Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về các Căn

AN 4.151 Kinh Căn (Indriyasutta)

“Này các Tỳ kheo, có bốn căn (faculties / khả năng, quyền năng của tâm) này. Bốn là gì? Tín (faith / niềm tin) căn, tấn (energy / sự tinh tấn, nỗ lực) căn, niệm (mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ) căn, và định (immersion / sự tập trung tâm) căn. Đó là bốn căn.”

XVI. Phẩm Các Căn

(I) (151) Các Căn

− Này các Tỷ-kheo, có bốn căn này. Thế nào là bốn

Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.

Này các Tỷ-kheo, có bốn căn này.

AN 4.152 Kinh Tín Lực (Saddhābalasutta)

“Này các Tỳ kheo, có bốn lực (powers / sức mạnh) này. Bốn là gì? Tín lực, tấn lực, niệm lực, và định lực. Đó là bốn lực.”

(II) (152) Lực (1)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này. Thế nào là bốn?

Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực.

Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.

AN 4.153 Kinh Tuệ Lực (Paññābalasutta)

“Này các Tỳ kheo, có bốn lực này. Bốn là gì? Tuệ (wisdom / trí tuệ) lực, tấn lực, vô tội (blamelessness / không có lỗi lầm, không đáng trách) lực, và nhiếp trì (inclusiveness / sự thu phục, bao gồm) lực. Đó là bốn lực.”

(III) (153) Lực (2)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này. Thế nào là bốn Tuệ lực, tấn lực, vô tội lực, năng nhiếp lực.

Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.

AN 4.154 Kinh Niệm Lực (Satibalasutta)

“Này các Tỳ kheo, có bốn lực này. Bốn là gì? Niệm lực, định lực, vô tội lực, và nhiếp trì lực. Đó là bốn lực.”

(IV) (154) Lực (3)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này. Thế nào là bốn

Niệm lực, định lực, vô tội lực, năng nhiếp lực.

Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.

AN 4.155 Kinh Thẩm Sát Lực (Paṭisaṅkhānabalasutta)

“Này các Tỳ kheo, có bốn lực này. Bốn là gì? Thẩm sát (reflection / sự quán xét, suy xét kỹ lưỡng) lực, tu tập (development / sự rèn luyện, phát triển tâm) lực, vô tội lực, và nhiếp trì lực. Đó là bốn lực.”

(V) (155) Lực (4)

− Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này. Thế nào là bốn?

Giản trạch lực, tu tập lực, vô tội lực, năng nhiếp lực.

Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.

AN 4.156 Kinh Kiếp (Kappasutta)

"Này các Tỳ kheo, một kiếp (eon / một khoảng thời gian rất dài, một chu kỳ thế giới) có bốn a-tăng-kỳ (uncountable periods / khoảng thời gian không thể đếm được). Bốn là gì?

Khi một kiếp đang hoại (contracts / giai đoạn thế giới tan rã), không dễ để tính toán mất bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.

Khi một kiếp đang trong giai đoạn không (remains fully contracted / giai đoạn thế giới trống không sau khi hoại), không dễ để tính toán mất bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.

Khi một kiếp đang thành (expands / giai đoạn thế giới hình thành), không dễ để tính toán mất bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.

Khi một kiếp đang trong giai đoạn trụ (remains fully expanded / giai đoạn thế giới tồn tại ổn định), không dễ để tính toán mất bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.

Đó là bốn a-tăng-kỳ của một kiếp."

(VI) (156) Kiếp

− Này các Tỷ-kheo, có bốn vô lượng của kiếp này. Thế nào là bốn?

Khi kiếp chuyển thành, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì để ước tính có bao nhiêu năm như vậy, có nhiều trăm năm như vậy, có nhiều ngàn năm như vậy. Có nhiều trăm ngàn năm như vậy.

Khi kiếp đã chuyển thành và dừng lại, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì ước tính như vậy.

Khi kiếp chuyển hoại, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì ước tính có nhiều năm như vậy … như vậy.

Khi kiếp đã chuyển hoại và dừng lại, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì ước tính … như vậy.

Này các Tỷ-kheo, có bốn vô lượng của kiếp này.

AN 4.157 Kinh Bệnh (Rogasutta)

"Này các Tỳ kheo, có hai loại bệnh. Hai là gì? Thân bệnh và tâm bệnh (Mental and physical / bệnh về thể xác và bệnh về tinh thần). Có thể thấy những chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) có thể tuyên bố mình không bị thân bệnh trong một năm, hoặc hai, hoặc ba năm… thậm chí đến một trăm năm hoặc hơn. Nhưng rất khó tìm thấy bất kỳ chúng sanh nào trên thế gian có thể tuyên bố mình không bị tâm bệnh dù chỉ trong một giờ, ngoại trừ những vị đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não làm tâm ô uế).

