Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Hành vi Thực chất

AN 4.61 Hành vi Phù hợp Pattakammasutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, có bốn điều này đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng nhưng khó đạt được ở đời. Bốn điều gì? Điều thứ nhất là ước muốn: ‘Mong sao tài sản đến với ta bằng phương tiện hợp pháp (legitimate means / cách thức đúng đắn)!’

Điều thứ hai, sau khi có được tài sản bằng phương tiện hợp pháp, là ước muốn: ‘Mong sao danh tiếng đến với ta, cùng với gia đình và các bậc thầy của ta.’

Điều thứ ba, sau khi có được tài sản và danh tiếng, là ước muốn: ‘Mong sao ta được sống lâu, duy trì mạng sống thật lâu dài!’

Điều thứ tư, sau khi có được tài sản, danh tiếng và sống lâu, là ước muốn: ‘Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong sao ta được tái sinh vào nơi tốt đẹp, cõi trời!’ Đây là bốn điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, nhưng khó đạt được ở đời.

Bốn điều tiếp theo này dẫn đến việc đạt được bốn điều kia. Bốn điều gì? Thành tựu về tín (faith / niềm tin), giới (ethics / đạo đức), thí (generosity / sự bố thí, cho đi), và tuệ (wisdom / trí tuệ).

Và thế nào là thành tựu về tín? Đó là khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử bậc thánh) có niềm tin vào sự giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức) của Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đây gọi là thành tựu về tín.

Và thế nào là thành tựu về giới? Đó là khi một thánh đệ tử không sát sinh (kill living creatures / giết hại chúng sinh), không trộm cắp (steal / lấy của không cho), không tà dâm (commit sexual misconduct / quan hệ tình dục bất chính), không nói dối (lie / nói lời không thật), không uống rượu và các chất say (consume beer, wine, and liquor intoxicants / dùng các thứ gây nghiện, say sưa). Đây gọi là thành tựu về giới.

Và thế nào là thành tựu về thí? Đó là khi một thánh đệ tử sống tại gia, tâm thoát khỏi vết nhơ xan tham (stinginess / sự keo kiệt), rộng rãi bố thí, tay luôn mở rộng, thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về thí.

Và thế nào là thành tựu về tuệ? Khi tâm bị tham ái (covetousness / lòng tham muốn) và tham lam phi pháp (immoral greed / lòng tham không đúng đắn) chi phối, người ấy làm điều không nên làm, và không làm điều nên làm. Danh tiếng và hạnh phúc của người ấy tan thành tro bụi. Khi tâm bị sân hận (ill will / lòng căm ghét) chi phối… hôn trầm và thụy miên (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ)… trạo cử và hối quá (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận)… nghi (doubt / sự hoài nghi) chi phối, người ấy làm điều không nên làm, và không làm điều nên làm. Danh tiếng và hạnh phúc của người ấy tan thành tro bụi.

Biết rằng ‘tham ái và tham lam phi pháp là phiền não của tâm (corruptions of the mind / sự ô nhiễm của tâm)’, thánh đệ tử ấy từ bỏ chúng. Biết rằng ‘sân hận…’ … ‘hôn trầm và thụy miên…’ … ‘trạo cử và hối quá…’ … ‘nghi là phiền não của tâm’, thánh đệ tử ấy từ bỏ nó.

Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ những điều này, họ được gọi là ‘thánh đệ tử có trí tuệ lớn, trí tuệ rộng khắp, thấy được điều quan trọng, và thành tựu về tuệ’. Đây gọi là thành tựu về tuệ. Đây là bốn điều dẫn đến việc đạt được bốn điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, nhưng khó đạt được ở đời.

Có bốn hành vi phù hợp mà một thánh đệ tử thực hiện với tài sản hợp pháp mà mình kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu thập bằng mồ hôi công sức. Bốn điều gì?

Trước hết, với tài sản hợp pháp của mình, người ấy làm cho bản thân vui vẻ và hài lòng, giữ cho mình hạnh phúc đúng mực. Người ấy làm cho cha mẹ vui vẻ… Người ấy làm cho con cái, vợ/chồng, người hầu, công nhân, và nhân viên vui vẻ… Người ấy làm cho bạn bè và đồng nghiệp vui vẻ… Đây là khoản chi tiêu đầu tiên của người ấy vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp.

