Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Sự Bảo Đảm

AN 4.71 Kinh Tinh Tấn (Padhānasutta)

“Này các Tỳ kheo, khi một vị Tỳ kheo có bốn pháp này, sự thực hành của vị ấy không thất bại, và vị ấy đã đặt nền tảng cho sự đoạn tận các phiền não (defilements / những ô nhiễm tâm). Bốn pháp ấy là gì? Đó là khi một vị Tỳ kheo có giới hạnh, đa văn (learned / hiểu biết rộng), tinh tấn (energetic / siêng năng), và có trí tuệ. Khi một vị Tỳ kheo có bốn pháp này, sự thực hành của vị ấy không thất bại, và vị ấy đã đặt nền tảng cho sự đoạn tận các phiền não.”

VIII. Phẩm Không Hý Luận

− Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt, và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 4.72 Kinh Chánh Kiến (Sammādiṭṭhisutta)

“Này các Tỳ kheo, khi một vị Tỳ kheo có bốn pháp này, sự thực hành của vị ấy không thất bại, và vị ấy đã đặt nền tảng cho sự đoạn tận các phiền não. Bốn pháp ấy là gì? Tư duy xuất ly (thoughts of renunciation / suy nghĩ về sự từ bỏ), tư duy vô sân (good will / suy nghĩ không giận dữ), và tư duy vô hại (harmlessness / suy nghĩ không làm hại); và chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn). Khi một vị Tỳ kheo có bốn pháp này, sự thực hành của vị ấy không thất bại, và vị ấy đã đặt nền tảng cho sự đoạn tận các phiền não.”

(II) (72) Chánh Kiến

− Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn?

Tầm viễn ly, tầm không sân, tầm không hại, chánh tri kiến.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 4.73 Kinh Bậc Chân Nhân (Sappurisasutta)

"Này các Tỳ kheo, một người không chân thật có thể được biết qua bốn đặc điểm. Bốn đặc điểm ấy là gì?

Trước hết, một người không chân thật nói xấu người khác dù không được hỏi, huống nữa là khi được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói xấu người khác đầy đủ chi tiết, không bỏ sót điều gì. Đó là cách để biết rằng đây là một người không chân thật.

Hơn nữa, một người không chân thật không nói tốt về người khác dù được hỏi, huống nữa là khi không được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói tốt về người khác mà không đầy đủ chi tiết, bỏ sót nhiều điều. Đó là cách để biết rằng đây là một người không chân thật.

Hơn nữa, một người không chân thật không nói xấu về chính mình dù được hỏi, huống nữa là khi không được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói xấu về chính mình mà không đầy đủ chi tiết, bỏ sót nhiều điều. Đó là cách để biết rằng đây là một người không chân thật.

Hơn nữa, một người không chân thật nói tốt về chính mình dù không được hỏi, huống nữa là khi được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói tốt về chính mình đầy đủ chi tiết, không bỏ sót điều gì. Đó là cách để biết rằng đây là một người không chân thật. Một người không chân thật có thể được biết qua bốn đặc điểm này.

Một người chân thật có thể được biết qua bốn đặc điểm. Bốn đặc điểm ấy là gì?

Trước hết, một người chân thật không nói xấu người khác dù được hỏi, huống nữa là khi không được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói xấu người khác mà không đầy đủ chi tiết, bỏ sót nhiều điều. Đó là cách để biết rằng đây là một người chân thật.

Hơn nữa, một người chân thật nói tốt về người khác dù không được hỏi, huống nữa là khi được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói tốt về người khác đầy đủ chi tiết, không bỏ sót điều gì. Đó là cách để biết rằng đây là một người chân thật.

Hơn nữa, một người chân thật nói xấu về chính mình dù không được hỏi, huống nữa là khi được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói xấu về chính mình đầy đủ chi tiết, không bỏ sót điều gì. Đó là cách để biết rằng đây là một người chân thật.

Hơn nữa, một người chân thật không nói tốt về chính mình dù được hỏi, huống nữa là khi không được hỏi. Nhưng khi bị gặng hỏi, họ nói tốt về chính mình mà không đầy đủ chi tiết, bỏ sót nhiều điều. Đó là cách để biết rằng đây là một người chân thật. Một người chân thật có thể được biết qua bốn đặc điểm này.

(III) (73) Bậc Chân Nhân

1. - Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi!

Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!

Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi! Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!

Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân.

5. Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu có được hỏi, không nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!

Nhưng nếu được hỏi, và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán người khác. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi.

Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lời tán thán người khác, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!

Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!

Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân.

Ví như một nàng dâu vào ngày hay đêm đầu tiên được đưa về nhà chồng. Ngay lập tức, nàng thiết lập lòng tàm (conscience / hổ thẹn tội lỗi) và úy (prudence / ghê sợ tội lỗi) sắc bén đối với cha mẹ chồng, chồng mình, và ngay cả với những người hầu, người làm công, nhân viên. Nhưng sau một thời gian, do sống chung và thân quen, nàng thậm chí sẽ nói với cha mẹ chồng, hay với chồng mình: ‘Đi đi! Ông/Bà biết gì chứ?’ Cũng vậy, vào ngày hay đêm một vị Tỳ kheo mới xuất gia, từ bỏ đời sống thế tục, vị ấy ngay lập tức thiết lập lòng tàm và úy sắc bén đối với các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, và ngay cả những người làm công trong tự viện và các sa di. Nhưng sau một thời gian, do sống chung và thân quen, vị ấy thậm chí sẽ nói với thầy tế độ (tutor / thầy dạy trực tiếp) hay thầy yết ma (mentor / thầy hướng dẫn) của mình: ‘Đi đi! Thầy biết gì chứ?’

Vì vậy, các thầy nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ sống với tâm như một nàng dâu mới.’ Đó là cách các thầy nên tu tập."

(IV) (74) Người Vợ Trẻ

1. - Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: “Hãy đi đi, các người có biết được gì!”.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: “Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!”.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 4.74 Kinh Tối Thắng (1) (Paṭhamaaggasutta)

“Này các Tỳ kheo, bốn pháp này là tối thắng. Bốn pháp ấy là gì? Giới hạnh tối thắng, thiền định (immersion / sự tập trung tâm) tối thắng, tuệ (wisdom / sự hiểu biết sáng suốt) tối thắng, và giải thoát (freedom / sự tự do khỏi khổ đau) tối thắng. Đây là bốn pháp tối thắng.”

AN 4.75 Kinh Tối Thắng (2) (Dutiyaaggasutta)

“Này các Tỳ kheo, bốn pháp này là tối thắng. Bốn pháp ấy là gì? Sắc (form / hình thể vật chất) tối thắng, thọ (feeling / cảm giác) tối thắng, tưởng (perception / sự nhận biết) tối thắng, và hữu (existence / sự tồn tại, sự hiện hữu) tối thắng. Đây là bốn pháp tối thắng.”

(V) (75) Sự Tối Thượng

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn sự tối thượng này. Thế nào là bốn? Giới tối thượng, Ðịnh tối thượng, Tuệ tối thượng, Giải thoát tối thượng. Này các Tỷ-kheo, có bốn sự tối thượng này.

2. Này các Tỷ-kheo, có bốn sự tối thượng này. Thế nào là bốn? Sắc tối thượng, thọ tối thượng, tưởng tối thượng, hữu tối thượng. Này các Tỷ-kheo, có bốn sự tối thượng này.

AN 4.76 Kinh Tại Kusinārā (Kusinārasutta)

Một thời Thế Tôn trú tại Kusinārā, giữa hai cây sala trong rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana, vào lúc Ngài sắp đại bát-niết-bàn (full extinguishment / sự tịch diệt hoàn toàn vĩ đại). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Thế Tôn nói điều này:

“Có thể có một Tỳ kheo nào đó còn nghi ngờ hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ), về đạo (path / con đường tu tập), hay về pháp hành (practice / sự thực hành giáo pháp). Vậy thì hãy hỏi đi, này các Tỳ kheo! Đừng để sau này phải hối tiếc, nghĩ rằng: ‘Bậc Đạo Sư đã ở trước mặt chúng ta mà chúng ta đã không thể hỏi trực tiếp Ngài.’” Khi được nói vậy, các Tỳ kheo vẫn im lặng.

Lần thứ hai, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: … Lần thứ hai, các Tỳ kheo vẫn im lặng.

Lần thứ ba, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: … Lần thứ ba, các Tỳ kheo vẫn im lặng.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:

“Này các Tỳ kheo, có lẽ vì kính trọng Bậc Đạo Sư mà các thầy không hỏi. Vậy thì hãy để bạn nói với bạn.” Khi được nói vậy, các Tỳ kheo vẫn im lặng. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Con hoàn toàn tin chắc rằng trong Tăng đoàn này, không có một Tỳ kheo nào còn nghi ngờ hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng đoàn, về đạo, hay về pháp hành.”