Có bốn loại bệnh đối với những người xuất gia (gone forth / người rời bỏ đời sống gia đình để tu hành). Bốn là gì?

Trước hết, một Tỳ kheo có nhiều mong muốn, bị thất vọng, và không hài lòng với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh nào.

Vì điều này, họ hướng những ác dục (corrupt wishes / những mong muốn xấu xa, bất thiện) của mình vào địa vị (status / vị trí xã hội), và vào việc có được lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng (material things, honor, and popularity / vật chất, sự tôn trọng, và tiếng tăm).

Họ cố gắng, nỗ lực, và phấn đấu để đạt được những thứ này.

Họ có ý đồ riêng (ulterior motive / mục đích che giấu) khi đi đến các gia đình thí chủ. Họ có ý đồ riêng khi ngồi xuống, khi thuyết Pháp, và ngay cả khi nín tiểu tiện, đại tiện.

Đó là bốn loại bệnh của người xuất gia.

Vậy các con nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ không có nhiều mong muốn hay bị thất vọng. Chúng ta sẽ hài lòng với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh nào. Chúng ta sẽ không hướng những ác dục của mình vào địa vị, và vào việc có được lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng. Chúng ta sẽ không cố gắng, nỗ lực, và phấn đấu để đạt được những thứ này. Chúng ta sẽ chịu đựng lạnh, nóng, đói, và khát. Chúng ta sẽ chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát. Chúng ta sẽ chịu đựng những lời chỉ trích khó nghe, không mong muốn. Chúng ta sẽ chịu đựng những cảm giác đau đớn trên thân—như cắt, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, và nguy hiểm đến tính mạng.’ Đó là cách các con nên tu tập."

(VII) (157) Bệnh

1. - Này các Tỷ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.

Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba … được bốn … được năm … được mười … được hai mươi … được ba mươi … được bốn mươi … tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.

2. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các vật dụmg như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận. Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 4.158 Kinh Suy Giảm (Parihānisutta)

Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Xá-lợi-phất nói điều này:

"Thưa các Hiền giả, bất kỳ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào thấy bốn điều này bên trong mình thì nên kết luận: ‘Các thiện pháp (skillful qualities / các phẩm chất tốt đẹp, đúng đắn) của tôi đang suy giảm. Vì đây là điều Đức Phật gọi là sự suy giảm.’ Bốn là gì? Họ có nhiều tham (greed / lòng tham lam), nhiều sân (hate / lòng sân hận, ghét bỏ), và nhiều si (delusion / sự mê lầm, vô minh); và tuệ nhãn (wisdom eye / con mắt trí tuệ) của họ không thâm nhập được vào nhiều vấn đề sâu xa. Bất kỳ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào thấy bốn điều này bên trong mình thì nên kết luận: ‘Các thiện pháp của tôi đang suy giảm. Vì đây là điều Đức Phật gọi là sự suy giảm.’

Bất kỳ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào thấy bốn điều này bên trong mình thì nên kết luận: ‘Các thiện pháp của tôi không suy giảm. Vì đây là điều Đức Phật gọi là sự không suy giảm.’ Bốn là gì? Lòng tham, sân, và si của họ giảm bớt; và tuệ nhãn của họ thâm nhập được vào nhiều vấn đề sâu xa. Bất kỳ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào thấy bốn điều này bên trong mình thì nên kết luận: ‘Các thiện pháp của tôi không suy giảm. Vì đây là điều Đức Phật gọi là sự không suy giảm.’"

(IX) (158) Thối Ðoạ

1. Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa. Thế nào là bốn?

Tham ái tăng thịnh, sân tăng thịnh, si tăng thịnh, đối với các vấn đề có mặt, không có mặt, không có tuệ nhãn soi thấu.

Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa.

2. Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa. Thế nào là bốn?

Tham ái giảm thiểu, sân giảm thiểu, si giảm thiểu. Ðối với các vấn đề có mặt, không có mặt, có tuệ nhãn soi thấu.

Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Ta không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa.

AN 4.159 Kinh Tỳ Kheo Ni (Bhikkhunīsutta)

Tôi nghe như vầy. Một thời Tôn giả A-nan đang ở gần Kosambi, tại tu viện Ghosita.

Bấy giờ, một Tỳ kheo ni nói với một người đàn ông: “Xin ông vui lòng đến gặp Tôn giả A-nan, và nhân danh tôi, đảnh lễ dưới chân ngài. Hãy thưa với ngài: ‘Thưa Tôn giả, Tỳ kheo ni tên là… đang bị bệnh, đau đớn, và bệnh nặng. Bà ấy xin đảnh lễ dưới chân ngài.’ Và sau đó nói: ‘Thưa Tôn giả, xin ngài hãy đến khu nhà của Tỳ kheo ni để thăm vị Tỳ kheo ni ấy vì lòng bi mẫn.’”

“Vâng, thưa bà,” người đàn ông đó đáp. Ông ta đã làm theo lời Tỳ kheo ni yêu cầu. Tôn giả A-nan im lặng nhận lời.

Sau đó, Tôn giả A-nan đắp y, mang theo y bát, đi đến khu nhà của Tỳ kheo ni để thăm vị Tỳ kheo ni ấy. Vị Tỳ kheo ni đó thấy Tôn giả A-nan từ xa đi tới. Bà trùm kín người từ đầu đến chân và nằm xuống giường. Rồi Tôn giả A-nan đến gần bà, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, Tôn giả A-nan nói với vị Tỳ kheo ni:

"Này Sư tỷ, thân này được tạo ra bởi thức ăn. Nương vào thức ăn, hãy từ bỏ thức ăn. Thân này được tạo ra bởi ái (craving / sự khao khát, ham muốn). Nương vào ái, hãy từ bỏ ái. Thân này được tạo ra bởi mạn (conceit / sự kiêu ngạo, tự cao). Nương vào mạn, hãy từ bỏ mạn. Thân này được tạo ra bởi dâm dục (sex / sự giao hợp, hành vi tình dục). Đức Phật đã dạy về việc đoạn trừ mọi pháp liên quan đến dâm dục.

‘Thân này được tạo ra bởi thức ăn. Nương vào thức ăn, hãy từ bỏ thức ăn.’ Đây là điều ta đã nói, nhưng tại sao ta lại nói vậy? Hãy xem một Tỳ kheo như lý tác ý (reflects rationally / hướng tâm đúng pháp) về thức ăn mà họ dùng: ‘Không phải để vui chơi, đam mê, trang sức, hay trang điểm, mà chỉ để duy trì thân này, tránh tổn hại, và hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Như vậy, ta sẽ chấm dứt cảm giác khó chịu cũ và không làm phát sinh cảm giác khó chịu mới, và ta sẽ có phương tiện để tiếp tục sống, không bị chê trách, và an trú thoải mái.’ Sau một thời gian, nương vào thức ăn, họ từ bỏ thức ăn. Đó là lý do tại sao ta đã nói điều đó.

‘Thân này được tạo ra bởi ái. Nương vào ái, hãy từ bỏ ái.’ Đây là điều ta đã nói, nhưng tại sao ta lại nói vậy? Hãy xem một Tỳ kheo nghe điều này: ‘Người ta nói rằng Tỳ kheo tên là… đã chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ không còn ô nhiễm) ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Vị ấy nghĩ: ‘Ồ, khi nào mình cũng sẽ chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này…?’ Sau một thời gian, nương vào ái, họ từ bỏ ái. Đó là lý do tại sao ta đã nói điều đó.

‘Thân này được tạo ra bởi mạn. Nương vào mạn, hãy từ bỏ mạn.’ Đây là điều ta đã nói, nhưng tại sao ta lại nói vậy? Hãy xem một Tỳ kheo nghe điều này: ‘Người ta nói rằng Tỳ kheo tên là… đã chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Vị ấy nghĩ: ‘Vậy thì, vị tôn giả ấy có thể chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này… Tại sao mình lại không thể?’ Sau một thời gian, nương vào mạn, họ từ bỏ mạn. Đó là lý do tại sao ta đã nói điều đó.

‘Thân này được tạo ra bởi dâm dục. Đức Phật đã dạy về việc đoạn trừ mọi pháp liên quan đến dâm dục.’"

Bấy giờ, vị Tỳ kheo ni ấy ngồi dậy khỏi giường, vắt y qua một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả A-nan và nói: “Con đã phạm lỗi, thưa Tôn giả. Thật là dại dột, ngu xuẩn, và bất thiện khi con đã hành động như vậy. Xin Tôn giả chấp nhận lỗi lầm này của con, để con có thể tự chế trong tương lai.”

“Đúng vậy, Sư tỷ, Sư tỷ đã phạm lỗi. Thật là dại dột, ngu xuẩn, và bất thiện khi Sư tỷ đã hành động như vậy. Nhưng vì Sư tỷ đã nhận ra lỗi lầm của mình, và đã sám hối đúng pháp, ta chấp nhận điều đó. Vì đó là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh khi nhận ra lỗi lầm của mình, sám hối đúng pháp, và cam kết phòng hộ trong tương lai.”

(IX) (159) Tỷ Kheo Ni

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi một Tỷ-kheo ni gọi một người và nói: “- Hãy đến đây, thưa Ông. Hãy đi đến Tôn giả Ananda, và nhân danh tôi, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda và nói: “Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni tên là … bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Tỷ-kheo-ni với đầu đảnh lễ Tôn giả Ananda và nói như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni, đi đến Tỷ-kheo-ni ấy vì lòng từ mẫn”.

“- Thưa vâng, nữ Tôn giả”. Người ấy vâng đáp Tỷ-kheo-ni ấy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni tên này bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni, đi đến Tỷ-kheo-ni ấy vì lòng từ mẫn”.

Tôn giả Ananda im lặng nhận lời.

2. Rồi Tôn giả Ananda, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni. Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy, liền trùm đầu và nằm trên giường. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tỷ-kheo-ni ấy, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Ananda nói với Tỷ-kheo-ni ấy:

3. - Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do kiêu mạn được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do dâm dục được tác thành, y cứ vào dâm dục; dâm dục, sự phá đổ cây cầu được Thế Tôn nói đến.

4. Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được nói đến. Này chị, ở đây, Tỷ-kheo như lý quán sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu, và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Vị ấy sau một thời gian, dầu cho y cứ vào đồ ăn, vẫn không đắm trước đồ ăn.

Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được nói đến.

5. Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, y cứ vào gì được nói đến như vậy? Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: “Tỷ-kheo tên này do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy suy nghĩ: “Thật vậy, ta cũng do đoạn tận các lậu hoặc … ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy, sau một thời gian, dầu y cứ vào ái, đoạn tận ái.

Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, do duyên này được nói đến.

6. Này chị, thân này do kiêu mạn được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, y cứ vào gì được nói đến như vậy? Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: “Tỷ-kheo tên này do đoạn diệt các lậu hoặc … vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy suy nghĩ: “Vậy sao ta không như vậy?”. Vị ấy, sau một thời gian, dầu y cứ vào kiêu mạn, đoạn tận kiêu mạn.

Này chị, thân này do dâm dục tác thành, y cứ vaò kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đọan tận. Như vâỵ được nói đến, do duyên này được nói đến. 7. Này chị, thân này do dâm dục tác thành, dâm dục, sự phá đổ cây cầu được Thế Tôn nói đến.

8. Rồi Tỷ-kheo-ni ấy, từ giường đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, và thưa với Tôn giả Ananda:

− Một lỗi con đã vi phạm, thưa Tôn giả, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả Ananda chấp nhận cho con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!

9. - Thật vậy, này chị, thật sự chị đã phạm tội vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Chị đã làm như vậy. Này chị, vì Chị thấy phạm tội là phạm tội, và như Pháp phát lộ, nên chúng tôi chấp nhận tội ấy cho chị. Này chị, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng khi thấy được phạm tội là phạm tội, và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.

AN 4.160 Kinh Pháp và Luật của Bậc Thiện Thệ (Sugatavinayasutta)

"Này các Tỳ kheo, một Bậc Thiện Thệ (Holy One / Bậc đã đi đến tốt đẹp, một danh hiệu của Đức Phật) hoặc Pháp và Luật của Bậc Thiện Thệ tồn tại trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Và ai là Bậc Thiện Thệ? Đó là khi một Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán (perfected / Bậc xứng đáng cúng dường, đã đoạn tận phiền não), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / Bậc giác ngộ hoàn toàn và đúng đắn), bậc Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải (knower of the world / Bậc hiểu biết thế gian), bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / Bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), bậc Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / Bậc thầy của trời và người), bậc Phật (awakened / Bậc giác ngộ), bậc Thế Tôn (blessed / Bậc được tôn kính nhất trên đời). Đây là Bậc Thiện Thệ.

Và Pháp và Luật của Bậc Thiện Thệ là gì? Ngài tuyên thuyết giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Đây là Pháp và Luật của Bậc Thiện Thệ. Đây là cách một Bậc Thiện Thệ hoặc Pháp và Luật của Bậc Thiện Thệ tồn tại trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Bốn điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính). Bốn là gì?