Hơn nữa, với tài sản hợp pháp của mình, người ấy tự bảo vệ mình khỏi các mối đe dọa như hỏa hoạn, lũ lụt, vua quan, trộm cướp, hoặc những người thừa kế không mong muốn. Người ấy giữ cho mình được an toàn. Đây là khoản chi tiêu thứ hai của người ấy vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp.

Hơn nữa, với tài sản hợp pháp của mình, người ấy thực hiện năm lễ cúng: cho thân quyến, khách khứa, tổ tiên, vua chúa, và chư thiên. Đây là khoản chi tiêu thứ ba của người ấy vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp.

Hơn nữa, với tài sản hợp pháp của mình, người ấy thiết lập sự cúng dường cao thượng cho các sa-môn (ascetics / người tu khổ hạnh) và bà-la-môn (brahmins / tu sĩ Bà-la-môn giáo)—những người từ bỏ say sưa và phóng dật (intoxication and negligence / say đắm và lơ là), an trú trong nhẫn nại và nhu hòa (patience and sweetness / sự kiên nhẫn và mềm mỏng), và những người tự điều phục, tự tịch tịnh, tự đạt Niết-bàn (tame, calm, and extinguish themselves / tự chế ngự, tự làm lắng dịu, tự mìnhดับ tắt phiền não)—sự cúng dường này đưa đến cõi trời (conducive to heaven / dẫn đến tái sinh ở cõi trời), trổ quả an lạc (ripens in happiness / mang lại kết quả hạnh phúc), và dẫn đến cõi trời. Đây là khoản chi tiêu thứ tư của người ấy vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp.

'Đây là bốn hành vi phù hợp mà một thánh đệ tử thực hiện với tài sản hợp pháp mà mình kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu thập bằng mồ hôi công sức.

Bất kỳ tài sản nào được chi tiêu vào việc khác ngoài bốn hành vi phù hợp này được cho là không phải chi tiêu vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp. Nhưng bất kỳ tài sản nào được chi tiêu vào bốn hành vi phù hợp này được cho là chi tiêu vào lĩnh vực thích hợp, cho mục đích xứng đáng và phù hợp.

'Ta đã hưởng dụng tài sản của mình,
>Nuôi dưỡng những người phụ thuộc vào ta;
Ta đã vượt qua những mất mát;
Ta đã cúng dường cao thượng;
Và thực hiện năm lễ cúng.
Ta đã phục vụ những người có giới hạnh và
Những người tu hành có kỷ luật.

Ta đã đạt được mục đích
Mà một người cư sĩ khôn ngoan
Mong muốn khi kiếm tìm tài sản.
Ta không hối tiếc những gì đã làm.’

Một người phàm nhớ lại điều này
Đứng vững trong giáo pháp của các bậc thánh.
Họ được tán dương trong đời này,
Và ra đi để vui hưởng cõi trời."

VII. Phẩm Nghiệp Công Ðức

(I) (61) Bốn Nghiệp Công Ðức

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Có bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. Thế nào là bốn?

“Mong rằng tài sản khởi lên cho ta đúng pháp”. Ðây là pháp thứ nhất, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, mong rằng tiếng tốt được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy”. Ðây là pháp thứ hai, khả lạc… khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, mong rằng ta sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dài”. Ðây là pháp thứ ba, khả lạc… khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, sau khi được sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dài, mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này”. Ðây là pháp thứ tư, khả lạc… khó được ở đời.

Bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời.

3. Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp đưa đến chứng được những pháp ấy. Thế nào là bốn?

Ðầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ.

4. Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ lòng tin? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: Vị này là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ lòng tin.

5. Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ giới? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ giới.

6. Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ bố thí? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ vật bố thí. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ bố thí.

7. Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ trí tuệ? Này Gia chủ, sống với tâm vị dục tham chinh phục, làm việc không nên làm, không làm việc nên làm. Do làm việc không nên làm, không làm việc nên làm, vị ấy rời khỏi danh tiếng và an lạc. Này Gia chủ, sống với tâm vị sân hận chinh phục… sống với tâm bị hôn trầm thụy miên chinh phục… sống với tâm bị trạo hối chinh phục… sống với tâm bị nghi chinh phục, làm việc không nên làm, không làm việc đáng làm; do làm việc không nên làm, không làm việc đáng làm, vị ấy rời khỏi danh tiếng và an lạc.

