Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Tác Ý

AN 4.171 Tác Ý (ý muốn) Kinh ý muốn

"Này các Tỳ kheo, khi thân còn tồn tại, ý muốn (intention / tâm sở tư, chủ ý) tạo ra thân nghiệp (bodily action / hành động qua thân) làm phát sinh khổ và lạc cho chính mình. Khi lời nói còn tồn tại, ý muốn tạo ra khẩu nghiệp (verbal action / hành động qua lời nói) làm phát sinh khổ và lạc cho chính mình. Khi tâm còn tồn tại, ý muốn tạo ra ý nghiệp (mental action / hành động qua ý nghĩ) làm phát sinh khổ và lạc cho chính mình. Nhưng những điều này chỉ xảy ra khi do duyên (conditioned by / bị chi phối bởi, phụ thuộc vào) vô minh (ignorance / sự không hiểu biết Tứ Thánh Đế).

Do chính mình lựa chọn tạo ra thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, mà do duyên ấy, khổ và lạc phát sinh cho chính mình. Hoặc do người khác lựa chọn… Do mình có ý thức lựa chọn… Hoặc do mình vô ý thức lựa chọn…

Vô minh bao gồm trong tất cả những điều này. Nhưng khi vô minh phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, thì không còn thân, không còn lời nói, không còn tâm, mà do duyên ấy, khổ và lạc phát sinh cho chính mình. Không còn mảnh đất, không còn nền tảng, không còn phạm vi, không còn cơ sở, mà do duyên ấy, khổ và lạc phát sinh cho chính mình.

XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở

(I) (171) Với Tư Tâm Sở

− Này các Tỷ-kheo, khi nào có hành động về thân, do nhân thân tư tâm sở, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi nào có hành động về lời, do nhân tư tâm sở về lời, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi nào có hành động về ý, do nhân ý tư tâm sở, khởi lên lạc khổ nội tâm. Hay là do vô minh …

2. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm thân hành, do duyên này, khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm thân hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

3. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm khẩu hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

4. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự mình làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm ý hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

5. Này các Tỷ-kheo, trong những pháp này, có vô minh tháp tùng. Do sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn của vô minh, thân hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy; khẩu hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy; ý hành không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Thửa ruộng không có, căn cứ không có, xứ không có, duyên sự không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.

Này các Tỳ kheo, có bốn loại sự tái sanh (reincarnation in a life-form / sự sinh lại vào một cảnh giới) trong một loài hữu tình. Bốn loại nào?

1. Có sự tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của chính mình có hiệu lực, chứ không phải của người khác.
2. Có sự tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của người khác có hiệu lực, chứ không phải của chính mình.
3. Có sự tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của cả chính mình và người khác đều có hiệu lực.
4. Có sự tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của cả chính mình và người khác đều không có hiệu lực.

Đó là bốn loại tái sanh trong một loài hữu tình."

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Phật:

"Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy vắn tắt của Đức Phật như sau: Trường hợp tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của chính mình có hiệu lực, không phải của người khác. Những chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) đó mệnh chung từ cõi (realm / cảnh giới) ấy do ý muốn của chính họ. Trường hợp tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của người khác có hiệu lực, không phải của chính mình. Những chúng sanh đó mệnh chung từ cõi ấy do ý muốn của người khác. Trường hợp tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của cả chính mình và người khác đều có hiệu lực. Những chúng sanh đó mệnh chung từ cõi ấy do ý muốn của cả chính họ và người khác.

Nhưng bạch Thế Tôn, trường hợp tái sanh trong một loài hữu tình nơi ý muốn của cả chính mình và người khác đều không có hiệu lực, điều này chỉ đến loại chư thiên nào?"

“Này Sāriputta, điều đó chỉ đến các vị trời tái sanh trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cảnh giới không có tưởng cũng không phải không có tưởng).”

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà một số chúng sanh mệnh chung từ cõi ấy là bậc nhất lai (returner / người chỉ còn tái sanh một lần nữa vào cõi Dục), trở lại nơi này, trong khi những người khác là bậc bất lai (non-returner / người không còn tái sanh lại cõi Dục), không trở lại?”

"Này Sāriputta, xét trường hợp một người chưa từ bỏ các hạ phần kiết sử (lower fetters / năm trói buộc đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân hận). Ngay trong đời này, họ nhập và an trú trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Họ thưởng thức, ưa thích và thấy thỏa mãn trong đó. Nếu họ an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, và thường xuyên thiền định về nó mà không đánh mất, khi chết, họ được tái sanh cùng chúng chư thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Khi mệnh chung từ đó, họ là bậc nhất lai, trở lại nơi này.

Này Sāriputta, xét trường hợp một người đã từ bỏ các hạ phần kiết sử. Ngay trong đời này, họ nhập và an trú trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Họ thưởng thức, ưa thích và thấy thỏa mãn trong đó. Nếu họ an trú trong đó, chuyên tâm vào đó, và thường xuyên thiền định về nó mà không đánh mất, khi chết, họ được tái sanh cùng chúng chư thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Khi mệnh chung từ đó, họ là bậc bất lai, không trở lại nơi này.

Đây là nhân, đây là duyên tại sao một số chúng sanh mệnh chung từ cõi ấy là bậc nhất lai, trở lại nơi này, trong khi những người khác là bậc bất lai, không trở lại."

(II) (172) Ðược Ngã Tánh

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh. Thế nào là bốn?

Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải tư tâm sở của mình. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không hoạt động.

Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh.

2. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Do nhân ngã tư tâm sở, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải ngã tư tâm sở. Do nhân tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Do nhân ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung, từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động.

3. Trong trường hợp ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động, thời hạng chư Thiên nào cần được xem là trong trường hợp này?

− Này Sàriputta, hạng chư Thiên đi đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được xem là trong trường hợp ấy.

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở lui lại, đã trở lui lại trong trạng thái này? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở không lui lại, không trở lui lại trong trạng thái này?

4. - Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử chưa đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái), đã trở lui lại, đã trở lui lại trạng thái này.

5. Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái) ấy, nhưng không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.

Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung, từ bỏ thân ấy … đã không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.

AN 4.172 Sāriputta Đạt Được Phân Tích Pháp Kinh Vibhatti

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói:

"Thưa các Hiền giả, tôi đã chứng ngộ nghĩa phân tích (textual analysis of the meaning / tuệ phân tích ý nghĩa)—từng phần, từng chữ—sau nửa tháng xuất gia. Tôi giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích và trình bày nó bằng nhiều cách. Ai có nghi ngờ hay không chắc chắn, hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời. Bậc Đạo Sư của chúng ta đang hiện diện, Ngài là người rất thiện xảo trong giáo pháp của chúng ta.

Tôi đã chứng ngộ pháp phân tích (textual analysis of the text / tuệ phân tích pháp)—từng phần, từng chữ—sau nửa tháng xuất gia. …

Tôi đã chứng ngộ từ ngữ phân tích (textual analysis of terminology / tuệ phân tích ngôn ngữ)—từng phần, từng chữ—sau nửa tháng xuất gia. …

Tôi đã chứng ngộ biện tài phân tích (textual analysis of eloquence / tuệ phân tích sự ứng đối)—từng phần, từng chữ—sau nửa tháng xuất gia. Tôi giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích và trình bày nó bằng nhiều cách. Ai có nghi ngờ hay không chắc chắn, hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời. Bậc Đạo Sư của chúng ta đang hiện diện, Ngài là người rất thiện xảo trong giáo pháp của chúng ta."

(III) (173) Phân Tích

Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:

− Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.

AN 4.173 Với Mahākoṭṭhita Kinh Mahākoṭṭhika

Khi ấy, Tôn giả Mahākoṭṭhita đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Mahākoṭṭhita ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Hiền giả, khi sáu xứ xúc (six fields of contact / sáu nơi phát sinh sự tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đã phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, có cái gì khác vẫn tồn tại không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác vừa không còn tồn tại vừa không phải không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Thưa Hiền giả, khi được hỏi rằng—khi sáu xứ xúc đã phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn—có cái gì khác vẫn tồn tại không, Ngài nói ‘đừng nói như vậy’. Khi được hỏi có cái gì khác không còn tồn tại nữa không, Ngài nói ‘đừng nói như vậy’. Khi được hỏi có cái gì khác vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại nữa không, Ngài nói ‘đừng nói như vậy’. Khi được hỏi có cái gì khác vừa không còn tồn tại vừa không phải không còn tồn tại nữa không, Ngài nói ‘đừng nói như vậy’. Vậy chúng ta nên hiểu ý nghĩa của lời nói này như thế nào?”

“Nếu Hiền giả nói rằng, ‘Khi sáu xứ xúc đã phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, có cái gì khác vẫn tồn tại’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận (proliferating the unproliferated / bàn luận, suy diễn về cái vượt ngoài sự suy diễn). Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác vừa không còn tồn tại vừa không phải không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Phạm vi của sự hí luận (proliferation / sự suy diễn, vọng tưởng) mở rộng đến đâu thì phạm vi của sáu xứ xúc mở rộng đến đó. Phạm vi của sáu xứ xúc mở rộng đến đâu thì phạm vi của sự hí luận mở rộng đến đó. Khi sáu xứ xúc phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, sự hí luận dừng lại và lắng dịu.”

(IV) (174) Kotthita

1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón thăm hỏi … ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì khác nữa? − Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

2.- Thưa Hiền giả, khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Sau khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa”, Hiền giả nói: “Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả, như thế nào cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?

3.- “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, không có cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa!”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. “Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt, … không có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa !”, nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. Thưa Hiền giả, cho đến khi nào có sự đi đến sáu xúc xứ, cho đến khi ấy có sự đi đến hý luận. Cho đến khi nào có sự đi đến hý luận, cho đến khi ấy có sự đi đến sáu xúc xứ. Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, hý luận được đoạn diệt, hý luận được chỉ tịnh.

AN 4.174 Với Ānanda Kinh Ānanda

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Mahākoṭṭhita và chào hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Ānanda ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Mahākoṭṭhita:

“Thưa Hiền giả, khi sáu xứ xúc này đã phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, có cái gì khác tồn tại không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Có cái gì khác vừa không còn tồn tại vừa không phải không còn tồn tại nữa không?”

“Đừng nói như vậy, thưa Hiền giả.”

“Thưa Hiền giả, khi được hỏi những câu này, Ngài nói ‘đừng nói như vậy’. … Vậy chúng ta nên hiểu ý nghĩa của lời nói này như thế nào?”

“Nếu Hiền giả nói rằng ‘khi sáu xứ xúc đã phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, có cái gì khác tồn tại’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Nếu Hiền giả nói rằng ‘có cái gì khác vừa không còn tồn tại vừa không phải không còn tồn tại nữa’, là Hiền giả đang hí luận điều không thể hí luận. Phạm vi của sự hí luận mở rộng đến đâu thì phạm vi của sáu xứ xúc mở rộng đến đó. Phạm vi của sáu xứ xúc mở rộng đến đâu thì phạm vi của sự hí luận mở rộng đến đó. Khi sáu xứ xúc phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, sự hí luận dừng lại và lắng dịu.”

4. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Mahàkotthita, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahàkotthita những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahàkotthita:

− Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, có phải còn có vật gì khác?

− Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.

… (giống như đoạn trước, khi Sàriputta trả lời cho Mahàkotthita … cho đến… “hý luận được chỉ tịnh”).

AN 4.175 Với Upavāṇa Kinh Upavāṇa

Khi ấy, Tôn giả Upavāna đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Upavāna ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Hiền giả Sāriputta, có phải Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau (terminator / người đã kết thúc khổ đau) là nhờ minh (knowledge / trí tuệ, sự hiểu biết đúng đắn) không?”

“Không phải vậy, thưa Hiền giả.”

“Có phải Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ hạnh (conduct / hành vi, cách cư xử, giới hạnh) không?”

“Không phải vậy, thưa Hiền giả.”

“Có phải Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ cả minh và hạnh không?”

“Không phải vậy, thưa Hiền giả.”

“Có phải Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau là vì một lý do nào khác ngoài minh và hạnh không?”

“Không phải vậy, thưa Hiền giả.”

“Thưa Hiền giả Sāriputta, khi được hỏi có phải Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ minh hay hạnh hay cả minh và hạnh, hay vì một lý do nào khác, Ngài đều nói ‘không phải vậy’. Vậy làm thế nào Ngài trở thành người chấm dứt khổ đau?”

“Thưa Hiền giả, nếu trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ minh, thì ngay cả người còn nhiên liệu cho chấp thủ (still has fuel for grasping / vẫn còn nền tảng cho sự chấp thủ) cũng có thể là người chấm dứt khổ đau. Nếu trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ hạnh, thì ngay cả người còn nhiên liệu cho chấp thủ cũng có thể là người chấm dứt khổ đau. Nếu trở thành người chấm dứt khổ đau là nhờ cả minh và hạnh, thì ngay cả người còn nhiên liệu cho chấp thủ cũng có thể là người chấm dứt khổ đau. Nếu trở thành người chấm dứt khổ đau là vì một lý do nào khác ngoài minh và hạnh, thì ngay cả phàm phu (ordinary person / người chưa chứng Thánh quả) cũng có thể là người chấm dứt khổ đau. Vì phàm phu thiếu cả minh và hạnh. Thưa Hiền giả, người thiếu giới hạnh (good conduct / hành vi đạo đức tốt đẹp) thì không biết và thấy các pháp đúng như thật. Người thành tựu giới hạnh thì biết và thấy các pháp đúng như thật. Do biết và thấy các pháp đúng như thật, người ấy là người chấm dứt khổ đau.”

(V) (175) Upavàna

1. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta … ngồi xuống một bên.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả. − Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?

− Thưa không, này Hiền giả.

2. - Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. … Như thế nào, thưa Tôn giả, (cần phải hiểu) có người chấm dứt (đau khổ)?

3.- Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời một người phàm phu có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả, người phàm phu nhưng do có minh và hạnh, hạnh không có đầy đủ, không như thật thấy và biết, nhưng như thật thấy và biết, là người chấm dứt (đau khổ).

AN 4.176 Khát Vọng Kinh Āyācana

"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo có lòng tin chân chánh nên khát vọng: ‘Mong sao ta được như Sāriputta và Moggallāna!’ Đây là tiêu chuẩn và thước đo cho các đệ tử Tỳ kheo của Ta, đó là Sāriputta và Moggallāna.

Một Tỳ kheo ni có lòng tin chân chánh nên khát vọng: ‘Mong sao ta được như Tỳ kheo ni Khemā và Uppalavaṇṇā!’ Đây là tiêu chuẩn và thước đo cho các đệ tử Tỳ kheo ni của Ta, đó là Tỳ kheo ni Khemā và Uppalavaṇṇā.

Một nam cư sĩ có lòng tin chân chánh nên khát vọng: ‘Mong sao ta được như gia chủ Citta và Hatthaka ở Āḷavī!’ Đây là tiêu chuẩn và thước đo cho các đệ tử nam cư sĩ của Ta, đó là gia chủ Citta và Hatthaka ở Āḷavī.

Một nữ cư sĩ có lòng tin chân chánh nên khát vọng: ‘Mong sao ta được như nữ cư sĩ Khujjuttarā và Veḷukaṇṭakī, mẹ của Nanda!’ Đây là tiêu chuẩn và thước đo cho các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, đó là nữ cư sĩ Khujjuttarā và Veḷukaṇṭakī, mẹ của Nanda."

(VI) (176) Mong Cầu

1.- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sàriputta, Moggallàna”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta, Moggallàna.

2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.

3. Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta, và Hatthaka người Alavì”.

Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Alavì.

4. Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà”. Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.

AN 4.177 Với Rāhula Kinh Rāhula

Khi ấy, Tôn giả Rāhula đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả:

"Này Rāhula, địa đại (earth element / yếu tố đất) bên trong và địa đại bên ngoài chỉ là địa đại. Điều này cần được thấy đúng như thật bằng chánh kiến (right understanding / sự hiểu biết đúng đắn) như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Khi con thấy đúng như thật bằng chánh kiến, con sẽ nhàm chán (disillusioned / không còn ham muốn, thấy rõ sự thật) đối với địa đại, ly tham (detaching the mind / từ bỏ lòng tham ái) khỏi địa đại.

Thủy đại (water element / yếu tố nước) bên trong và thủy đại bên ngoài chỉ là thủy đại. Điều này cần được thấy đúng như thật bằng chánh kiến như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Khi con thấy đúng như thật bằng chánh kiến, con sẽ nhàm chán đối với thủy đại, ly tham khỏi thủy đại.

Hỏa đại (fire element / yếu tố lửa) bên trong và hỏa đại bên ngoài chỉ là hỏa đại. Điều này cần được thấy đúng như thật bằng chánh kiến như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Khi con thấy đúng như thật bằng chánh kiến, con sẽ nhàm chán đối với hỏa đại, ly tham khỏi hỏa đại.

Phong đại (air element / yếu tố gió) bên trong và phong đại bên ngoài chỉ là phong đại. Điều này cần được thấy đúng như thật bằng chánh kiến như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Khi con thấy đúng như thật bằng chánh kiến, con sẽ nhàm chán đối với phong đại, ly tham khỏi phong đại.

Khi một Tỳ kheo thấy bốn đại này không phải là tự ngã, không thuộc về tự ngã, vị ấy được gọi là Tỳ kheo đã cắt đứt ái dục, cởi bỏ kiết sử (fetters / những trói buộc tâm linh), và bằng cách đoạn trừ hoàn toàn mạn (conceit / lòng kiêu ngạo, ngã mạn), đã chấm dứt khổ (suffering / sự đau khổ, bất toại nguyện)."

(VII) (177) Rahula

1. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:

− Này Ràhula, phàm có nội địa giới gì, phàm có ngoại địa giới gì, đều là địa giới này. Cần phải như thật thấy địa giới ấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do thấy như thật (địa giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán địa giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.

2-4. Này Ràhula, phàm có nội thủy giới gì, phàm có ngoại thủy giới gì, đều là thủy giới này…, phàm có nội hỏa giới gì, phàm có ngoại hỏa giới gì, đều là hỏa giới này…, phàm có nội phong giới gì, phàm có ngoại phong giới gì, đều là phong giới này. Cần phải như thật thấy phong giới ấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do thấy như thật (phong giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán phong giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.

5. Khi nào, này Ràhula, Tỷ-kheo đối với bốn giới này, không có tùy quán là tự ngã hay thuộc ngã sở, này Ràhula, vị này được gọi là Tỷ-kheo đã cắt dứt ái, đã giải tỏa các kiết sử, đã chơn chánh minh quán kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.

AN 4.178 Đầm Lầy Kinh Jambālī

"Này các Tỳ kheo, có bốn hạng người này được tìm thấy ở đời. Bốn hạng nào?

Xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh (peaceful release of the heart / trạng thái tâm được giải thoát, yên bình). Vị ấy chú tâm vào sự diệt tận thân kiến (cessation of substantial reality / sự chấm dứt hoàn toàn nền tảng của tự ngã), nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không tin tưởng, không an trú, và không quyết định vào đó. Không thể mong đợi Tỳ kheo ấy chứng ngộ sự diệt tận thân kiến. Ví như một người dùng bàn tay dính nhựa cây nắm lấy cành cây. Tay người ấy sẽ dính chặt, bám lấy, và bị trói buộc vào đó. Cũng vậy, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh. Vị ấy chú tâm vào sự diệt tận thân kiến, nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không tin tưởng, không an trú, và không quyết định vào đó. Không thể mong đợi Tỳ kheo ấy chứng ngộ sự diệt tận thân kiến.

Tiếp theo, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh. Vị ấy chú tâm vào sự diệt tận thân kiến, và tâm vị ấy hướng đến, tin tưởng, an trú, và quyết định vào đó. Có thể mong đợi Tỳ kheo ấy chứng ngộ sự diệt tận thân kiến. Ví như một người dùng bàn tay sạch nắm lấy cành cây. Tay người ấy sẽ không dính chặt, không bám lấy, không bị trói buộc vào đó. Cũng vậy, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh. Vị ấy chú tâm vào sự diệt tận thân kiến, và tâm vị ấy hướng đến, tin tưởng, an trú, và quyết định vào đó. Có thể mong đợi Tỳ kheo ấy chứng ngộ sự diệt tận thân kiến.

Tiếp theo, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh. Vị ấy chú tâm vào việc phá vỡ vô minh (smashing ignorance / loại bỏ hoàn toàn sự không hiểu biết), nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không tin tưởng, không an trú, và không quyết định vào đó. Không thể mong đợi Tỳ kheo ấy phá vỡ vô minh. Ví như có một cái đầm lầy tù đọng nhiều năm. Rồi có người chặn các dòng nước chảy vào và mở các cống thoát nước ra, nhưng trời lại không mưa đủ. Không thể mong đợi cái đầm lầy ấy vỡ bờ. Cũng vậy, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy chú tâm vào việc phá vỡ vô minh, nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không tin tưởng, không an trú, và không quyết định vào đó. Không thể mong đợi Tỳ kheo ấy phá vỡ vô minh.

Tiếp theo, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh. Vị ấy chú tâm vào việc phá vỡ vô minh, và tâm vị ấy hướng đến, tin tưởng, an trú, và quyết định vào đó. Có thể mong đợi Tỳ kheo ấy phá vỡ vô minh. Ví như có một cái đầm lầy tù đọng nhiều năm. Rồi có người mở các dòng nước chảy vào và chặn các cống thoát nước lại, và trời mưa rất nhiều. Có thể mong đợi cái đầm lầy ấy vỡ bờ. Cũng vậy, xét trường hợp một Tỳ kheo nhập và an trú trong một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy chú tâm vào việc phá vỡ vô minh, và tâm vị ấy hướng đến, tin tưởng, an trú, và quyết định vào đó. Có thể mong đợi Tỳ kheo ấy phá vỡ vô minh.

Đó là bốn hạng người được tìm thấy ở đời."

(VIII) (178) Hồ Nước Ở Làng

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, ; do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại .

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.179 Niết Bàn Kinh Nibbāna

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Ānanda ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Hiền giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì mà một số chúng sanh không đạt Niết-bàn (fully extinguished / đạt Niết-bàn hoàn toàn) ngay trong đời này?”

“Thưa Hiền giả Ānanda, đó là vì một số chúng sanh không thực sự hiểu rõ những tưởng (perceptions / sự tri nhận, ghi nhận) nào đưa đến tổn giảm (make things worse / làm cho tệ đi), những tưởng nào đưa đến trạng thái dừng lại (keep things steady / duy trì trạng thái hiện tại), những tưởng nào đưa đến thù thắng (lead to distinction / dẫn đến sự tiến bộ, vượt trội), và những tưởng nào đưa đến thể nhập (lead to penetration / dẫn đến sự thấu suốt, chứng ngộ). Đó là nhân, đó là duyên tại sao một số chúng sanh không đạt Niết-bàn ngay trong đời này.”

“Thưa Hiền giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì mà một số chúng sanh đạt Niết-bàn ngay trong đời này?”

“Thưa Hiền giả Ānanda, đó là vì một số chúng sanh thực sự hiểu rõ những tưởng nào đưa đến tổn giảm, những tưởng nào đưa đến trạng thái dừng lại, những tưởng nào đưa đến thù thắng, và những tưởng nào đưa đến thể nhập. Đó là nhân, đó là duyên tại sao một số chúng sanh đạt Niết-bàn ngay trong đời này.”

(IX) (179) Niết Bàn

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta. sau khi đến … ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:

− Do nhân dì, thưa Hiền giả Sàriputta, do duyên gì ở đây, lại có một số chúng sanh ngay trong hiện tại không có chứng nhập Niết-bàn?

− Ở đây, này Hiền giả Ananda, chúng sanh không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thối đọa”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào an trú”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thù thắng”, không có như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thể nhập”. Này Hiền giả Ananda, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại, không chứng nhập Niết-bàn.

2. - Thưa Hiền giả Sàriputta, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại chứng nhập được Niết-bàn?

− Ở đây, này Hiền giả Ananda, chúng sanh như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thối đọa”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào an trú”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thù thắng”, như thật quán tri: “Các tưởng này dự phần vào thể nhập”. Do nhân này, do duyên này,Này Hiền giả Ananda, ở đây có các chúng sanh ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn.

AN 4.180 Bốn Đại Tham Chiếu Kinh Mahāpadesa

Một thời Đức Phật trú gần thành phố Bhoga, tại đền thờ cây Ānanda.

Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp.

Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các con bốn Đại Tham Chiếu (great references / những tiêu chuẩn lớn để tham chiếu giáo pháp). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy:

"Này các Tỳ kheo, bốn Đại Tham Chiếu là gì?

Xét trường hợp một Tỳ kheo nói: ‘Thưa Hiền giả, tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính): đây là giáo pháp, đây là luật (training / giới luật), đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư (Teacher’s instruction / giáo huấn của Đức Phật).’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh (discourse / bài kinh) và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán (perfected one / người đã hoàn thiện, giác ngộ), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / người tự mình giác ngộ hoàn toàn). Tỳ kheo ấy đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên từ bỏ nó.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Thưa Hiền giả, tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Thế Tôn: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Tỳ kheo ấy đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ điều đó. Đây là Đại Tham Chiếu thứ nhất.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) gồm các vị trưởng lão (seniors / vị Tỳ kheo lớn tuổi, có hạ lạp cao) và thượng thủ (leaders / người đứng đầu, lãnh đạo). Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Tăng đoàn đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Tăng đoàn ấy đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên từ bỏ nó.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có một Tăng đoàn gồm các vị trưởng lão và thượng thủ. Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Tăng đoàn đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Tăng đoàn ấy đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ điều đó. Đây là Đại Tham Chiếu thứ hai.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có nhiều vị Tỳ kheo trưởng lão đa văn (very learned / nghe nhiều, học rộng), là người thừa tự pháp (inheritors of the heritage / người kế thừa di sản giáo pháp), trì pháp (remember the teachings / ghi nhớ giáo pháp), trì luật (monastic law / ghi nhớ giới luật), và trì mẫu đề (outlines / ghi nhớ các đề mục tóm tắt). Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ các vị trưởng lão đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Các vị trưởng lão ấy đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên từ bỏ nó.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có nhiều vị Tỳ kheo trưởng lão đa văn, là người thừa tự pháp, trì pháp, trì luật, và trì mẫu đề. Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ các vị trưởng lão đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Các vị trưởng lão ấy đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ điều đó. Đây là Đại Tham Chiếu thứ ba.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có một vị Tỳ kheo trưởng lão duy nhất rất đa văn, là người thừa tự pháp, đã ghi nhớ giáo pháp, luật, và các mẫu đề. Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ vị trưởng lão đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Vị trưởng lão ấy đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên từ bỏ nó.

Xét một Tỳ kheo khác nói: ‘Tại tu viện kia có một vị Tỳ kheo trưởng lão duy nhất rất đa văn, là người thừa tự pháp, đã ghi nhớ giáo pháp, luật, và các mẫu đề. Tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ vị trưởng lão đó: đây là giáo pháp, đây là luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của Tỳ kheo ấy. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời và câu ấy, các con nên đối chiếu chúng với kinh và xem xét chúng trong luật. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Vị trưởng lão ấy đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ điều đó. Đây là Đại Tham Chiếu thứ tư.

Đó là bốn Đại Tham Chiếu."

(X) (180) Căn Cứ Ðịa

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp”. Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.

6. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng. 7. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và ếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.

8. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tươngxứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

9. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.