Thứ nhất, các Tỳ kheo học thuộc các bài kinh sai lạc, với văn cú và chữ nghĩa đặt sai chỗ. Khi văn cú và chữ nghĩa đặt sai chỗ, ý nghĩa bị hiểu sai. Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo khó khuyên bảo, có những tính cách khiến họ khó khuyên bảo. Họ không kiên nhẫn, và không kính trọng lời chỉ dạy. Đây là điều thứ hai dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo đa văn (very learned / nghe nhiều, học rộng)—những người thừa tự di sản, những người thuộc lòng giáo pháp, luật tạng (monastic law / bộ sưu tập các giới luật cho Tăng Ni), và các bản tóm tắt (mātikā / outlines / các đề mục tóm tắt)—không cẩn thận dạy người khác tụng đọc các bài kinh. Khi họ qua đời, các bài kinh bị cắt đứt gốc rễ, không có người kế thừa. Đây là điều thứ ba dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo trưởng lão sống buông thả và lười biếng, dẫn đầu trong sự thối chuyển, xao lãng việc ẩn cư, không khơi dậy tinh tấn để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, thành tựu những gì chưa thành tựu, và giác ngộ những gì chưa giác ngộ. Thế hệ sau noi theo gương của họ. Họ cũng trở nên buông thả và lười biếng, dẫn đầu trong sự thối chuyển, xao lãng việc ẩn cư, không khơi dậy tinh tấn để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, thành tựu những gì chưa thành tựu, và giác ngộ những gì chưa giác ngộ. Đây là điều thứ tư dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Đó là bốn điều dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Bốn điều này dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp. Bốn là gì?

Thứ nhất, các Tỳ kheo học thuộc các bài kinh đúng đắn, với văn cú và chữ nghĩa đặt đúng chỗ. Khi văn cú và chữ nghĩa đặt đúng chỗ, ý nghĩa được hiểu đúng. Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo dễ khuyên bảo, có những tính cách khiến họ dễ khuyên bảo. Họ kiên nhẫn, và kính trọng lời chỉ dạy. Đây là điều thứ hai dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo đa văn—những người thừa tự di sản, những người thuộc lòng giáo pháp, luật tạng, và các bản tóm tắt (mātikā)—cẩn thận dạy người khác tụng đọc các bài kinh. Khi họ qua đời, các bài kinh không bị cắt đứt gốc rễ, và có người kế thừa. Đây là điều thứ ba dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo trưởng lão không sống buông thả hay lười biếng, không dẫn đầu trong sự thối chuyển; thay vào đó, họ đi đầu trong việc ẩn cư, khơi dậy tinh tấn để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, thành tựu những gì chưa thành tựu, và giác ngộ những gì chưa giác ngộ. Thế hệ sau noi theo gương của họ. Họ cũng không sống buông thả hay lười biếng… Đây là điều thứ tư dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp.

Đó là bốn điều dẫn đến sự duy trì, tồn tại, và trường tồn của chánh pháp."

(X) (160) Luật Của Bậc Thiện Thệ

1. - Này các Tỷ-kheo, khi bậc Thiện Thệ hay Luật của Thiện Thệ an trú ở đời là vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thiện Thệ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai có mặt ở đời, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Nghị Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Này các Tỷ-kheo, đây là bậc Thiện Thệ.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Luật của bậc Thiện Thệ?

Vị ấy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là Luật của bậc Thiện Thệ.

Này các Tỷ-kheo, khi bậc Thiện Thệ hay Luật của Thiện Thệ an trú ở đời là vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

3. Có bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh, được lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn. Do văn cú bị sắp đặt đảo lộn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý bị hướng dẫn sai lạc. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người khó nói, thành tựu với những pháp khiến cho trở thành khó nói, khó kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy không nói lại kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, kinh bị cắt đứt tại gốc rễ, không có chỗ ý cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Trưởng lão Tỷ-kheo là những vị sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không cố gắng tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những thế hệ sau tiếp nối theo tà kiến của họ. Thế hệ ấy cũng sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không cố gắng tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

7. Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh được khéo lãnh thọ, với văn cú sắp đặt đúng đắn. Do văn cú được sắp đặt đúng đắn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý được hướng dẫn đúng đắn. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn và không biến mất.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người dễ nói, thành tựu với những pháp khiến cho trở thành dễ nói, kham nhẫn. Họ kính trọng những lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai đưa đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn và không biến mất.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy nói lại kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, kinh không bị cắt đứt tại gốc rễ, có chỗ ý cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn và không biến mất.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Trưởng lão Tỷ-kheo không là những vị sống đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không còn gánh nặng sống viễn ly, cố gắng, tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những thế hệ về sau tiếp nối theo chánh kiến của họ. Thế hệ ấy không sống đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, cố gắng, tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư đưa đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn và không biến mất.

Này các Tỷ-kheo, bốn pháp này đưa đến diệu pháp được an trú, không bị hỗn loạn, không biến mất.