8. Này Gia chủ, Thánh đệ tử ấy, sau khi biết được dục tham là uế nhiễm của tâm, từ bỏ dục tham uế nhiễm của tâm; sau khi biết được sân hận là uế nhiễm của tâm, từ bỏ sân hận, uế nhiễm của tâm; sau khi biết được hôn trầm thụy miên là uế nhiễm của tâm; sau khi biết được trạo hối là uế nhiễm của tâm; sau khi biết được nghi là uế nhiễm của tâm, từ bỏ nghi, uế nhiễm của tâm; này Gia chủ, đây gọi là vị Thánh đệ tử có đại trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn, bước vào giới vức minh kiến, đầy đủ trí tuệ. Ðây gọi là đầy đủ trí tuệ.

Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp này đưa đến chứng được những pháp ấy.

9. Vị Thánh đệ tử ấy, này Gia chủ, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, là người đã làm bốn hành động. Thế nào là bốn?

10. Ở đây, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tự làm mình an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc, giúp cha mẹ được an lạc hoan hỷ, giúp vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc, giúp bạn bè thân hữu được an lạc hoan hỷ, là người chơn chánh đem lại an lạc. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ nhất, vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

11. Lại nữa, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, với tài sản ấy, tự làm cho mình được an toàn, chống lại những tai họa từ lửa đến, từ nước đến, từ vua đến, từ ăn trộm đến, từ các thừa tự thù nghịch đến. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ hai vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

12. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy, vị ấy tổ chức năm loại lễ hiến cúng, hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ ba vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

13. Lại nữa, này Gia chủ, Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp, đối với những vị Sa-môn, Bàla-môn sống từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, an trú trên nhẫn nhục, nhu hòa, an tịnh tự mình, nhiếp phục tự mình, làm lắng dịu tự mình; đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy, vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, thuộc về cõi Trời, đem đến quả lạc dị thục, đưa đến Thiên giới. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ tư vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

14. Vị Thánh đệ tử ấy, này Gia chủ, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp; với tài sản ấy, vị ấy là người đã làm được bốn hành động này. Nếu tài sản của ai, này Gia chủ, được tiêu dùng không đúng với bốn hành động này, những tài sản này được gọi là tài sản đi đến không lợi ích, đi đến không thành đạt, đạt được sự hưởng thọ không đúng phương xứ. Nếu những tài sản của ai, này Gia chủ, được tiêu dùng với bốn hành động này, những tài sản này được gọi là những tài sản đi đến lợi ích, đi đến thành đạt, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

Tài sản ta thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa,
Ta cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Hộ trì bậc trì giới,
Bậc tự điều, Phạm hạnh,
Mục đích gì bậc trí,
Trú nhà, cầu tài sản,
Mục đích ấy Ta đạt,
Ðược làm không hối hận.
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên Thánh pháp,
Ðời này được tán thán,
Ðời sau được hoan hỷ,
Trên cảnh giới chư Thiên.\

AN 4.62 Không Nợ Nần Ānaṇyasutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, có bốn loại hạnh phúc này mà một người cư sĩ hưởng dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan) có thể đạt được, tùy theo thời điểm và hoàn cảnh. Bốn loại gì? Hạnh phúc sở hữu (happiness of ownership / niềm vui có tài sản), hạnh phúc hưởng dụng (happiness of using wealth / niềm vui sử dụng tài sản), hạnh phúc không nợ nần (happiness of debtlessness / niềm vui không mắc nợ), và hạnh phúc không bị chê trách (happiness of blamelessness / niềm vui không có lỗi lầm).

Và thế nào là hạnh phúc sở hữu? Đó là khi một người lương thiện sở hữu tài sản hợp pháp mà mình kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu thập bằng mồ hôi công sức. Khi suy ngẫm về điều này, người ấy tràn đầy vui sướng và hạnh phúc. Đây gọi là ‘hạnh phúc sở hữu’.

Và thế nào là hạnh phúc hưởng dụng? Đó là khi một người lương thiện sử dụng tài sản hợp pháp của mình và tạo phước (merit / công đức) với tài sản đó. Khi suy ngẫm về điều này, người ấy tràn đầy vui sướng và hạnh phúc. Đây gọi là ‘hạnh phúc hưởng dụng’.

