tín, giới, thí, tuệ (equals in faith, ethics, generosity, and wisdom / ngang bằng nhau về niềm tin, đạo đức, bố thí và trí tuệ).

Khi cả hai có tín và rộng rãi bố thí,
Biết tự chế, sống đúng pháp,
Thì vợ và chồng
Nói lời tốt đẹp với nhau.

Họ có đủ mọi thứ cần thiết,
Nên sống an nhàn.
Kẻ thù của họ nản lòng,
Khi cả hai đồng đẳng về giới hạnh.

Đã thực hành Pháp ở đây,
Cả hai đồng đẳng về giới và hạnh,
Họ hoan hỷ ở cõi trời,
Hưởng thụ mọi lạc thú mong muốn."

(V) (55) Xứng Ðôi (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:

2. - Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

− Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.

Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu.

AN 4.56 Đồng Đẳng (2) Dutiyasamajīvīsutta

“Này các Tỳ kheo, nếu vợ chồng muốn gặp lại nhau cả trong đời này và đời sau, họ nên đồng đẳng về tín, giới, thí, tuệ. …”

(VI) (56) Xứng Ðôi (2)

(Kinh này giống như kinh trước, nhưng chỉ bắt đầu với lời của Thế Tôn dạy và nói cho các Tỷ-kheo).

AN 4.57 Suppavāsā Suppavāsāsutta

Một thời Đức Phật trú ở xứ Koliya, tại một thị trấn tên là Pajjanika.

Khi ấy, vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của Suppavāsā người Koliya, rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, Suppavāsā tự tay dâng cúng và làm Đức Phật hài lòng với các món ăn tươi ngon đã nấu chín. Khi Đức Phật đã thọ thực xong, rửa tay và bát, bà ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với bà:

"Này Suppavāsā, khi một nữ thánh đệ tử (noble disciple (fem.) / người nữ đệ tử bậc thánh) cúng dường vật thực, bà ấy trao cho người nhận bốn điều. Bốn điều đó là gì? Sống lâu (long life / tuổi thọ), dung sắc (beauty / vẻ đẹp), an lạc (happiness / sự vui vẻ, hạnh phúc), và sức mạnh (strength / sức khỏe, năng lực). Khi cúng dường sự sống lâu, bà ấy sẽ được sống lâu như chư thiên hoặc loài người. Khi cúng dường dung sắc, bà ấy sẽ có dung sắc như chư thiên hoặc loài người. Khi cúng dường an lạc, bà ấy sẽ có an lạc như chư thiên hoặc loài người. Khi cúng dường sức mạnh, bà ấy sẽ có sức mạnh như chư thiên hoặc loài người. Khi một nữ thánh đệ tử cúng dường vật thực, bà ấy trao cho người nhận bốn điều này.

Khi nàng cúng dường vật thực thượng vị (well-prepared food / thức ăn ngon lành, được chuẩn bị kỹ lưỡng),
Thanh tịnh (pure / trong sạch), tinh tế (fine / tốt đẹp, khéo léo), và đầy đủ hương vị (full of flavor / có mùi vị thơm ngon),
Sự cúng dường đó—dâng lên người chân thật (sincere / người ngay thẳng, chân chính),
Người có đức hạnh (good conduct / có phẩm hạnh tốt), và tâm rộng lớn (big-hearted / có tấm lòng quảng đại)—
Kết hợp phước với phước. Nó rất nhiều quả báu,
Và được những người hiểu biết thế gian tán thán.

Những ai nhớ đến sự cúng dường như vậy,
Sống trong đời đầy cảm hứng.
Họ đã nhổ sạch vết nhơ keo kiệt (stain of stinginess / sự ô uế của lòng bỏn xẻn),
Tận gốc rễ,
Không bị chê trách, họ đi đến cõi trời."

(VII) (57) Suppavàsà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koli tại thị trấn của dân chúng Koli tên là Sajjanela. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi đến trú xứ của Suppavàsà, người dân Koli, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Suppavàsà người dân Koli, sau khi tự tay mời Thế Tôn dùng cho đến thỏa mãn các món ăn loại cứng và loại mềm, rồi Suppavàsà, thuộc dân tộc Koli, sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Suppavàsà, người dân Koli, đang ngồi một bên:

2. - Các Thánh nữ đệ tử khi bố thí đồ ăn, này Suppavàsà, bố thí bốn sự cho những người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho an lạc, người cho được chia phần an lạc, hoặc thuộc cõi Trời, hoặc thuộc cõi Người. Sau khi cho sức mạnh, người cho được chia phần sức mạnh, thuộc cõi Trời, hay cõi Người. Này Suppavàsà, khi Thánh nữ đệ tử bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự này cho những người nhận.

Cho đồ ăn khéo làm,
Sạch, thù diệu, vị ngon,
Nàng với sự cúng dường,
Bố thí vị chánh trực,
Những vị sống chánh hạnh,
Là những bậc đại hành,
Với đức gặt công đức,
Lại được quả to lớn,
Bậc hiểu biết thế gian,
Có lời tán thán nàng,
ức niệm tế đàn vậy,
Họ dạo quanh thế giới,
Với tâm tư hoan hỷ
Nhiếp phục gốc xan tham,
Không bị ai chỉ trích,
Chứng đạt được cõi Trời.

AN 4.58 Sudatta Sudattasutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (householder Anāthapiṇḍika / Cấp Cô Độc) đến gần Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, khi một thánh đệ tử cúng dường vật thực, họ trao cho người nhận bốn điều. Bốn điều đó là gì? Sống lâu, dung sắc, an lạc, và sức mạnh. Khi cúng dường sự sống lâu, họ sẽ được sống lâu như chư thiên hoặc loài người. … Khi cúng dường dung sắc … an lạc … sức mạnh … Khi một thánh đệ tử cúng dường vật thực, họ trao cho người nhận bốn điều này.

Cẩn thận cúng dường vật thực đúng lúc,
Cho những người tự chế (disciplined / người biết kiểm soát, thu thúc),
Những người sống nhờ vật thực người khác cúng dường (eating only what others give / sống bằng đồ ăn khất thực),
Ông cung cấp cho họ bốn điều:
Sống lâu, dung sắc, an lạc, và sức mạnh.

Người cúng dường sự sống lâu, dung sắc,
An lạc, và sức mạnh,
Sẽ có tuổi thọ dài và danh tiếng
Bất cứ nơi nào họ tái sinh."

(VIII) (58) Sudatta

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, bậc Thánh đệ tử bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự cho người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho an lạc, người cho được chia phần an lạc, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho sức mạnh, người cho được chia phần sức mạnh, thuộc chư Thiên hay loài Người. Này Gia chủ, người Thánh đệ tử bố thí món ăn, bố thí bốn sự này cho những người nhận.

Những ai khéo chế ngự,
Sống nhờ người bố thí,
Ai tùy thời, nhiệt thành,
Bố thí đồ ăn uống,
Ðem lại cho các vị,
Bốn sự kiện như sau,
Cho thọ mạng, dung sắc,
Cho an lạc, sức mạnh,
Vị bố thí thọ mạng,
Vị bố thí sức mạnh,
Người bố thí sức mạnh,
Thọ mạng dài, danh xưng,
Dầu sanh tại chỗ nào.

AN 4.59 Vật Thực Bhojanasutta

“Này các Tỳ kheo, khi một người thí chủ cúng dường vật thực, họ trao cho người nhận bốn điều. Bốn điều đó là gì? Sống lâu, dung sắc, an lạc, và sức mạnh. …”

(IX) (59) Các Ðồ Ăn

1. - Người bố thí đồ ăn, này các Tỷ-kheo, bố thí bốn sự cho người nhận. Thế nào là bốn?

Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc chư Thiên hay loài Người. Sau khi cho dung sắc… cho an lạc… Sau khi cho sức mạnh, được chia phần sức mạnh, thuộc chư Thiên hay loài Người.

Này các Tỷ-kheo, người bố thí các món ăn, bố thí bốn sự này cho người nhận.

Những ai khéo chế ngự,
Sống bố thí người khác,
Ai tùy thời nhiệt thành,
Bố thí đồ ăn uống,
Ðem lại cho các vị,
Bốn sự kiện như sau,
Cho thọ mạng, dung sắc,
Cho an lạc, sức mạnh,
Vị bố thí thọ mạng,
Vị bố thí dung sắc,
Người bố thí an lạc,
Người bố thí sức mạnh,
Thọ mạng dài, danh xưng,
Dầu sanh tại chỗ nào.

AN 4.60 Phận Sự Cư Sĩ Gihisāmīcisutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đến gần Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, khi một thánh đệ tử làm bốn điều, họ đang thực hành phận sự người cư sĩ (practicing appropriately for a layperson / làm đúng trách nhiệm của người tại gia), điều này mang lại danh tiếng và dẫn đến cõi trời. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tử phục vụ Tăng đoàn Tỳ kheo (mendicant Saṅgha / cộng đồng các vị sư khất sĩ) với y phục (robes / áo cà sa), vật thực khất thực (almsfood / đồ ăn xin được), chỗ ở (lodgings / nơi trú ngụ), và dược phẩm trị bệnh (medicines and supplies for the sick / thuốc men và vật dụng cho người bệnh). Khi một thánh đệ tử làm bốn điều này, họ đang thực hành phận sự người cư sĩ, điều này mang lại danh tiếng và dẫn đến cõi trời.

Những người trí (astute / người thông minh, hiểu biết) thực hành con đường
Phù hợp với người cư sĩ.
Họ cúng dường cho người trì giới (ethical / người giữ giới)
người sống chân chánh (rightly comported / người có hành vi đúng đắn) với y phục,

Vật thực khất thực, chỗ ở,
Và vật dụng cho người bệnh.
Phước của họ luôn tăng trưởng
Ngày cũng như đêm.
Họ sẽ tái sinh về cõi trời,
Nhờ đã làm những việc thiện lành."

(X) (60) Bổn Phận Người Gia Chủ

Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

− Thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử hộ trì chúng Tỷ-kheo, hộ trì chúng Tỷ-kheo với y, hộ trì chúng Tỷ-kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỷ-kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỷ-kheo với dược phẩm trị bệnh.

Thành tựu với bốn pháp này, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời.

Bậc Hiền trí thực hiện,
Con đường thật xứng đáng,
Của người làm gia chủ,
Hộ trì bậc có giới,
Bậc sở hành chơn chánh,
Hộ trì với y áo,
Với đồ ăn khất thực,
Sàng tọa, thuốc trị bệnh,
Công đức họ tăng trưởng,
Thường hằng, ngày lẫn đêm,
Do làm nghiệp hiền thiện,
Ði đến cảnh chư Thiên