Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Những Mối Nguy Hiểm

AN 4.121 Tự Trách Attānuvādasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn nỗi sợ hãi này. Bốn nỗi sợ hãi nào? Sợ bị tự trách, sợ bị người khác chê trách, sợ bị trừng phạt, và sợ bị tái sinh vào cõi dữ.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là sợ bị tự trách? Đó là khi một người suy xét: ‘Nếu ta làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, ý, chẳng phải ta sẽ tự trách mình về hành vi của mình sao?’ Vì sợ bị tự trách, người ấy từ bỏ hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và phát triển hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu, ý, giữ cho mình trong sạch. Đây gọi là sợ bị tự trách.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là sợ bị người khác chê trách? Đó là khi một người suy xét: ‘Nếu ta làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, ý, chẳng phải người khác sẽ chê trách ta về hành vi của mình sao?’ Vì sợ bị người khác chê trách, người ấy từ bỏ hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và phát triển hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu, ý, giữ cho mình trong sạch. Đây gọi là sợ bị người khác chê trách.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là sợ bị trừng phạt? Đó là khi một người thấy vua chúa bắt giữ một tên cướp, một tội phạm, và áp dụng nhiều hình phạt khác nhau—đánh bằng roi, đánh bằng gậy, đánh bằng dùi cui; chặt tay hoặc chân, hoặc cả hai; cắt tai hoặc mũi, hoặc cả hai; hình phạt ‘nồi cháo’, ‘cạo vỏ sò’, ‘miệng Rāhu’, ‘vòng hoa lửa’, ‘bàn tay cháy’, ‘xoắn cỏ bấc’, ‘áo vỏ cây’, ‘con linh dương’, ‘móc thịt’, ‘đồng xu’, ‘dưa muối ăn da’, ‘thanh xoắn’, ‘chiếu rơm’; bị dội dầu nóng, bị ném cho chó ăn, bị xiên cọc đến chết, và bị chặt đầu.

Người ấy nghĩ: ‘Nếu ta cũng làm những việc xấu ác tương tự, vua chúa cũng sẽ trừng phạt ta như vậy.’ … Vì sợ bị trừng phạt, người ấy không trộm cắp tài sản của người khác. Người ấy từ bỏ hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và phát triển hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu, ý, giữ cho mình trong sạch. Đây gọi là sợ bị trừng phạt.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là sợ bị tái sinh vào cõi dữ? Đó là khi một người suy xét: ‘Hành vi xấu ác của thân, khẩu, hay ý có kết quả xấu trong đời sau. Nếu ta làm những điều xấu ác như vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta sẽ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục.’ Vì sợ bị tái sinh vào cõi dữ, người ấy từ bỏ hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và phát triển hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu, ý, giữ cho mình trong sạch. Đây gọi là sợ bị tái sinh vào cõi dữ.

Đó là bốn nỗi sợ hãi."

XIII. Phẩm Sợ Hãi

(I) (121) Tự Trách

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này. Thế nào là bốn? Sợ hãi tự mình trách, sợ hãi người khác trách, sợ hãi hình phạt, sợ hãi ác thú.

2.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sợ hãi tự mình trách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người suy xét: “Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩa ta ác, thời tự ngã có thể trách ta về phương diện giới: “Sao lại làm nghiệp ấy?”. Người ấy do sợ hãi tự trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi tự trách.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về người khác trách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người suy xét: “Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩ ta ác, thời các người khác có thể trách ta về phương diện giới: “Sao lại làm nghiệp ấy?”. Người ấy do sợ hãi người khác trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi người khác trách.