“Này Ānanda, ông nói lên từ đức tin. Nhưng Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy, danh hiệu Phật) biết rằng trong Tăng đoàn này, không có một Tỳ kheo nào còn nghi ngờ hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng đoàn, về đạo, hay về pháp hành. Ngay cả vị Tỳ kheo cuối cùng trong năm trăm vị Tỳ kheo này cũng là bậc nhập lưu (stream-enterer / người đã vào dòng thánh), không còn bị tái sinh vào cõi dữ (liable to be reborn in the underworld / bị tái sinh vào cõi khổ), chắc chắn đạt đến giác ngộ (bound for awakening / nhất định sẽ giác ngộ).”

(VI) (76) Kusinàrà

1. Một thời Thế Tôn trú ở Kusinàrà, tại Upavattana, trong rừng cây Sàla của dân chúng Mallà, giữa những cây Sàla song thọ, trong khi Ngài sắp sửa nhập Niết-bàn. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành, thời này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hỏi đi, sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta, mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn.”

Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

3. Lần thứ hai, Thế Tôn… Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành, thời này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta, mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn.”

Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

4. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời, này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.

Khi được nói vậy, những Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

5. Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng, trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành. − Này Ananda, Thầy có lòng tín thành nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ananda Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành. Này Ananda, trong 500 Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, chắc chắn hướng đến Chánh Giác.

AN 4.77 Kinh Bất Khả Tư Nghì (Acinteyyasutta)

"Này các Tỳ kheo, có bốn điều bất khả tư nghì (unthinkable / không thể nghĩ bàn) này. Không nên suy nghĩ về chúng, và bất cứ ai cố gắng suy nghĩ về chúng sẽ trở nên điên loạn hoặc bực bội. Bốn điều ấy là gì?

Phạm vi của chư Phật …

Phạm vi của người nhập thiền định (absorption / trạng thái tâm định sâu) …

Nghiệp báo (results of deeds / kết quả của hành động thiện ác) …

Thế gian luận (speculation about the world / sự bàn luận, suy đoán về thế giới) …

Đây là bốn điều bất khả tư nghì. Không nên suy nghĩ về chúng, và bất cứ ai cố gắng suy nghĩ về chúng sẽ trở nên điên loạn hoặc bực bội."

(VII) (77) Không Thể Nghĩ Ðược

− Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn? Phật giới của các đức Phật, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ… thống khổ. Quả dị thục của nghiệp, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến… thống khổ. Tâm tư thế giới, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

-Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

AN 4.78 Kinh Cúng Dường (Dakkhiṇasutta)

"Này các Tỳ kheo, có bốn cách thanh tịnh hóa một vật thí (religious donation / vật phẩm cúng dường). Bốn cách ấy là gì? Có vật thí được thanh tịnh hóa bởi người cho, không phải người nhận. Có vật thí được thanh tịnh hóa bởi người nhận, không phải người cho. Có vật thí không được thanh tịnh hóa bởi cả người cho lẫn người nhận. Có vật thí được thanh tịnh hóa bởi cả người cho lẫn người nhận.

Và thế nào là vật thí được thanh tịnh hóa bởi người cho, không phải người nhận? Đó là khi người cho có giới hạnh, thiện đức, nhưng người nhận không có giới hạnh, ác đức.

Và thế nào là vật thí được thanh tịnh hóa bởi người nhận, không phải người cho? Đó là khi người cho không có giới hạnh, ác đức, nhưng người nhận có giới hạnh, thiện đức.

Và thế nào là vật thí không được thanh tịnh hóa bởi cả người cho lẫn người nhận? Đó là khi cả người cho và người nhận đều không có giới hạnh, ác đức.

Và thế nào là vật thí được thanh tịnh hóa bởi cả người cho lẫn người nhận? Đó là khi cả người cho và người nhận đều có giới hạnh, thiện đức.

Đây là bốn cách thanh tịnh hóa một vật thí."

(VII) (78) Thanh Tịnh Thí Vật

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn thanh tịnh thí vật này. Thế nào là bốn?

Có bố thí, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận. Bó bố thí, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh từ người nhận, không thanh tịnh từ người cho. Có bố thí, này các Tỷ-kheo, không thanh tịnh từ người cho, cũng không thanh tịnh từ người nhận. Có bố thí, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh từ người cho, cũng thanh tịnh từ người nhận.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người cho có giới, theo thiện pháp, còn người nhận là ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là bố thí, thanh tịnh từ người nhận, không thanh tịnh từ người cho?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bố thí ác giới, theo ác pháp, còn người nhận có giới, theo thiện pháp. Như vậy này các Tỷ-kheo, là bố thí, người nhận thanh tịnh, người cho không thanh tịnh.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bố thí, người cho không thanh tịnh, và người nhận cũng không thanh tịnh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người cho là ác giới, theo ác pháp, và người nhận cũng là ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí, người cho không thanh tịnh, người nhận cũng không thanh tịnh.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bố thí, người cho thanh tịnh, người nhận cũng thanh tịnh?