Và thế nào là hạnh phúc không nợ nần? Đó là khi một người lương thiện không mắc nợ ai, dù lớn hay nhỏ. Khi suy ngẫm về điều này, người ấy tràn đầy vui sướng và hạnh phúc. Đây gọi là ‘hạnh phúc không nợ nần’.

Và thế nào là hạnh phúc không bị chê trách? Đó là khi một thánh đệ tử có hành vi không thể chê trách (blameless conduct / cách cư xử không có lỗi) về thân, khẩu, và ý. Khi suy ngẫm về điều này, người ấy tràn đầy vui sướng và hạnh phúc. Đây gọi là ‘hạnh phúc không bị chê trách’.

Đây là bốn loại hạnh phúc mà một người cư sĩ hưởng dục lạc có thể đạt được, tùy theo thời điểm và hoàn cảnh.

Biết hạnh phúc không nợ nần,
Và thêm hạnh phúc sở hữu,
Người phàm hưởng hạnh phúc dùng của,
Rồi sáng suốt thấy rõ bằng trí tuệ.

Thấy rõ, người khôn ngoan biết
Cả hai loại hạnh phúc:
Loại kia không bằng một phần mười sáu
Của hạnh phúc không bị chê trách."

(II) (62) Không Nợ

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên: 2. - Có bốn loại an lạc này, ngày Gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn? Lạc sở hữu, lạc thọ dụng, lạc không mắc nợ, lạc không phạm tội.

3. Và này Gia chủ, thế nào là lạc sở hữu?

Ở đây, này Gia chủ, tài sản của người thiện nam tử, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Vị ấy suy nghĩ: “Ta có tài sản, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay… thâu hoạch đúng pháp.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc sở hữu.

4. Và này, thế nào là lạc tài sản?

Ở đây, này Gia chủ, thiện nam tử thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được… thâu hoạch đúng pháp và làm các việc phước đức. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… thâu hoạch đúng pháp và ta làm các phước đức.” Nghĩ vậy vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc tài sản.

5. Và này Gia chủ, thế nào là lạc không mắc nợ? Ở đây, này Gia chủ, vị thiện gia nam tử không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc không mắc nợ.

6. Và này Gia chủ, thế nào là lạc không phạm tội?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu thân hành không phạm tội, thành tựu khẩu hành không phạm tội, thành tựu ý hành không phạm tội. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thành tựu thân hành không phạm tội, khẩu hành không phạm tội, ý hành không phạm tội”. Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc không phạm tội.

Có bốn loại lạc này, này Gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ, khởi lên cho vị ấy.

Ðược lạc không mắc nợ,
Nhớ đến lạc sở hữu,
Người hưởng lạc tài sản,
Với tuệ, thấy như thị,
Do thấy, vị ấy biết,
Sáng suốt cả hai phần,
Lạc vậy chỉ bằng được,
Bằng một phần mười sáu,
Lạc không có phạm tội.\

AN 4.63 Sống với Phạm Thiên Brahmasutta

"Này các Tỳ kheo, một gia đình mà con cái tôn kính cha mẹ trong nhà mình được cho là sống với Phạm thiên (Divinity / vị trời Phạm thiên). Một gia đình mà con cái tôn kính cha mẹ trong nhà mình được cho là sống với đạo sư đầu tiên (first tutors / người thầy đầu tiên). Một gia đình mà con cái tôn kính cha mẹ trong nhà mình được cho là sống với vị trời xưa (old deities / vị thần cổ xưa). Một gia đình mà con cái tôn kính cha mẹ trong nhà mình được cho là sống với những người đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận lễ vật).

‘Phạm thiên’ là một thuật ngữ chỉ cha mẹ của các con.

‘Đạo sư đầu tiên’ là một thuật ngữ chỉ cha mẹ của các con.

‘Vị trời xưa’ là một thuật ngữ chỉ cha mẹ của các con.

‘Đáng được cúng dường’ là một thuật ngữ chỉ cha mẹ của các con.

Tại sao vậy? Cha mẹ rất hữu ích đối với con cái, họ nuôi nấng, dưỡng dục và chỉ cho chúng thấy thế giới.

Cha mẹ được gọi là ‘Phạm thiên’
Và ‘đạo sư đầu tiên’.
Họ đáng được cúng dường
>Từ con cái của họ,
Vì họ yêu thương con cháu.

Do đó, người khôn ngoan
Sẽ tôn kính và hiếu dưỡng họ
Bằng thức ăn và đồ uống,
Quần áo và giường nằm,
Bằng cách xoa bóp và tắm rửa,
Và bằng cách rửa chân cho họ.

Bởi vì họ chăm sóc
Cha mẹ mình như thế,
Họ được người khôn ngoan ca ngợi trong đời này,
Và ra đi để vui hưởng cõi trời."

(III) (63) Bằng Với Phạm Thiên

1. - Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như bậc Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy, này các Tỷ-kheo, được xem là giống như chư Thiên thời trước. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là đáng được cúng dường.

2. Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các bậc Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; chư Thiên thuở xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; đáng được cung kính cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì mẹ cha giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và giới thiệu chúng vào đời này.

Mẹ cha gọi Phạm thiên,
Bậc Ðạo sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương đến con cháu,
Do vậy bậc Hiền sĩ,
Ðảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp cả thân mình,
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Ðối với mẹ và cha,
Ðời này người hiền khen,
Ðời sau hưởng Thiên lạc.\

AN 4.64 Địa Ngục Nirayasutta

"Này các Tỳ kheo, người có bốn phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục (hell / cõi khổ đau tột cùng). Bốn phẩm chất gì? Họ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, và nói dối. Người có bốn phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Giết hại, trộm cắp,
Nói dối,
Và xâm phạm vợ người khác:
Người khôn ngoan không tán dương những điều này."

(IV) (64) Ðịa Ngục

1. - Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rời vào địa ngục. Với bốn pháp gì? sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

Sát sanh và trộm cắp,
Cái được gọi nói láo,
Và đi đến vợ người,
Bậc trí không tán thán.\

AN 4.65 Sắc Tướng Rūpasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Bốn hạng người nào? Có những người đánh giá và tin tưởng người khác dựa trên sắc tướng (appearance / hình dáng bên ngoài), dựa trên âm thanh (voice / giọng nói), dựa trên sự khổ hạnh (mortification / sự ép xác tu khổ hạnh), và dựa trên pháp (principle / giáo pháp, nguyên tắc).

Đây là bốn hạng người được tìm thấy trên thế gian.

Những người xét đoán qua sắc tướng,
Và những người bị giọng nói lung lạc,
Đầy tham muốn và tham lam;
Những người đó thật không hiểu biết.

Không biết những gì bên trong,
Cũng không thấy những gì bên ngoài,
Kẻ ngu bị che lấp mọi bề,
Bị cuốn đi bởi một giọng nói.

Không biết những gì bên trong,
Nhưng phân biệt những gì bên ngoài,
Thấy quả trái bên ngoài,
Họ cũng bị cuốn đi bởi một giọng nói.

Hiểu rõ những gì bên trong,
Và phân biệt những gì bên ngoài,
Thấy rõ không chướng ngại,
Họ không bị cuốn đi bởi một giọng nói."

(V) (65) Hình Thức Bên Ngoài

1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Hạng người đo lường sắc và thỏa mãn với sắc; hạng người đo lường tiếng và thỏa mãn với tiếng; hạng người đo lường với thô và thỏa mãn với thô; hạng người đo lường với pháp và thỏa mãn với pháp. Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

Những ai đo lường sắc,
Những ai đi đến tiếng,
Bị tham dục dắt dẫn,
Chúng không biết người ấy.
Không biết được nội tâm,
Không thấy được ngoại cảnh,
Kẻ ngu bị bao quanh,
Bị tiếng nói chi phối,
Không biết được nội tâm,
Quán thấy được ngoại cảnh,
Thấy được quả ở ngoài,
Bị tiếng nói chi phối.
Rõ biết được nội tâm,
Quán thấy được ở ngoài,
Thấy rõ không chướng ngại,
Không bị tiếng chi phối.

AN 4.66 Tham Lam Sarāgasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Bốn hạng người nào? Người tham lam (greedy / người có lòng tham), người sân hận, người si mê (delusional / người mê muội), và người kiêu mạn (conceited / người tự cao tự đại).

Đây là bốn hạng người được tìm thấy trên thế gian.

Đầy ham muốn những thứ đáng ham,
Thích thú những điều có vẻ dễ chịu,
Chúng sinh bị si mê che phủ
Chỉ càng siết chặt thêm ràng buộc.

Sinh ra từ tham, sinh ra từ sân,
Sinh ra từ si: kẻ vô minh
Làm những nghiệp bất thiện (unskillful deeds / hành động xấu ác)
Gây khổ não và sinh đau đớn.