4.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi hình phạt?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa khi bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp đường, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình (lấy xương và thịt cho rộng ra, rồi đổ dầu sôi vào miệng), hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa), đốt tay, lấy rơm bện lại rồi siết chặt, lấy vỏ cây làm áo, hình phạt con dê núi, lấy câu móc vào thịt, cắt thịt thành hình đồng tiền, quẳng sắt chảy trên thân đầy vết thương rồi chà mạnh, chuyển hình (bắt nằm dưới đất, đâm một gậy sắt qua hai lỗ tai rồi xoay tròn), cao đạp đài (lột da phần trên, lấy chày giã cho nát thân). Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Người ấy suy nghĩ như sau: “Do nhân làm các nghiệp ác như vậy, các vua chúa khi bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp đường, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác … họ lấy gươm chặt đầu”. Người ấy vì sợ hãi sự sợ hãi hình phạt, không có đi trộm, cướp tài sản người khác.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự sợ hãi hình phạt.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sợ hãi ác thú?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người suy nghĩ như sau: “Với ai thân làm ác, có ác dị thục trong tương lai, với ai lời nói ác … với ai ý nghĩ ác, có ác dị thục trong tương lai. Làm thế nào cho ta sau khi thân hoại mạng chung, không có sanh tại cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?”. Người ấy vì sợ hãi ác thú, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành; đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành; đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống với tự ngã trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi ác thú. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sợ hãi này.

AN 4.122 Nguy Hiểm Từ Sóng Ūmibhayasutta

"Này các Tỳ kheo, bất cứ ai xuống nước nên lường trước bốn mối nguy hiểm. Bốn mối nguy hiểm nào? Nguy hiểm từ sóng, nguy hiểm từ cá sấu, nguy hiểm từ xoáy nước, và nguy hiểm từ cá mập.

Đó là bốn mối nguy hiểm mà bất cứ ai xuống nước nên lường trước. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình trong giáo pháp và giới luật này nên lường trước bốn mối nguy hiểm. Bốn mối nguy hiểm nào? Nguy hiểm từ sóng, nguy hiểm từ cá sấu, nguy hiểm từ xoáy nước, và nguy hiểm từ cá mập.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là nguy hiểm từ sóng? Đó là khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì lòng tin từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta bị nhấn chìm bởi sanh, già, chết; bởi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta bị khổ nhấn chìm, bị khổ chi phối. Hy vọng ta có thể tìm thấy sự chấm dứt cho toàn bộ khổ uẩn này.’ Khi đã xuất gia, các vị đồng phạm hạnh khuyên bảo và chỉ dạy họ: ‘Thầy nên đi ra như thế này, và trở về như thế kia. Thầy nên nhìn về phía trước như thế này, và nhìn sang bên như thế kia. Thầy nên co tay chân lại như thế này, và duỗi ra như thế kia. Đây là cách thầy nên mang thượng y, bát, và các y khác.’ Họ nghĩ: ‘Trước đây, khi còn là cư sĩ, chúng ta đã khuyên bảo và chỉ dạy người khác. Còn bây giờ những vị Tỳ kheo này—mà mình nghĩ đáng tuổi con cháu mình—lại cho rằng họ có thể khuyên bảo và chỉ dạy chúng ta!’ Tức giận và phiền muộn, họ từ bỏ việc tu học và hoàn tục. Đây được gọi là một Tỳ kheo từ bỏ việc tu học và hoàn tục vì sợ nguy hiểm từ sóng. ‘Nguy hiểm từ sóng’ là ẩn dụ cho sự tức giận và phiền muộn. Đây gọi là nguy hiểm từ sóng.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là nguy hiểm từ cá sấu? Đó là khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì lòng tin từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình… Khi đã xuất gia, các vị đồng phạm hạnh khuyên bảo và chỉ dạy họ: ‘Thầy có thể ăn, dùng, nếm, và uống những thứ này, nhưng không được dùng những thứ kia. Thầy có thể ăn những gì được phép, nhưng không được ăn những gì không được phép. Thầy có thể ăn đúng thời, nhưng không được ăn phi thời.’ Họ nghĩ: ‘Trước đây, khi còn là cư sĩ, chúng ta thường ăn, dùng, nếm, và uống những gì mình muốn, chứ không phải những gì mình không muốn. Chúng ta ăn và uống cả những thứ được phép và không được phép, cả đúng thời và phi thời. Và những tín chủ này cúng dường cho chúng ta những món ăn tươi ngon vào lúc phi thời. Nhưng những người này lại tưởng họ có thể bịt miệng chúng ta!’ Tức giận và phiền muộn, họ từ bỏ việc tu học và hoàn tục. Đây được gọi là một Tỳ kheo từ bỏ việc tu học và hoàn tục vì sợ nguy hiểm từ cá sấu. ‘Nguy hiểm từ cá sấu’ là ẩn dụ cho sự tham ăn. Đây gọi là nguy hiểm từ cá sấu.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là nguy hiểm từ xoáy nước? Đó là khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì lòng tin từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình… Khi đã xuất gia, vào buổi sáng, họ đắp y, mang bát, vào làng hoặc thị trấn để khất thực mà không phòng hộ thân, khẩu, ý, không an trú chánh niệm, và không thu thúc các căn (sense faculties / các giác quan). Ở đó, họ thấy một người gia chủ hoặc con cái của họ đang vui chơi, được cung phụng đầy đủ năm loại dục lạc. Họ nghĩ: ‘Trước đây, khi còn là cư sĩ, chúng ta cũng vui chơi, được cung phụng đầy đủ năm loại dục lạc. Và quả thật gia đình ta giàu có. Ta vừa có thể hưởng thụ tài sản vừa có thể làm phước. Tại sao ta không từ bỏ việc tu học và hoàn tục, để có thể hưởng thụ tài sản và làm phước?’ Họ từ bỏ việc tu học và hoàn tục. Đây được gọi là một Tỳ kheo từ bỏ việc tu học và hoàn tục vì sợ nguy hiểm từ xoáy nước. ‘Nguy hiểm từ xoáy nước’ là ẩn dụ cho năm loại dục lạc. Đây gọi là nguy hiểm từ xoáy nước.

Và này các Tỳ kheo, thế nào là nguy hiểm từ cá mập? Đó là khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì lòng tin từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình… Khi đã xuất gia, vào buổi sáng, họ đắp y, mang bát, vào làng hoặc thị trấn để khất thực mà không phòng hộ thân, khẩu, ý, không an trú chánh niệm, và không thu thúc các căn. Ở đó, họ thấy một người nữ mặc y phục hở hang, khêu gợi. Dục vọng xâm chiếm tâm trí họ, nên họ từ bỏ việc tu học và hoàn tục. Đây được gọi là một Tỳ kheo từ bỏ việc tu học và hoàn tục vì sợ nguy hiểm từ cá mập. ‘Nguy hiểm từ cá mập’ là ẩn dụ cho người nữ. Đây gọi là nguy hiểm từ cá mập.

Đó là bốn mối nguy hiểm mà một người thiện gia nam tử xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, sống đời không gia đình trong giáo pháp và giới luật này nên lường trước."

(II) (122) Sóng Biển

1. - Có bốn sự sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống nước. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Có bốn sự sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống nước.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với một số thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, có bốn sự sợ hãi được chờ đợi. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về sóng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: “Thầy cần phải đi ra như vậy, Thầy cần phải đi về như vậy, Thầy cần phải ngó tới như vậy, Thầy cần phải ngó quanh như vậy. Thầy cần phải co tay như vậy, Thầy cần phải duỗi tay như vậy, Thầy cần phải mang y sanghati như vậy, mang bát y như vậy”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, khi chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyên giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyên giáo chúng ta”. Vị ấy phẫn nộ, không hoan hỷ, từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi về sóng. Naỳ các Tỷ Kheo sơ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não. Naỳ các Tỷ Kheo đây gọi là sợ hãi về sóng.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá sấu?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: “Thầy cần phải nhai cái này, Thầy không nên nhai cái này; Thầy nên ăn cái này, Thầy không nên ăn cái này; Thầy nên nếm cái này, Thầy không nên nếm cái này; Thầy nên uống cái này, Thầy không nên uống cái này; cái gì Thầy được phép, Thầy nên nhai, cái gì Thầy không được phép, Thầy không nên nhai; cái gì được phép, Thầy nên ăn, cái gì không được phép, Thầy nên ăn; cái gì được phép, Thầy nên nếm, cái gì không được phép, Thầy nên nếm; cái gì được phép, Thầy nên uống, cái gì không được phép, Thầy nên uống; đúng thời Thầy nên nhai, không đúng thời Thầy không nên nhai; đúng thời Thầy nên ăn, không đúng thời Thầy không nên ăn; đúng thời Thầy nên nếm, không đúng thời Thầy không nên nếm; đúng thời Thầy nên uống, không đúng thời Thầy không nên uống”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, khi chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai, cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn, cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm, cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống, cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai, cái gì không đúng thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn, cái gì không đúng thời, chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm, cái gì không đúng thời, chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống, cái gì không đúng thời, chúng ta cũng uống. Khi các gia đình có tín tâm cúng dường chúng ta ban ngày, phi thời, những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như những món này, chúng ta bị chận đứng lại trên miệng”. Như vậy, vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Này các Tỷ kheo, đây được gọi là vị Tỷ kheo bị sợ hãi với sự sợ haĩ về cá sấu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tham ăn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự sợ hãi về cá sấu.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về nước xoáy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không phòng hộ, hưởng thụ được cung cấp đầy đủ, được thực hiện năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ, được cung cấp đầy đủ, được thực hiện năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong đó. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thị tài sản, vừa làm các công đức”. Vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về nước xoáy.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá dữ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Vị này thấy ở đây những phụ nữ mặc y phục không đoan chánh hay đắp y phục không đoan chánh. Khi thấy những phụ nữ mặc y phục không đoan chánh hay đắp y phục không đoan chánh, ái dục phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị ái dục phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về cá dữ.

Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này, ở đây, một số thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.

AN 4.123 Khác Biệt (1) Paṭhamamānākaraṇasutta

"Này các Tỳ kheo, bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào?

Có người, ly dục, ly bất thiện pháp (unskillful qualities / những trạng thái tâm tiêu cực, có hại), chứng và trú thiền (absorption / trạng thái nhập định) thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm và tứ (placing the mind and keeping it connected / sự hướng tâm đến đối tượng và sự duy trì tâm trên đối tượng). Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Phạm Chúng Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Phạm Chúng Thiên là một kiếp. Một phàm phu (ordinary person / người chưa giác ngộ) ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Lại nữa, có người, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sinh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Quang Âm Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Quang Âm Thiên là hai kiếp. Một phàm phu ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Lại nữa, có người, do ly hỷ, chứng và trú thiền thứ ba, nơi vị ấy trú xả (equanimity / trạng thái tâm quân bình, không dao động), chánh niệm, tỉnh giác (mindful and aware / sự ghi nhớ và nhận biết rõ ràng), thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Biến Tịnh Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Biến Tịnh Thiên là bốn kiếp. Một phàm phu ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Lại nữa, có người, do xả lạc, xả khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước đó, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Quảng Quả Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Quảng Quả Thiên là năm trăm kiếp. Một phàm phu ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Đó là bốn hạng người có mặt ở trên đời."

(III) (123) Hạng Người Sai Khác (1)

1. - Có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quang âm Thiên. Hai kiếp này, này các Tỷ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Quang âm thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú … Ðây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy … được sanh cộng trú với chư Thiên ở Biến tịnh Thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Biến tịnh Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú … Ðây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỷ-kheo, là tuổi thọ vô lượng các chư Thiên ở Quảng quả Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.124 Khác Biệt (2) Dutiyanānākaraṇasutta

"Này các Tỳ kheo, bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào?

Có người, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất… Người ấy quán các pháp ở đó—thuộc sắc, thọ, tưởng, hành, thức (form, feeling, perception, choices, and consciousness / năm nhóm yếu tố cấu thành con người: vật chất, cảm giác, tri giác, tâm hành, nhận thức)—là vô thường, khổ, vô ngã (impermanent, suffering, not-self / ba đặc tính chung của mọi hiện hữu: không thường còn, khổ đau, không có tự ngã), là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Tịnh Cư. Sự tái sinh này không chung với hàng phàm phu.

Lại nữa, có người, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư… Người ấy quán các pháp ở đó—thuộc sắc, thọ, tưởng, hành, thức—là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Tịnh Cư. Sự tái sinh này không chung với hàng phàm phu.

Đó là bốn hạng người có mặt ở trên đời."

(IV) (124) Các Hạng Người Sai Khác (2)

1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … Thiền thứ tư và an trú. Vị ấy, ở đây về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc trưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng các hàng phàm phu.

Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.125 Từ Tâm (1) Paṭhamamettāsutta

"Này các Tỳ kheo, bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào?

Thứ nhất, một người hành thiền biến mãn tâm từ (love / lòng yêu thương, mong muốn chúng sinh được an lạc) đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, người ấy biến mãn cả thế giới với tâm từ—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Phạm Chúng Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Phạm Chúng Thiên là một kiếp. Một phàm phu ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Lại nữa, một người hành thiền biến mãn tâm bi (compassion / lòng thương xót, mong muốn chúng sinh thoát khổ)… hỷ (rejoicing / niềm vui khi thấy chúng sinh được an lạc)… xả đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, người ấy biến mãn cả thế giới với tâm xả—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Người ấy thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn với trạng thái đó. Nếu người ấy an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, thường xuyên hành thiền về nó mà không để mất đi, khi mệnh chung, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Quang Âm Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Quang Âm Thiên là hai kiếp. … người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Biến Tịnh Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Biến Tịnh Thiên là bốn kiếp. … người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Quảng Quả Thiên. Tuổi thọ của chư Thiên cõi Quảng Quả Thiên là năm trăm kiếp. Một phàm phu ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi họ đi vào địa ngục, súc sinh hay ngạ quỷ. Nhưng một đệ tử của Đức Phật ở lại đó cho đến khi hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, rồi vị ấy nhập Niết Bàn ngay trong đời sống ấy. Đây là sự khác biệt giữa một vị Thánh đệ tử đa văn và một kẻ phàm phu ít nghe, nghĩa là, khi có một cảnh giới tái sinh.

Đó là bốn hạng người có mặt ở trên đời."

(V) (125) Từ (1)

1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người với tâm, cùng khởi với từ, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên. Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ỏ cõi Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết vẹn tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy . Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quang âm Thiên. Hai kiếp, này các Tỷ-kheo, là thọ mạng của các chư Thiên ở Quang âm Thiên … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Biến tịnh Thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ kheo là thọ mạng của chư Thiên ở cõi Biến Tịnh Thiên … được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỷ-kheo, là tuổi thọvô lượng của chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.126 Từ Tâm (2) Dutiyamettāsutta

"Này các Tỳ kheo, bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào?

Thứ nhất, một người hành thiền biến mãn tâm từ đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, người ấy biến mãn cả thế giới với tâm từ—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Người ấy quán các pháp ở đó—thuộc sắc, thọ, tưởng, hành, thức—là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Tịnh Cư. Sự tái sinh này không chung với hàng phàm phu.

Lại nữa, một người hành thiền biến mãn tâm bi… hỷ… xả (tứ vô lượng tâm (four immeasurables / bốn trạng thái tâm cao thượng: từ, bi, hỷ, xả)) đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, người ấy biến mãn cả thế giới với tâm xả—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Người ấy quán các pháp ở đó—thuộc sắc, thọ, tưởng, hành, thức—là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy được tái sinh làm bạn đồng hành với chư Thiên cõi Tịnh Cư. Sự tái sinh này không chung với hàng phàm phu.

Đó là bốn hạng người có mặt ở trên đời."

(VI) (126) Từ (2)

− Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người với tâm cùng khởi với từ … (như kinh 125, 1Ẩ) không hận, không sân. … (như kinh 121, 1) là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Này các Tỷ-kheo, sự sanh khởi này, không có chung cùng các hàng phàm phu. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.127 Điều Phi Thường về Như Lai (1) Paṭhamatathāgataacchariyasutta

"Này các Tỳ kheo, với sự xuất hiện của một vị Như Lai, bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã giác ngộ hoàn toàn, thoát khỏi sinh tử luân hồi), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn và chỉ dạy cho chúng sinh), bốn điều phi thường và kỳ diệu xuất hiện. Bốn điều nào?

Khi vị Bồ-tát (being intent on awakening / chúng sinh đang trên đường tu tập để thành Phật) từ cõi trời Đâu Suất mệnh chung, ngài nhập vào bụng mẹ, chánh niệm và tỉnh giác. Và khi ấy—trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng quần chúng Sa-môn (ascetics / những người tu hành, khất sĩ), Bà-la-môn (brahmins / giai cấp tu sĩ, trí thức trong xã hội Ấn Độ cổ), chư Thiên và loài người—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt xa uy quang của chư Thiên. Ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới, trống rỗng, tăm tối—nơi mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù mãnh liệt và quyền năng đến đâu, cũng không thể chiếu tới—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt xa uy quang của chư Thiên. Và các chúng sinh tái sinh ở đó nhận ra nhau nhờ ánh sáng ấy: ‘Ồ, hóa ra có những chúng sinh khác đã tái sinh ở đây!’ Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ nhất xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Lại nữa, vị Bồ-tát đản sinh từ bụng mẹ, chánh niệm và tỉnh giác. Và khi ấy… một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện… ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới… Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ hai xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Lại nữa, Như Lai chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và khi ấy… một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện… ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới… Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ ba xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Lại nữa, Như Lai chuyển Bánh xe Pháp (Wheel of Dhamma / sự giảng dạy và truyền bá giáo pháp của Đức Phật) vô thượng. Và khi ấy… một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện… ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới… Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ tư xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Với sự xuất hiện của một vị Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bốn điều phi thường và kỳ diệu này xuất hiện."

(VII) (127) Vi Diệu (1)

1- Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có xuất hiện. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, khi Bồ-tát từ bỏ thân ở cõi trời Ðâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng thứ nhất có xuất hiện.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai chứng ngộ được vô thượng Chánh Ðẳng Giác, khi ấy trong thế giới chư Thiên … (như trên)… “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên… (như trên)… “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chá nh Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.

Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán,Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.

AN 4.128 Điều Phi Thường về Như Lai (2) Dutiyatathāgataacchariyasutta

"Này các Tỳ kheo, với sự xuất hiện của một vị Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bốn điều phi thường và kỳ diệu xuất hiện. Bốn điều nào?

Chúng sinh ưa thích chấp thủ (clinging / sự bám víu, dính mắc vào các đối tượng), yêu thích và vui hưởng sự chấp thủ. Tuy nhiên, khi Như Lai giảng Pháp về sự không chấp thủ, họ muốn lắng nghe, chú tâm lắng nghe, và nỗ lực để hiểu. Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ nhất xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Chúng sinh ưa thích ngã mạn (conceit / sự kiêu ngạo, tự cao tự đại), yêu thích và vui hưởng sự ngã mạn. Tuy nhiên, khi Như Lai giảng Pháp về sự đoạn trừ ngã mạn, họ muốn lắng nghe, chú tâm lắng nghe, và nỗ lực để hiểu. Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ hai xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Chúng sinh ưa thích sự dao động, yêu thích và vui hưởng sự dao động. Tuy nhiên, khi Như Lai giảng Pháp về sự tịch tịnh, họ muốn lắng nghe, chú tâm lắng nghe, và nỗ lực để hiểu. Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ ba xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Quần chúng này bị vô minh (ignorance / sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về bản chất thực của các pháp) bao phủ, như nằm trong vỏ trứng. Tuy nhiên, khi Như Lai giảng Pháp về sự đoạn trừ vô minh, họ muốn lắng nghe, chú tâm lắng nghe, và nỗ lực để hiểu. Đây là điều phi thường và kỳ diệu thứ tư xuất hiện với sự xuất hiện của một vị Như Lai.

Với sự xuất hiện của một vị Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bốn điều phi thường và kỳ diệu này xuất hiện."

(VIII) (128) Vi Diệu (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.

2. Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.

3. Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.

4. Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.

Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.

AN 4.129 Điều Phi Thường về Ngài Ānanda Ānandaacchariyasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn điều phi thường và kỳ diệu này về Ngài Ānanda. Bốn điều nào?

Nếu chúng Tỳ kheo đến gặp Ngài Ānanda, họ hoan hỷ khi được thấy ngài và hoan hỷ khi nghe ngài nói pháp. Và khi ngài im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Nếu chúng Tỳ kheo ni… nam cư sĩ… hay nữ cư sĩ đến gặp Ngài Ānanda, họ hoan hỷ khi được thấy ngài và hoan hỷ khi nghe ngài nói pháp. Và khi ngài im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Đó là bốn điều phi thường và kỳ diệu về Ngài Ānanda."

(IX) (129) Vi Diệu (3)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo đi đến yết kiến Ananda, hội chúng ấy hoan hỷ được yết kiến Ananda. Ở đây, nếu Ananda thuyết pháp, hội chúng ấy hoan hỷ với lời thuyết giảng. Chúng Tỷ-kheo không được vui vẻ, này các Tỷ-kheo, nếu Ananda giữ im lặng.

2. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo-ni … nếu chúng nam cư sĩ … nếu chúng nữ cư sĩ đi đến yết kiến Ananda. Hội chúng ấy hoan hỷ được yết kiến Ananda. Tại đấy, nếu Ananda thuyết pháp, hội chúng ấy được hoan hỷ với lời thuyết giảng. Chúng Tỷ-kheo-ni … nếu chúng nam cư sĩ, chúng nữ cư sĩ sẽ không được vui vẻ, này các Tỷ-kheo, nếu Ananda giữ im lặng.

AN 4.130 Điều Phi Thường về Vua Chuyển Luân Cakkavattiacchariyasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn điều phi thường và kỳ diệu này về một vị vua Chuyển Luân. Bốn điều nào?

Nếu chúng Sát-đế-lỵ (aristocrats / giai cấp vua chúa, quý tộc chiến binh trong xã hội Ấn Độ cổ) đến gặp một vị vua Chuyển Luân, họ hoan hỷ khi được thấy vua và hoan hỷ khi nghe vua nói. Và khi vua im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Nếu chúng Bà-la-môn… gia chủ… hay Sa-môn đến gặp một vị vua Chuyển Luân, họ hoan hỷ khi được thấy vua và hoan hỷ khi nghe vua nói. Và khi vua im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Đó là bốn điều phi thường và kỳ diệu về một vị vua Chuyển Luân.

Cũng vậy, có bốn điều phi thường và kỳ diệu này về Ngài Ānanda. Bốn điều nào?

Nếu chúng Tỳ kheo đến gặp Ngài Ānanda, họ hoan hỷ khi được thấy ngài và hoan hỷ khi nghe ngài nói pháp. Và khi ngài im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Nếu chúng Tỳ kheo ni… nam cư sĩ… hay nữ cư sĩ đến gặp Ngài Ānanda, họ hoan hỷ khi được thấy ngài và hoan hỷ khi nghe ngài nói pháp. Và khi ngài im lặng, họ vẫn chưa thấy đủ.

Đó là bốn điều phi thường và kỳ diệu về Ngài Ānanda."

(X) (130) Vi Diệu (4)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này về vua Chuyển Luân. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ đến yết kiến vua Chuyển Luân, hội chúng ấy được hoan hỷ vì được yết kiến vua Chuyển Luân. Tại đấy, nếu vị vua Chuyển Luân nói chuyện, hội chúng được hoan hỷ với bài nói chuyện. Và nếu vua Chuyển Luân im lặng, chúng Sát-đế-lỵ bị thất vọng.

2. Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Bà-la-môn, … nếu có chúng gia chủ, nếu có chúng Sa-môn đến yết kiến vua Chuyển Luân, hội chúng ấy được hoan hỷ vì được yết kiến vua Chuyển Luân. Tại đấy, nếu vị vua Chuyển Luân nói chuyện, hội chúng được hoan hỷ với bài nói chuyện. Và nếu vua Chuyển Luân im lặng, chúng Sa-môn bị thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này về vua Chuyển Luân.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này về Ananda. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo đến để yết kiến Ananda … nếu Ananda giữ im lặng.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo-ni …

5. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng nam cư sĩ …

6. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng nữ cư sĩ …

Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này về Ananda.