Ở đây này các Tỷ-kheo, người bố thí có giới, theo thiện pháp, và người nhận cũng có giới, theo thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí, người cho thanh tịnh, và người nhận cũng thanh tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bố thí thanh tịnh này.

AN 4.79 Kinh Kinh Doanh (Vaṇijjasutta)

Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà đối với những người khác nhau, cùng một loại công việc kinh doanh lại có thể thất bại, trong khi một công việc khác không được như mong đợi, một công việc khác được như mong đợi, và một công việc khác lại vượt quá mong đợi?”

"Này Sāriputta, trường hợp một người đi đến một vị sa môn (ascetic / tu sĩ khổ hạnh) hay bà la môn (brahmin / tu sĩ Bà la môn giáo) và mời họ yêu cầu những gì họ cần. Nhưng người ấy không cho những gì được yêu cầu. Khi người ấy mệnh chung, nếu tái sinh về cõi này, bất cứ công việc kinh doanh nào họ làm đều thất bại.

Trường hợp một người đi đến một vị sa môn hay bà la môn và mời họ yêu cầu những gì họ cần. Người ấy cho những gì được yêu cầu, nhưng không được như mong đợi. Khi người ấy mệnh chung, nếu tái sinh về cõi này, bất cứ công việc kinh doanh nào họ làm đều không được như mong đợi.

Trường hợp một người đi đến một vị sa môn hay bà la môn và mời họ yêu cầu những gì họ cần. Người ấy cho những gì được yêu cầu, được như mong đợi. Khi người ấy mệnh chung, nếu tái sinh về cõi này, bất cứ công việc kinh doanh nào họ làm đều được như mong đợi.

Trường hợp một người đi đến một vị sa môn hay bà la môn và mời họ yêu cầu những gì họ cần. Người ấy cho những gì được yêu cầu, vượt quá mong đợi. Khi người ấy mệnh chung, nếu tái sinh về cõi này, bất cứ công việc kinh doanh nào họ làm đều vượt quá mong đợi.

Đây là nhân, đây là duyên tại sao đối với những người khác nhau, cùng một loại công việc kinh doanh lại có thể thất bại, trong khi một công việc khác không được như mong đợi, một công việc khác được như mong đợi, và một công việc khác lại vượt quá mong đợi."

(IX) (79) Buôn Bán

1. Rồi Tôn giả Sàriputta… ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, đi đến thất bại? Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn? Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người do buôn bán như vậy, lại được thành tựu ngoài ý muốn?

2. - Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa hẹn như sau: “Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ”, nhưng người ấy không cho như đã được hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán đi đến chỗ thất bại.

3. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như: “Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ”, nhưng người ấy không cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn.

4. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: “thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ”. Và người ấy cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn.

5. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: “Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ”, và người ấy cho hơn như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu người ấy có buôn bán gì, buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.

Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy đi đến thất bại. Ðây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn. Ðây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn. Ðây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.

AN 4.80 Kinh Kamboja (Kambojasutta)

Một thời Thế Tôn trú gần Kosambī, tại tu viện Ghosita. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà phụ nữ không tham dự các cuộc họp hội đồng, không làm việc mưu sinh, hay không đi đến xứ Kamboja?”

“Này Ānanda, phụ nữ sân nhiều (irritable / hay giận), ganh tị (jealous / đố kỵ), xan tham (stingy / keo kiệt, bỏn xẻn), và thiểu trí (unintelligent / kém trí tuệ). Đây là nhân, đây là duyên tại sao phụ nữ không tham dự các cuộc họp hội đồng, không làm việc mưu sinh, hay không đi đến xứ Kamboja.”

(X) (80) Tinh Túy của Sự Nghiệp

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, nữ nhân không ngồi giữa trong pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp?

− Phẫn nộ là nữ nhân, này Ananda. Tật đố là nữ nhân, này Ananda. Xan tham là nữ nhân, này Ananda. Ác tuệ là nữ nhân, này Ananda. Ðây là nhân, đây là duyên, này Ananda, nữ nhân không ngồi giữa pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp.