Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Bà La Môn

AN 4.181 Chiến Binh (Yodhājīvasutta)

"Này các Tỳ kheo (Mendicants / khất sĩ, tu sĩ Phật giáo), một chiến binh có bốn yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền. Bốn yếu tố nào? Vị ấy thiện xảo căn bản, là xạ thủ tầm xa, là xạ thủ thiện xạ, là người phá vỡ vật lớn. Một chiến binh với bốn yếu tố này thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền.

Cũng vậy, một Tỳ kheo có bốn phẩm chất thì xứng đáng với vật cúng dường chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay tôn kính, và là ruộng phước (merit / điều tốt lành, may mắn) vô thượng cho đời. Bốn phẩm chất nào? Vị ấy thiện xảo căn bản, là xạ thủ tầm xa, là xạ thủ thiện xạ, là người phá vỡ vật lớn.

Và thế nào là một Tỳ kheo thiện xảo căn bản? Đó là khi một Tỳ kheo có đạo đức, thu thúc trong giới luật (monastic code / quy tắc đạo đức cho tu sĩ), hành xử tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới (rules undertaken / điều luật cần học và thực hành) đã thọ nhận. Như vậy là một Tỳ kheo thiện xảo căn bản.

Và thế nào là một Tỳ kheo xạ thủ tầm xa? Đó là khi một Tỳ kheo thấy như thật bất kỳ loại sắc (form / hình thể vật chất) nào—quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến (right understanding / thấy biết đúng đắn): ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã (self / cái tôi, bản ngã) của tôi.’ Vị ấy thấy như thật bất kỳ loại thọ (feeling / cảm giác)… tưởng (perception / tri giác, nhận biết)… hành (choices / ý định, hành động có chủ ý)… thức (consciousness / nhận thức, tâm thức) nào—quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần, tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Như vậy là một Tỳ kheo xạ thủ tầm xa.

Và thế nào là một Tỳ kheo xạ thủ thiện xạ? Đó là khi vị ấy hiểu như thật: ‘Đây là khổ (suffering / sự đau khổ, bất toại nguyện)’… ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự diệt khổ (cessation of suffering / sự chấm dứt khổ đau)’… ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Như vậy là một Tỳ kheo xạ thủ thiện xạ.

Và thế nào là một Tỳ kheo phá vỡ vật lớn? Đó là khi một Tỳ kheo phá vỡ khối vô minh (ignorance / sự không hiểu biết, si mê) vĩ đại. Như vậy là một Tỳ kheo phá vỡ vật lớn.

Một Tỳ kheo với bốn phẩm chất này… là ruộng phước vô thượng cho đời."

XIX. Phẩm Chiến Sĩ

(I) (181) Người Chiến Sĩ

1.- Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn.

Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có cảm thọ gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả cảm thọ, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có tưởng gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả tưởng, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các hành, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”, như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”, như thật quán tri “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng.

6. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn.

Ðầy đủ bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 4.182 Bảo Đảm (Pāṭibhogasutta)

"Có bốn điều mà không ai có thể bảo đảm—không một sa môn (ascetic / người tu khổ hạnh, tu sĩ nói chung), bà la môn (brahmin / tu sĩ hoặc người thuộc giai cấp Bà la môn ở Ấn Độ cổ), vị trời (god / vị trời), Ma vương (Māra / ác ma, biểu tượng cho cám dỗ và trở ngại), một vị thần (divinity / thần linh), hay bất kỳ ai trên thế gian.

Bốn điều nào? Không ai có thể bảo đảm rằng người phải chịu già sẽ không già đi. Không ai có thể bảo đảm rằng người phải chịu bệnh sẽ không bị bệnh. Không ai có thể bảo đảm rằng người phải chịu chết sẽ không chết. Không ai có thể bảo đảm rằng những việc ác đã làm trong quá khứ—làm hư hỏng, đưa đến tái sinh (future lives / sự sinh lại trong vòng luân hồi), gây tổn hại, đưa đến khổ đau và sự tái sinh, già, và chết trong tương lai—sẽ không trổ quả.

Đây là bốn điều mà không ai có thể bảo đảm—không một sa môn, bà la môn, vị trời, Ma vương, vị thần, hay bất kỳ ai trên thế gian."

(II) (182) An Toàn

1.- Này các Tỷ-kheo, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp. Thế nào là bốn?

Bản tánh bị già, mong rằng không già, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp này. 2. Bản tánh bị bệnh, mong rằng không bệnh, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp này.

3. Bản tánh bị chết, mong rằng không bị chết, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp này.

4. Khổ quả của những ác nghiệp ấy (những nghiệp) tạp nhiễm, đưa đến tái sanh, đem lại phiền muộn, đem lại khổ quả dị thục sanh, già, chết trong tương lai, kết quả của những nghiện ngập ấy mong rằng không có hiện hữu. không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp này.

Này các Tỷ-kheo, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp này.

AN 4.183 Vassakāra về Điều Được Nghe (Sutasutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá (Rājagaha), tại Trúc Lâm, nơi nuôi sóc (Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground). Bấy giờ Bà la môn Vassakāra, đại thần xứ Ma Kiệt Đà, đi đến chỗ Đức Phật và chào hỏi với Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama (Mister Gotama / cách xưng hô tôn kính với Đức Phật), đây là giáo lý và quan điểm của tôi: Không có gì sai khi nói về những gì ông đã thấy, rằng: ‘Tôi đã thấy như vậy.’ Không có gì sai khi nói về những gì ông đã nghe, rằng: ‘Tôi đã nghe như vậy.’ Không có gì sai khi nói về những gì ông đã nghĩ, rằng: ‘Tôi đã nghĩ như vậy.’ Không có gì sai khi nói về những gì ông đã biết, rằng: ‘Tôi đã biết như vậy.’”

"Này Bà la môn, Ta không nói rằng ông nên nói về mọi thứ ông thấy, nghe, nghĩ, và biết. Nhưng Ta cũng không nói rằng ông không nên nói gì về những gì ông thấy, nghe, nghĩ, và biết.

Khi nói về một số điều ông đã thấy, nghe, nghĩ, hoặc biết, các pháp bất thiện (unskillful qualities / trạng thái tâm không tốt, có hại) tăng trưởng trong khi các pháp thiện (skillful qualities / trạng thái tâm tốt, có lợi) suy giảm. Ta nói rằng ông không nên nói về những điều đó. Khi nói về những điều khác ông đã thấy, nghe, nghĩ, hoặc biết, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên nói về những điều đó."

Bấy giờ Bà la môn Vassakāra, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

(III) (183) Ðiều Ðược Nghe

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-lamôn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, thấy như sau: “Khi người nào nói lên điều mình thấy: “Tôi thấy như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình nghe: “Tôi nghe như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: “Tôi cảm giác như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình thức tri: “Tôi thức tri như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì”.

2. - Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy cần phải nói ra”. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy không nên nói ra”. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe nên nói ra”. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe không nên nói ra”. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác nên nói ra”. Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác không nên nói ra”. Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thức tri nên nói ra”. Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thức tri không nên nói ra”.

3. Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra. Này Bà-lamôn, phàm nói ra điều nghe gì … phàm nói ra điều cảm giác gì … phàm nói ra điều thức tri gì … các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói ra điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra.

Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

AN 4.184 Không Sợ Hãi (Abhayasutta)

Bấy giờ Bà la môn Jānussoṇi đi đến chỗ Đức Phật và chào hỏi với Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, đây là giáo lý và quan điểm của tôi: ‘Tất cả những ai phải chịu chết đều sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết.’”

"Này Bà la môn, một số người phải chịu chết thì sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết. Nhưng một số người phải chịu chết thì không sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết.

Ai là những người sợ chết? Đó là người chưa thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát ái, đam mê, và thèm muốn đối với các dục lạc (sensual pleasures / niềm vui thú qua các giác quan). Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Những dục lạc mà ta yêu thích biết bao sẽ rời bỏ ta, và ta sẽ rời bỏ chúng.’ Họ buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây là người sợ chết.

Hơn nữa, đó là người chưa thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát ái, đam mê, và thèm muốn đối với thân thể. Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Thân thể này mà ta yêu thích biết bao sẽ rời bỏ ta, và ta sẽ rời bỏ nó.’ Họ buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người sợ chết.

Hơn nữa, đó là người chưa làm những điều tốt lành, thiện xảo để bảo vệ mình, nhưng đã làm những điều xấu xa, bạo lực và tội lỗi. Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Ta chưa làm những điều tốt lành, thiện xảo để bảo vệ mình. Và ta đã làm những điều xấu xa, bạo lực và tội lỗi. Khi ta ra đi, ta sẽ đến nơi mà những người đã làm những việc như vậy đến.’ Họ buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người sợ chết.

Hơn nữa, đó là người còn hoài nghi, không chắc chắn, và không quyết đoán về chánh pháp (true teaching / lời dạy chân chính của Đức Phật). Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Ta còn hoài nghi, không chắc chắn, và không quyết đoán về chánh pháp.’ Họ buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người sợ chết. Đây là bốn hạng người phải chịu chết mà sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết.

Ai là những người không sợ chết?

Đó là người đã thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát ái, đam mê, và thèm muốn đối với các dục lạc. Khi họ bị bệnh nặng, họ không nghĩ: ‘Những dục lạc mà ta yêu thích biết bao sẽ rời bỏ ta, và ta sẽ rời bỏ chúng.’ Họ không buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây là người không sợ chết.

Hơn nữa, đó là người đã thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát ái, đam mê, và thèm muốn đối với thân thể. Khi họ bị bệnh nặng, họ không nghĩ: ‘Thân thể này mà ta yêu thích biết bao sẽ rời bỏ ta, và ta sẽ rời bỏ nó.’ Họ không buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người không sợ chết.

Hơn nữa, đó là người chưa làm những điều xấu xa, bạo lực và tội lỗi, nhưng đã làm những điều tốt lành, thiện xảo để bảo vệ mình. Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Ta chưa làm những điều xấu xa, bạo lực và tội lỗi. Và ta đã làm những điều tốt lành, thiện xảo để bảo vệ mình. Khi ta ra đi, ta sẽ đến nơi mà những người đã làm những việc như vậy đến.’ Họ không buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người không sợ chết.

Hơn nữa, đó là người không còn hoài nghi, không chắc chắn, hay không quyết đoán về chánh pháp. Khi họ bị bệnh nặng, họ nghĩ: ‘Ta không còn hoài nghi, không chắc chắn, hay không quyết đoán về chánh pháp.’ Họ không buồn rầu, than khóc, và ta thán, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây cũng là người không sợ chết.

Đây là bốn hạng người phải chịu chết mà không sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết."

“Thật tuyệt vời, Tôn giả Gotama!.. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhớ con là một cư sĩ (lay follower / người tại gia theo đạo Phật) đã quy y (gone for refuge / nương tựa vào Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng) trọn đời.”

(IV) (184) Không Sợ Hãi

1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn: − Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, tôi thấy như sau: “Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ, khi nghĩ đến chết”.

− Này Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết. Nhưng này Bà-lamôn, có người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

2. Và này Bà-la-môn, thế nào là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người không ly tham đối với các dục, không ly ham muốn, không ly luyến ái, không ly khát ái, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

3. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không ly tham đối với thân … Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ thân khả ái”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

4. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp”. Tại sanh thú nào mà những người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp, đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

5. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là bốn hạng người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

6. Và này Bà-la-môn, thế nào là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết?

Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người ly tham đối với các dục, ly ham muốn, ly luyến ái … Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái”. Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

7. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không ly tham đối với thân, ly ham muốn, ly luyến ái … Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọbởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ thân khả ái”. Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết. 8. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào mà những người không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy”. Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

9. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp”. Người ấy không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

Này Bà-la-môn, có bốn hạng người bản tánh bị chết, không có sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama … Mong Tôn giả Gotama chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 4.185 Sự Thật của Bà La Môn (Brāhmaṇasaccasutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, trên núi Linh Thứu (Vulture’s Peak Mountain).

Bấy giờ có nhiều du sĩ ngoại đạo (wanderers / người tu hành không theo đạo Phật, thường đi lang thang) rất nổi tiếng đang cư trú tại tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī. Trong số đó có Annabhāra, Varadhara, Sakuludāyī, và các du sĩ ngoại đạo rất nổi tiếng khác.

Rồi vào buổi chiều muộn, Đức Phật ra khỏi nơi nhập thất (retreat / thời gian tu tập chuyên sâu ở nơi yên tĩnh) và đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo bên bờ sông Sappinī.

Bấy giờ, trong lúc các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi cùng nhau, cuộc thảo luận này đã khởi lên: “Sự thật của Bà la môn là thế này; sự thật của Bà la môn là thế kia.”

Rồi Đức Phật đi đến chỗ các du sĩ ngoại đạo ấy, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, và hỏi họ: “Này các vị du sĩ, các vị vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc trò chuyện nào còn dang dở?”

“Thưa Tôn giả Gotama, cuộc thảo luận này đã khởi lên giữa chúng tôi khi đang ngồi cùng nhau: ‘Sự thật của Bà la môn là thế này; sự thật của Bà la môn là thế kia.’”

"Này các vị du sĩ, Ta tuyên bố bốn sự thật này của Bà la môn, sau khi đã tự mình chứng ngộ (realized / hiểu biết và trải nghiệm trực tiếp) bằng trí tuệ (insight / sự hiểu biết sâu sắc). Bốn sự thật nào?

Hãy xét một vị Bà la môn nói rằng: ‘Không chúng sinh (sentient beings / mọi loài hữu tình) nào nên bị giết hại.’ Khi nói điều này, vị Bà la môn nói sự thật, không nói dối. Nhưng vị ấy không tự xem mình là ‘sa môn’ hay ‘bà la môn’ vì điều đó. Vị ấy cũng không nghĩ ‘Ta hơn’, ‘Ta bằng’, hay ‘Ta kém’. Thay vào đó, vị ấy chỉ đơn thuần thực hành vì lòng từ ái (kindness / tình thương) và thương xót (sympathy / lòng trắc ẩn) đối với các loài sống, sau khi đã thấu hiểu sự thật đó.

Hãy xét một vị Bà la môn khác nói rằng: ‘Tất cả dục lạc đều vô thường (impermanent / không tồn tại mãi mãi), khổ, và có tính hoại diệt (perishable / có thể bị hủy hoại).’ Khi nói điều này, vị Bà la môn nói sự thật, không nói dối. Nhưng vị ấy không tự xem mình là ‘sa môn’ hay ‘bà la môn’ vì điều đó. Vị ấy cũng không nghĩ ‘Ta hơn’, ‘Ta bằng’, hay ‘Ta kém’. Thay vào đó, vị ấy chỉ đơn thuần thực hành để nhàm chán (disillusionment / sự vỡ mộng, không còn ham muốn), ly tham (dispassion / sự không còn đam mê, tham ái), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt hoàn toàn) đối với các dục lạc, sau khi đã thấu hiểu sự thật đó.