Nếu bạn hành động theo những phẩm chất này,
>Đó là những gì bạn trở thành.
Nhưng những người bị vô minh bao phủ,
Mù lòa, không có mắt để thấy,
Và họ không bao giờ tưởng tượng rằng điều này có thể xảy ra."

(VI) (66) Tham Ái

1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Có tham, có sân, có si, có mạn. Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt hiện hữu ở đời.

Tham ái vật đẹp đẽ,
Thích thú sắc khả ái,
Bị cột bởi vô minh,
Các hữu tình hạ liệt,
Càng tăng trưởng trói buộc.
Cho đến kẻ có trí,
Làm các việc bất thiện,
Sanh từ tham, sân, si,
Khiến phiền muộn, khó chịu,
Làm đau khổ sanh khởi,
Kẻ vô minh bao vây,
Kẻ mù không có mắt,
Tự tánh họ là vậy,
Họ không thể nghĩ rằng,
Ta có thể như vậy.

AN 4.67 Vua Rắn Ahirājasutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Sāvatthī (Xá-vệ), trong vườn Jeta (Kỳ-đà), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Bấy giờ, tại Sāvatthī có một vị Tỳ kheo bị rắn cắn chết. Sau đó, một số Tỳ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, một vị Tỳ kheo ở Sāvatthī đã bị rắn cắn chết.”

"Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo ấy hẳn đã không rải tâm từ (mind of love / lòng thương yêu) đến bốn dòng vua rắn (royal snake families / các loài rắn vương giả). Nếu vị ấy đã làm vậy, vị ấy đã không chết vì rắn cắn.

Bốn dòng nào? Các dòng vua rắn Virūpakkha, Erāpatha, Chabyāputta, và Kaṇhāgotamaka. …

Này các Tỳ kheo, Ta khuyên các con hãy rải tâm từ đến bốn dòng vua rắn, vì sự an toàn, an ổn, và bảo vệ cho chính mình.

Ta thương yêu dòng Virūpakkha,
Dòng Erāpatha ta thương yêu,
Ta thương yêu dòng Chabyāputta,
Dòng Kaṇhāgotamaka ta thương yêu.

Ta thương yêu loài không chân,
Loài hai chân ta thương yêu,
Ta thương yêu loài bốn chân,
Loài nhiều chân ta thương yêu.

Mong loài không chân đừng hại ta!
Mong ta không bị hại bởi loài hai chân!
Mong loài bốn chân đừng hại ta!
Mong ta không bị hại bởi loài nhiều chân!

Tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật,
Tất cả mọi loài, mỗi một loài:
Mong chúng chỉ thấy điều tốt đẹp,
Mong điều xấu không đến với ai.

Phật là vô lượng,
Pháp là vô lượng,
Tăng đoàn là vô lượng.
Nhưng hữu hạn là các loài bò sát,

Rắn và bọ cạp, rết,
Nhện và thằn lằn và chuột.
Ta đã tạo sự bảo vệ này, ta đã tạo sự che chở này:
Hãy đi đi, các loài sinh vật!
Và vì vậy ta tôn kính Đức Thế Tôn,
Ta tôn kính bảy vị Phật Toàn Giác."

(VII) (67) Vua Các Loài Rắn

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.

Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

2. - Ở đây, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn đã mệnh chung.

− Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Thế nào là bốn gia đình vua các loài rắn?

Gia đình vua các loài rắn Virùpakkha, gia đình vua các loài rắn Eràpattha, gia đình vua các loài rắn Chabyàputta, gia đình vua các loài rắn Kanhàgotamaka; Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có thể hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Này các Tỷ-kheo, Ta cho phép với từ tâm hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này để tự bảo vệ, để tự hộ trì, để tự che chở.

Ta hãy có từ tâm
Với Virùpakkha,
Ta hãy có từ tâm
Với Eràpatha,
Ta hãy có từ tâm
Với Chabyaputta,
Ta hãy có từ tâm
Với Kanhàgotamaka,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm,
Với các loài nhiều chân,
Mong rằng loài không chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài hai chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài bốn chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài nhiều chân
Không có làm hại ta,
Mọi chúng sanh, hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.

“Ðức Phật là vô lượng, Pháp là vô lượng, chúng Tăng là vô lượng, có lượng là các loài bò sát, các loài rắn, các con bò cạp, các con một trăm chân, các loại nhện giăng tơ, các con thằn lằn và các loài chuột. Ta đã làm sự hộ trì. Ta đã làm sự che chở, mong rằng các loài hữu tình sẽ bỏ đi. Ta đảnh lễ Ðức Thế Tôn. Ta đảnh lễ bảy vị Chánh Ðẳng Giác.”

AN 4.68 Đề-bà-đạt-đa Devadattasutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), không lâu sau khi Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) rời đi. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỳ kheo về Devadatta:

"Lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng (Possessions, honor, and popularity / của cải, sự tôn trọng và tiếng tăm) đã đến với Devadatta để làm hại và hủy hoại chính ông ta.

Giống như cây chuối, cây tre, hay cây sậy, tất cả đều ra quả để tự hủy hoại và tàn lụi…

Giống như con la, nó mang thai để tự hủy hoại và tàn lụi. Cũng vậy, lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng đã đến với Devadatta để làm hại và hủy hoại chính ông ta.

Cây chuối bị hủy hoại bởi chính quả của nó,
Cũng như cây tre và cây sậy.
Danh vọng hủy hoại kẻ tội lỗi,
Như việc mang thai hủy hoại con la."

(VIII) (68) Devadatta

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta sau khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. Tại đấy, Thế Tôn nhơn việc Devadatta bảo các Tỷ-kheo:

− Ðem đến hại mình, này các Tỷ-kheo, khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta; đem đến bất hạnh cho người, này các Tỷ-kheo, khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta! Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây chuối khi sanh ra trái, đem đến hại mình; khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem đến bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Ví như, này các Tỷ-kheo, cây tre đem đến hại mình khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người khi sanh ra trái. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Ví như, này các Tỷ-kheo, cây lau đem đến hại mình khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người khi sanh ra trí. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem lại bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ví như con la đem đến hại mình khi mang thai, đem đến bất hạnh cho người khi mang thai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem đến bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta.

Quả giết hại cây chuối,
Giết hại tre và lau,
Cung kính hại người ngu,
Thai tạng hại con la.\

AN 4.69 Tinh Tấn Padhānasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn sự tinh tấn (efforts / sự cố gắng, nỗ lực) này. Bốn sự gì? Tinh tấn ngăn ngừa, tinh tấn đoạn trừ, tinh tấn phát triển, và tinh tấn duy trì.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là tinh tấn ngăn ngừa (effort to restrain / nỗ lực ngăn chặn ác pháp chưa sinh)? Đó là khi các con khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, và phấn đấu để các ác, bất thiện pháp (bad, unskillful qualities / những điều xấu xa, không tốt lành) chưa sinh sẽ không sinh khởi. Đây gọi là tinh tấn ngăn ngừa.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là tinh tấn đoạn trừ (effort to give up / nỗ lực từ bỏ ác pháp đã sinh)? Đó là khi các con khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, và phấn đấu để các ác, bất thiện pháp đã sinh được từ bỏ. Đây gọi là tinh tấn đoạn trừ.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là tinh tấn phát triển (effort to develop / nỗ lực làm sinh khởi thiện pháp chưa sinh)? Đó là khi các con khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, và phấn đấu để các thiện pháp (skillful qualities / những điều tốt lành) chưa sinh được sinh khởi. Đây gọi là tinh tấn phát triển.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là tinh tấn duy trì (effort to preserve / nỗ lực duy trì thiện pháp đã sinh)? Đó là khi các con khởi lên ý muốn, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, và phấn đấu để các thiện pháp đã sinh được duy trì, không bị mất đi, mà được tăng trưởng, chín muồi, và viên mãn nhờ tu tập. Đây gọi là tinh tấn duy trì.

Đây là bốn sự tinh tấn.

Ngăn ngừa và đoạn trừ,
Phát triển và duy trì:
Đây là bốn sự tinh tấn
Được dạy bởi bà con của mặt trời (kinsman of the Sun / thuộc dòng dõi mặt trời - chỉ Đức Phật).
Tỳ kheo nào nhiệt tâm thực hành những điều này
Có thể đạt đến sự chấm dứt khổ đau."

(IX) (69) Tinh Cần

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn tinh cần này, thế nào là bốn?

Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.

2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mục đích đoạn tận các ác bất thiện pháp, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mục đích làm cho sanh khởi các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, có bốn loại tinh cần này.

Chế ngự và đoạn tận,
Tu tập và hộ trì,
Bốn loại tinh cần này,
Ðược bà con mặt trời,
Ðược đức Phật thuyết giảng.
Ở đây vị Tỷ-kheo,
Với bốn tinh cần này,
Nhiệt tâm và nỗ lực.
Ðạt được khổ đoạn diệt.

AN 4.70 Phi Pháp Adhammikasutta

"Vào thời mà vua chúa phi pháp (unprincipled / không đúng theo lẽ phải, đạo lý), các quan chức hoàng gia trở nên phi pháp. Khi các quan chức hoàng gia phi pháp, các bà-la-môn và gia chủ trở nên phi pháp. Khi các bà-la-môn và gia chủ phi pháp, dân chúng thành thị và nông thôn trở nên phi pháp. Khi dân chúng thành thị và nông thôn phi pháp, quỹ đạo của mặt trăng và mặt trời trở nên thất thường. … quỹ đạo của các vì sao và chòm sao … ngày và đêm … tháng và nửa tháng … mùa và năm trở nên thất thường. … sự thổi của gió trở nên thất thường và hỗn loạn. … các vị trời tức giận. … các tầng trời không ban đủ mưa. … mùa màng chín thất thường. Khi con người ăn những vụ mùa chín thất thường, họ trở nên đoản mệnh, xấu xí, yếu đuối và bệnh tật.

Vào thời mà vua chúa đúng pháp (principled / đúng theo lẽ phải, đạo lý), các quan chức hoàng gia trở nên đúng pháp. … các bà-la-môn và gia chủ … dân chúng thành thị và nông thôn trở nên đúng pháp. Khi dân chúng thành thị và nông thôn đúng pháp, quỹ đạo của mặt trời và mặt trăng trở nên đều đặn. … các vì sao và chòm sao … ngày và đêm … tháng và nửa tháng … mùa và năm trở nên đều đặn. … sự thổi của gió trở nên đều đặn và có trật tự. … các vị trời không tức giận … … các tầng trời ban nhiều mưa. Khi các tầng trời ban nhiều mưa, mùa màng chín tốt. Khi con người ăn những vụ mùa chín tốt, họ trở nên trường thọ, xinh đẹp, mạnh khỏe và ít bệnh tật.

Khi đàn bò lội qua sông,
Nếu con đầu đàn đi lệch hướng,
Tất cả chúng đều đi lệch hướng,
Vì người dẫn đầu đi sai đường.

Con người cũng vậy:
Khi người được coi là lãnh đạo
Hành xử tồi tệ,
Bạn mong đợi những người còn lại làm gì?
Cả đất nước ngủ không yên,
Khi vua chúa phi pháp.

Khi đàn bò lội qua sông,
Nếu con đầu đàn đi thẳng,
Tất cả chúng đều đi thẳng,
Vì người dẫn đầu đi đúng đường.

Con người cũng vậy:
Khi người được coi là lãnh đạo
Làm điều đúng đắn,
Bạn mong đợi những người còn lại làm gì?
Cả đất nước ngủ yên,
Khi vua chúa công minh."

(X) (70) Phi Pháp

1. - Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy, các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi sai quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư Thiên bực mình. Khi nào chư Thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy các loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thì thọ mạng sẽ ngăn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.

2. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua đúng pháp có mặt, thì khi ấy các vị đại thần đúng pháp có mặt. Khi nào các vị đại thần đúng pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành đúng pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là đúng pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi đúng quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi đúng quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo, khi ấy gió thổi đúng mùa. Khi nào gió thổi đúng mùa, khi ấy chư Thiên hoan hỉ. Khi nào chư Thiên hoan hỉ, khi ấy trời mưa điều hòa. Khi nào trời trở mưa điều hòa, khi ấy, lúa chín đúng mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ lâu dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh.

Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi sai lạc,
Cả đàn đều đi sai,
Vì hướng dẫn sai lạc.
Cũng vậy, trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành phi pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước bị đau khổ,
Nếu vua không phi pháp.
Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi đúng hướng,
Cả đàn đều đúng hướng,
vì hướng dẫn đúng đường.
Cũng vậy trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành đúng pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước được an vui,
Nếu vua sống đúng pháp.

(I) (71) Không Có Hý Luận