Hãy xét một vị Bà la môn khác nói rằng: ‘Tất cả các cõi tồn tại (states of existence / các cảnh giới tái sinh) đều vô thường, khổ, và có tính hoại diệt.’… Vị ấy chỉ đơn thuần thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với các đời sống tương lai, sau khi đã thấu hiểu sự thật đó.

Hãy xét một vị Bà la môn khác nói rằng: ‘Ta không thuộc về ai ở bất cứ đâu. Và không có gì thuộc về ta ở bất cứ đâu.’ Khi nói điều này, vị Bà la môn nói sự thật, không nói dối. Nhưng vị ấy không tự xem mình là ‘sa môn’ hay ‘bà la môn’ vì điều đó. Vị ấy cũng không nghĩ ‘Ta hơn’, ‘Ta bằng’, hay ‘Ta kém’. Thay vào đó, vị ấy chỉ đơn thuần thực hành con đường của sự vô sở hữu (nothingness / trạng thái không còn chấp trước vào bất cứ điều gì), sau khi đã thấu hiểu sự thật đó.

Đây là bốn sự thật của Bà la môn mà Ta tuyên bố, sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ."

(V) (185) Các Sự Thật Bà La Môn

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, nhiều vị du sĩ có danh tiếng, có danh tiếng sống ở khu vườn của các du sĩ trên bờ sông Sappini như Annabhàra, Varadhara, Sakuludàyi, và những vị du sĩ có danh tiếng, có danh tiếng khác.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy, đi đến khu vườn của các du sĩ trên bờ sông Sappini. Lúc bấy giờ, giữa các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tập họp, câu chuyện này được khởi lên: “Ðây là những sự thật Bà-la-môn, đây là những sự thật Bà-la-môn”.

2. Rồi Thế Tôn đi đến các du sĩ ấy, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xong, Thế Tôn nói với các du sĩ ấy:

− Nay câu chuyện gì được khởi lên, này các du sĩ, khi các Ông đang ngồi họp ở đây? Câu chuyện gì chưa được nói xong giữa các Ông?

− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi đang ngồi họp, câu chuyện sau này khởi lên giữa chúng tôi: “Ðây là những sự thật Bà-la-môn, đây là những sự thật Bà-la-môn”.

3.- Bốn sự thật Bà La Môn này, này các du sĩ, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã được ta tuyên bố lên. Thế nào là bốn?

− Ở đây, này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: “Tất cả loài hữu tình không được làm hại”. Người Bà-lamôn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến “Sa-môn”, không nghĩ đến “Bà-la-môn”, không nghĩ đến: “Ta hơn (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta bằng (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta là hạ liệt”. Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hành lòng thương tưởng, lòng từ mẫn đối với các loài hữu tình. 4. Lại nữa, này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: “Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại”. Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến “Sa-môn”, không nghĩ đến “Bà-la-môn”, không nghĩ đến: “Ta hơn (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta bằng (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta là hạ liệt”. Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, (trong lời nói ấy), người ấy thực hành nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các dục.

5. Lại nữa, này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: “Tất cả hữu là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại”. Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến “Sa-môn”, không nghĩ đến “Bà-la-môn”, không nghĩ đến: “Ta hơn (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta bằng (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta là hạ liệt”. Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hiện nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.

6. Lại nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nói như sau: “Ta không là bất cứ ai, bất cứ thuộc ai, bất cứ là gì. Trong ấy, không có cái gì được gọi là của ta, bất cứ ở đâu, bất cứ là gì”. Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến “Sa-môn”, không nghĩ đến “Bà-la-môn”, không nghĩ đến: “Ta hơn (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta bằng (các người khác)”, không nghĩ đến: “Ta là hạ liệt”. Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, (trong lời nói ấy) người ấy thực hành con đường không có sự vật gì.

Này các du sĩ, có bốn sự thật Bà-la-môn này, Ta đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên bố lên.

AN 4.186 Tiếp Cận (Ummaggasutta)

Bấy giờ, một vị Tỳ kheo đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ (bowed / lạy sát đất để tỏ lòng tôn kính), rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn (Blessed One / Bậc được tôn kính trên đời, danh hiệu của Đức Phật), điều gì dẫn dắt thế gian? Điều gì lôi kéo nó? Điều gì sinh khởi và kiểm soát nó?”

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Cách tiếp cận và diễn đạt của thầy thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì thầy đã hỏi: ‘Điều gì dẫn dắt thế gian? Điều gì lôi kéo nó? Điều gì sinh khởi và kiểm soát nó?’”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này Tỳ kheo, tâm (mind / ý thức, suy nghĩ) dẫn dắt thế gian. Tâm lôi kéo nó. Khi tâm sinh khởi, nó kiểm soát.”

Thưa “Lành thay, bạch Thế Tôn”, vị Tỳ kheo ấy tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Rồi thầy hỏi một câu khác:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘vị đa văn ghi nhớ giáo pháp’ (đa văn: learned memorizer / người nghe nhiều, học rộng; giáo pháp: teaching / lời dạy của Đức Phật). Thế nào là định nghĩa một vị đa văn ghi nhớ giáo pháp?”

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Cách tiếp cận và diễn đạt của thầy thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay… Ta đã giảng dạy nhiều giáo pháp: văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, ký sự, kệ (verse / thơ), cảm hứng ngữ, như thị thuyết, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Nhưng nếu có ai hiểu được ý nghĩa và văn cú của dù chỉ một bài kệ bốn câu, và nếu họ thực hành phù hợp với giáo pháp đó, thì họ đủ tiêu chuẩn để được gọi là ‘vị đa văn ghi nhớ giáo pháp’.”

Thưa “Lành thay, bạch Thế Tôn”, vị Tỳ kheo ấy tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Rồi thầy hỏi một câu khác:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘người học rộng với trí tuệ thâm nhập’ (trí tuệ thâm nhập: penetrating wisdom / trí tuệ hiểu biết sâu sắc, xuyên suốt). Thế nào là định nghĩa một người học rộng với trí tuệ thâm nhập?”

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Cách tiếp cận và diễn đạt của thầy thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay… Hãy xét một Tỳ kheo đã nghe: ‘Đây là khổ.’ Vị ấy thấy rõ ý nghĩa của nó bằng trí tuệ thâm nhập. Vị ấy đã nghe: ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự diệt khổ’… ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Vị ấy thấy rõ ý nghĩa của nó bằng trí tuệ thâm nhập. Như vậy là một người học rộng, với trí tuệ thâm nhập.”

Thưa “Lành thay, bạch Thế Tôn”, vị Tỳ kheo ấy tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Rồi thầy hỏi một câu khác:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘người sáng suốt có trí tuệ lớn’ (sáng suốt: astute / thông minh, nhạy bén). Thế nào là định nghĩa một người sáng suốt có trí tuệ lớn?”

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Cách tiếp cận và diễn đạt của thầy thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay… Một người sáng suốt có trí tuệ lớn là người không có ý định làm hại mình, làm hại người, hay làm hại cả hai. Khi suy nghĩ, vị ấy chỉ nghĩ đến lợi ích cho mình, cho người, cho cả hai, và cho toàn thể thế gian. Như vậy là một người sáng suốt, có trí tuệ lớn.”

(VI) (186) Con Ðường Sai Lạc

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?

− Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?”

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm được khởi lên.

2. - Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:

− Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?

− Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?” − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Nhiều, này Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng: Kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Này Tỷ-kheo, nếu ai hiểu nghĩa một bài kệ có bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều, trì pháp.

3. - Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo sau khi hoan hỷ … lại hỏi thêm câu nữa:

− Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?

− Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo, hiền thiện … hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?”

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Ðây là khổ”, thể nhập và thấy ý ấy nghĩa với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ tập”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là con đường đi đến khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có nghe với trí tuệ thể nhập.

4.- Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:

− Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?

− Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?”

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ.

AN 4.187 Với Vassakāra (Vassakārasutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Bấy giờ Bà la môn Vassakāra, đại thần xứ Ma Kiệt Đà, đi đến chỗ Đức Phật và chào hỏi với Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, liệu một người không chân thật có thể biết về một người không chân thật khác: ‘Người này là người không chân thật’ không?”

“Điều đó là không thể, này Bà la môn, không thể xảy ra.”

“Liệu một người không chân thật có thể biết về một người chân thật: ‘Người này là người chân thật’ không?”

“Điều đó cũng là không thể, không thể xảy ra.”

“Thưa Tôn giả Gotama, liệu một người chân thật có thể biết về một người chân thật khác: ‘Người này là người chân thật’ không?”

“Điều đó, này Bà la môn, là có thể.”

“Liệu một người chân thật có thể biết về một người không chân thật: ‘Người này là người không chân thật’ không?”

“Điều đó cũng là có thể.”

"Thật vi diệu (incredible / tuyệt vời, khó tin), Tôn giả Gotama, thật kỳ diệu (amazing / lạ lùng, phi thường), lời này được Tôn giả Gotama nói thật khéo thay: ‘Điều đó là không thể, không thể xảy ra, rằng một người không chân thật có thể biết… Nhưng điều đó là có thể rằng một người chân thật có thể biết…’

Xưa kia, các thành viên trong hội chúng của Bà la môn Todeyya cứ phàn nàn về người khác: ‘Vua Eḷeyya này thật ngu ngốc khi quá tận tâm với sa môn Rāmaputta. Ông ta thậm chí còn thể hiện sự tôn kính tối đa bằng cách đảnh lễ vị ấy, đứng dậy chào đón vị ấy, chắp tay chào vị ấy, và giữ đúng phép tắc đối với vị ấy. Và những quan cận thần của vua này cũng ngu ngốc nữa—Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, và Aggivessa—vì họ cũng thể hiện sự tôn kính tương tự đối với Rāmaputta.’ Bấy giờ Bà la môn Todeyya đã lý luận với họ như thế này: ‘Các ngài nghĩ sao? Khi nói về các nhiệm vụ và lời nói khác nhau, chẳng phải Vua Eḷeyya là người sáng suốt, thậm chí còn giỏi hơn cả các chuyên gia sao?’ ‘Đúng vậy, thưa ngài.’

'Chính vì sa môn Rāmaputta còn sáng suốt và tinh thông hơn cả Vua Eḷeyya nên nhà vua mới tận tâm với vị ấy như vậy. Đó là lý do tại sao ông ta thậm chí còn thể hiện sự tôn kính tối đa đối với Rāmaputta bằng cách đảnh lễ vị ấy, đứng dậy chào đón vị ấy, chắp tay chào vị ấy, và giữ đúng phép tắc đối với vị ấy.

‘Các ngài nghĩ sao? Khi nói về các nhiệm vụ và lời nói khác nhau, chẳng phải các quan cận thần của vua—Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, và Aggivessa—là những người sáng suốt, thậm chí còn giỏi hơn cả các chuyên gia sao?’ ‘Đúng vậy, thưa ngài.’

‘Chính vì Rāmaputta còn sáng suốt và tinh thông hơn cả các quan cận thần của vua nên họ mới có lòng tận tâm với vị ấy như vậy… Chính vì Rāmaputta còn sáng suốt và tinh thông hơn cả Vua Eḷeyya nên nhà vua mới tận tâm với vị ấy như vậy. Đó là lý do tại sao ông ta thậm chí còn thể hiện sự tôn kính tối đa đối với Rāmaputta bằng cách đảnh lễ vị ấy, đứng dậy chào đón vị ấy, chắp tay chào vị ấy, và giữ đúng phép tắc đối với vị ấy.’

Thật vi diệu, Tôn giả Gotama, thật kỳ diệu, lời này được Tôn giả Gotama nói thật khéo thay: 'Điều đó là không thể, không thể xảy ra, rằng một người không chân thật có thể biết… Nhưng điều đó là có thể rằng một người chân thật có thể biết… Bạch Tôn giả Gotama, bây giờ tôi phải đi. Tôi có nhiều phận sự và nhiều việc phải làm."

“Này Bà la môn, xin hãy đi vào lúc ông thấy thuận tiện.”

Bấy giờ Bà la môn Vassakāra, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

(VII) (187) Vassakàra

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-lamôn Vassakàra, một đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, bậc đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, bậc không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”?

− Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.

2.- Thưa Tôn giả Gotama, bậc không phải chân nhân có thể biết bậc chân nhân là: “Vị này là bậc chân nhân”?

− Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”.

3.- Thưa Tôn giả Gotama, bậc chân nhân có thể biết một bậc chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”?

− Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”.

4. - Nhưng thưa Tôn giả Gotama, có trường hợp một người chân nhân biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”?

− Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.

5. - Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của Tôn giả Gotama: “Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”. Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.

6. Một thời, thưa Tôn giả Gotama, hội chúng của Bà-la-môn Todeyya đang nói lên những lời nhiếc mắng người khác như sau: “Ngu si là vua Eleyya, đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện. Lại nữa, những tập đoàn này của vua Eleyya là ngu si, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa. Những người này đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện”.

− Này Bà-la-môn, Ông có thấy như thế nào Bà-la-môn Todeyya dẫn dắt chúng bằng cách dắt dẫn này: “Các vị nghĩ thế nào, hiền trí là vua Eleyya? Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng?”

− Thưa vâng, Tôn giả! Hiền trí là vua Eleyya. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng. Vì rằng Sa-môn Ràmaputta còn hiền trí hơn sự hiền trí, còn có minh kiến thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của vua Eleyya, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích; do vậy vua Eleyya đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện.

− Các Tôn giả nghĩ thế nào “Hiền trí là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa không? Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải tập đoàn của vua Eleyya là những bậc có minh kiến thù thắng?

− Thưa vâng, Tôn giả! Hiền trí là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, tập đoàn của vua Eleyya được xem là những bậc có minh kiến thù thắng. Vì rằng Sa-môn Ràmaputta được xem còn hiền trí hơn sự hiền trí, còn có minh kiến thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của tập đoàn vua Eleyya, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải thích những vấn đề cần được giải thích; do vậy tập đoàn của vua Eleyya đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện.

7. - Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của Tôn giả Gotama: “Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải bậc chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”. Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải bậc chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.

Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng tôi phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.

− Này Bà-la-môn, Ông hãy làm những gì mà Ông nghĩ là hợp thời.

Rồi Bà-la-môn Vassakàra, một đại thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

AN 4.188 Với Upaka (Upakasutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, trên núi Linh Thứu. Bấy giờ Upaka, con trai của Maṇḍikā, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, đây là giáo lý và quan điểm của con: ‘Bất cứ ai cứ phàn nàn về người khác mà không đưa ra lý do gì đều đáng trách (reprehensible / đáng bị khiển trách) và có lỗi.’”

“Này Upaka, nếu ai đó cứ phàn nàn về người khác mà không đưa ra lý do, họ đáng trách và có lỗi. Nhưng đó là điều ông làm, vậy ông đáng trách và có lỗi!”

“Bạch Thế Tôn, như con cá bị mắc vào một cái bẫy lớn ngay khi nó vừa ngoi lên, cũng vậy, Đức Phật đã bắt con vào một cái bẫy lớn bằng lời nói ngay khi con vừa nói lên.”

"Này Upaka, Ta đã tuyên bố: ‘Đây là điều bất thiện.’ Và có vô số lời nói, cụm từ, và giáo pháp của Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy, danh hiệu của Đức Phật) về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng đây là điều bất thiện.’ Ta đã tuyên bố: ‘Điều bất thiện cần phải được từ bỏ.’ Và có vô số lời nói, cụm từ, và giáo pháp của Như Lai về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng điều bất thiện cần phải được từ bỏ.’

Ta đã tuyên bố rằng: ‘Đây là điều thiện.’ Và có vô số lời nói, cụm từ, và giáo pháp của Như Lai về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng đây là điều thiện.’ Ta đã tuyên bố: ‘Điều thiện cần phải được phát triển.’ Và có vô số lời nói, cụm từ, và giáo pháp của Như Lai về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng điều thiện cần phải được phát triển.’"

Và rồi Upaka con trai của Maṇḍikā tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, và đi nhiễu (circled respectfully / đi vòng quanh đối tượng tôn kính theo chiều kim đồng hồ) quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính cẩn. Rồi ông đi đến gặp Vua Ajātasattu (A Xà Thế) xứ Ma Kiệt Đà, con trai của công nương xứ Videha. Ông kể lại cho nhà vua tất cả những gì họ đã thảo luận.

Nhưng Vua Ajātasattu trở nên tức giận và khó chịu, và nói với Upaka: “Thằng con trai của người làm muối này thật thô lỗ! Thật là hỗn láo và trơ trẽn khi nó dám nghĩ đến việc công kích Đức Thế Tôn, bậc A La Hán (perfected one / bậc đã đạt giác ngộ hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và đúng đắn)! Cút đi, Upaka, biến đi! Đừng để ta thấy mặt ngươi nữa.”

(VIII) (188) Upaka

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Gijjhakùta. Rồi Upaka Mandikàputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Upaka Mandikàputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con nói như sau, con thấy như sau: “Ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội”.

− Này Upaka, ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội! Này Upaka, Ông bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, Ông về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, Ông đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội!

2. - Ví như, bạch Thế Tôn, một người bắt con vật của mình săn với một bẫy sập lớn, khi con vật thò đầu ra. Cũng vậy, con bị Thế Tôn bắt với cái bẫy sập lớn bằng chữ khi con vừa mới mở miệng (khi con vừa mới thò đầu ra).

− Này Upaka, “Ðây là bất thiện”. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây là bất thiện!”, này Upaka, bất thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây pháp bất thiện này cần phải đoạn tận”. “Ðây là thiện”, này Upaka. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây là pháp thiện”. Thiện pháp này cần phải tu tập. Này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây, pháp thiện này cần phải tu tập”.

3. Rồi Upaka Mandikàputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về phía Ngài, rồi đi đến Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha. Sau khi đến, Upaka tường thuật lại cho Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha nghe tất cả cuộc đàm luận với Thế Tôn.

Ðược nghe nói như vậy, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha phẫn nộ, không hoan hỷ nói với Upaka Mandikàputta:

− Thật là độc hại, đứa trẻ làm muối này! Thật là lắm mồm, thật là kẻ liều mạng. Nghĩ rằng nó có thể nhiếc mắng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy đi đi, này Upaka! Chớ để Ta thấy Ông nữa!

AN 4.189 Những Pháp Cần Được Chứng Ngộ (Sacchikaraṇīyasutta)

"Này các Tỳ kheo, có bốn pháp này cần được chứng ngộ. Bốn pháp nào?

Có những pháp cần được chứng ngộ bằng kinh nghiệm thiền định (meditative experience / sự tập trung tâm ý) trực tiếp. Có những pháp cần được chứng ngộ bằng sự nhớ lại. Có những pháp cần được chứng ngộ bằng thiên nhãn (vision / con mắt nhìn thấy cõi trời, hoặc khả năng thấy biết siêu thường). Có những pháp cần được chứng ngộ bằng trí tuệ.

Những pháp nào cần được chứng ngộ bằng kinh nghiệm thiền định trực tiếp? Tám giải thoát (liberations / sự thoát khỏi ràng buộc).

Những pháp nào cần được chứng ngộ bằng sự nhớ lại? Các đời sống quá khứ.

Những pháp nào cần được chứng ngộ bằng thiên nhãn? Sự chết và tái sinh của chúng sinh.

Những pháp nào cần được chứng ngộ bằng trí tuệ? Sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não làm tâm chúng sinh rỉ chảy trong luân hồi).

Đây là bốn pháp cần được chứng ngộ."

(IX) (189) Chứng Ngộ

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, có pháp cần phải chứng ngộ bằng thân; có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm; có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng mắt; có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng thân? Tám giải thoát, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng thân.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng niệm? Ðời sống trước, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng con mắt? Sanh tử của chúng sanh, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng con mắt.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ? Sự đoạn diệt các lậu hoặc, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ.

AN 4.190 Ngày Bố Tát (Uposathasutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Xá Vệ (Sāvatthī) trong lầu có chóp nhọn của bà Migāramātā (Mẹ của Migāra) tại Tu viện Phía Đông (Đông Viên) (stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery).

Bấy giờ, vào ngày Bố tát (sabbath / ngày sám hối và tụng giới của Tăng đoàn), Đức Phật đang ngồi giữa Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) Tỳ kheo. Rồi Đức Phật nhìn quanh Tăng đoàn Tỳ kheo, đang im lặng hoàn toàn. Ngài nói với họ:

"Này các Tỳ kheo, hội chúng này không có vỏ trấu, thoát khỏi vỏ trấu, thanh tịnh, và vững chắc trong cốt lõi. Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) Tỳ kheo này là như vậy, hội chúng này là như vậy! Một hội chúng như thế này hiếm khi được thấy trên đời. Một hội chúng như thế này xứng đáng với vật cúng dường chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay chào, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Đối với một hội chúng như thế này, cúng dường ít thì thành nhiều, mà cúng dường nhiều thì lại càng nhiều hơn. Một hội chúng như thế này đáng để đi xa nhiều do tuần (league / đơn vị đo khoảng cách cổ của Ấn Độ) để thấy, ngay cả khi phải mang theo lương thực trong túi vải.

Có những Tỳ kheo đang ở trong Tăng đoàn này đã đạt đến cảnh giới chư thiên. Có những Tỳ kheo đang ở trong Tăng đoàn này đã đạt đến Phạm thiên (divinity / cõi trời cao hơn, thanh tịnh hơn cõi Dục giới). Có những Tỳ kheo đang ở trong Tăng đoàn này đã đạt đến sự bất động (imperturbable / trạng thái tâm không dao động, thường chỉ các thiền Vô sắc giới). Có những Tỳ kheo đang ở trong Tăng đoàn này đã đạt đến bậc Thánh (nobility / người đã chứng ngộ, thoát khỏi phàm trần).

Và thế nào là một Tỳ kheo đã đạt đến cảnh giới chư thiên? Đó là khi một Tỳ kheo, ly dục (secluded from sensual pleasures / xa lìa ham muốn), ly pháp bất thiện, chứng và trú thiền (absorption / trạng thái tâm định tĩnh cao độ) thứ nhất… Khi tầm (placing of the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng) được lắng dịu, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư… Như vậy là một Tỳ kheo đã đạt đến cảnh giới chư thiên.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã đạt đến Phạm thiên? Thứ nhất, một Tỳ kheo thiền định biến mãn tâm từ (heart full of love / lòng yêu thương chúng sinh) đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, vị ấy biến mãn tâm từ đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng (limitless / không thể đo lường), không hận, không sân (free of enmity and ill will / không có sự thù địch và ác ý). Hơn nữa, một Tỳ kheo thiền định biến mãn tâm bi (compassion / lòng thương xót chúng sinh đau khổ)… hỷ (rejoicing / niềm vui khi thấy người khác hạnh phúc)… xả (equanimity / tâm bình thản, không thiên vị) đến một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, hướng lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp nơi, cùng khắp, vị ấy biến mãn tâm xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Như vậy là một Tỳ kheo đã đạt đến Phạm thiên.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã đạt đến sự bất động? Đó là khi một Tỳ kheo—vượt hoàn toàn sắc tưởng (perceptions of form / nhận thức về hình sắc), với sự chấm dứt các đối ngại tưởng (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại của vật chất), không tác ý (focusing on / hướng tâm đến) đến các tưởng sai biệt (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt)—nhận thức ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi thiền định về không gian vô tận). Vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận thức ‘thức là vô biên’, vị ấy chứng và trú Thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền định về thức vô tận). Vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận thức ‘không có gì cả’, vị ấy chứng và trú Vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi thiền định về sự không có gì). Vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, vị ấy chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền định không có tưởng cũng không phải không có tưởng). Như vậy là một Tỳ kheo đã đạt đến sự bất động.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã đạt đến bậc Thánh? Đó là khi vị ấy hiểu như thật: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự diệt khổ’… ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Như vậy là một Tỳ kheo đã đạt đến bậc Thánh."

(X) (190) Ngày Trai Giới

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma trong lâu đài của mẹ Migàrà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ trai giới, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang im lặng, im lặng, rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó tìm được ở đời! Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi một do tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.

2. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Bất động. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục … chứng và trú Sơ Thiền … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư và an trú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đạt được địa vị chư Thiên.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm cùng khởi với từ - biến mãn một phương và an trú … với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới, vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Bất động?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi chấm dứt các tưởng chướng ngại, sau khi không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên” chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú “Thức vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo chứng đạt Bất động.

6. - Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chứng đạt địa vị bậc Thánh?

ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ” … “Ðây là khổ tập” … “Ðây là Khổ diệt” … như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đạt được địa vị bậc Thánh