Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Lớn

AN 4.191 Kinh Lắng Nghe (Sotānugatasutta)

"Này các Tỳ kheo, các ông có thể mong đợi bốn lợi ích khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến. Bốn lợi ích đó là gì?

Có vị Tỳ kheo học thuộc lòng giáo pháp—Kinh (statements / kinh điển dạng văn xuôi), Kệ ngôn xen lẫn văn xuôi (mixed prose & verse / kinh điển dạng văn xuôi và thi kệ xen lẫn), Ký thuyết (discussions / kinh điển dạng giải thích, hỏi đáp), Kệ ngôn (verses / kinh điển dạng thi kệ), Cảm hứng ngữ (inspired exclamations / kinh điển dạng lời cảm thán tự phát), Như thị ngữ (legends / kinh điển bắt đầu bằng “Như vầy đã được nghe”), Bổn sanh (stories of past lives / chuyện về các kiếp quá khứ của Đức Phật), Vị tằng hữu pháp (amazing stories / kinh điển về các sự kiện phi thường), và Phương quảng (elaborations / kinh điển dạng luận giải chi tiết, rộng rãi). Vị ấy đã lắng nghe những giáo pháp đó, tụng đọc chúng, quán chiếu chúng bằng tâm, và khéo thâm nhập chúng bằng tri kiến. Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm (unmindful / thiếu chánh niệm) và được tái sanh vào một trong các cõi trời. Khi đang hưởng hạnh phúc ở đó, các đoạn pháp hiện về trong tâm vị ấy. Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí (distinction / sự hiểu biết vượt trội, sự chứng đắc). Đây là lợi ích thứ nhất các ông có thể mong đợi khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến.

Lại nữa, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp—bao gồm kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ tụng, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Vị ấy đã lắng nghe những giáo pháp đó, tụng đọc chúng, quán chiếu chúng bằng tâm, và khéo thâm nhập chúng bằng tri kiến. Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời. Mặc dù đang hưởng hạnh phúc ở đó, các đoạn pháp không hiện về trong tâm vị ấy. Tuy nhiên, một vị Tỳ kheo có thần thông, đã đạt được tâm thuần thục, thuyết Pháp cho hội chúng chư thiên. Vị trời ấy nghĩ: ‘Ta đã từng sống đời sống phạm hạnh trong chính Pháp và Luật này.’ Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Ví như một người rành về tiếng trống. Khi đang đi trên đường, người ấy nghe tiếng trống. Người ấy sẽ không nghi ngờ hay phân vân đó có phải là tiếng trống hay không. Người ấy sẽ kết luận ngay: ‘Đó là tiếng trống.’ Cũng vậy, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp… Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời… Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Đây là lợi ích thứ hai các ông có thể mong đợi khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến.

Lại nữa, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp—bao gồm kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ tụng, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Vị ấy đã lắng nghe những giáo pháp đó, tụng đọc chúng, quán chiếu chúng bằng tâm, và khéo thâm nhập chúng bằng tri kiến. Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời. Nhưng các đoạn pháp không hiện về trong tâm vị ấy khi đang hưởng hạnh phúc, và cũng không có vị Tỳ kheo nào có thần thông… thuyết Pháp cho hội chúng chư thiên. Tuy nhiên, một vị trời thuyết Pháp cho hội chúng chư thiên. Vị trời ấy nghĩ: ‘Ta đã từng sống đời sống phạm hạnh trong chính Pháp và Luật này.’ Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Ví như một người rành về tiếng tù và. Khi đang đi trên đường, người ấy nghe tiếng tù và. Người ấy sẽ không nghi ngờ đó có phải là tiếng tù và hay không. Người ấy sẽ kết luận ngay: ‘Đó là tiếng tù và.’ Cũng vậy, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp… Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời… Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Đây là lợi ích thứ ba các ông có thể mong đợi khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến.

Lại nữa, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp—bao gồm kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ tụng, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Vị ấy đã lắng nghe những giáo pháp đó, tụng đọc chúng, quán chiếu chúng bằng tâm, và khéo thâm nhập chúng bằng tri kiến. Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời. Nhưng các đoạn pháp không hiện về trong tâm vị ấy khi đang hưởng hạnh phúc, và cũng không có vị Tỳ kheo nào có thần thông… hay vị trời nào thuyết Pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng một chúng sanh hóa sanh (reborn spontaneously / sanh ra không do thai bào) nhắc nhở một chúng sanh hóa sanh khác: ‘Này bạn hiền, bạn có nhớ không? Bạn có nhớ nơi chúng ta đã từng sống đời sống phạm hạnh không?’ Vị kia nói: ‘Tôi nhớ, bạn hiền, tôi nhớ!’ Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Ví như có hai người bạn đã từng chơi cát với nhau. Một lúc nào đó họ gặp lại. Và một người bạn nói với người kia: ‘Bạn có nhớ cái này không, bạn? Bạn có nhớ cái kia không, bạn?’ Người kia sẽ nói: ‘Tôi nhớ, bạn ơi, tôi nhớ!’ Cũng vậy, có vị Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp… Nhưng vị ấy mệnh chung trong trạng thái thất niệm và được tái sanh vào một trong các cõi trời… Trí nhớ khởi lên chậm, nhưng rồi vị trời ấy nhanh chóng đạt được thắng trí. Đây là lợi ích thứ tư các ông có thể mong đợi khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến.

Các ông có thể mong đợi bốn lợi ích này khi giáo pháp đã được lắng nghe, tụng đọc, quán chiếu bằng tâm, và khéo thâm nhập bằng tri kiến."

XX. Ðại Phẩm

(I) (191) Nghe Với Tai

1.- Này các Tỷ-kheo, các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, có bốn lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ nhất được chờ đợi.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy. Nhưng có Tỷ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy sung sướng nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng trống”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai … chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, đây là lợi ích thứ hai được chờ đợi.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng tù và”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Này các Tỷ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ ba được chờ đợi.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở khiến cho nhớ lại hóa sanh :”Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, hai người bạn cùng chơi trò chơi đất bùn, hai người vào một thời nào, một chỗ nào được gặp nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ cái này không?”. Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, do được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở cho nhớ lại sự hoá sanh : ''Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.

Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ tư được chờ đợi.

Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; có bốn lợi ích này được chờ đợi.

AN 4.192 Kinh Các Trường Hợp (Ṭhānasutta)

"Này các Tỳ kheo, bốn điều này có thể được biết trong bốn trường hợp. Bốn điều đó là gì?

Các ông có thể biết giới (ethics / đạo đức) của một người qua việc sống chung. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi tác ý (attentive / chú tâm), không phải khi không tác ý (inattentive / không chú tâm); và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.

Các ông có thể biết sự thanh tịnh của một người qua việc giao tiếp. …

Các ông có thể biết sự kiên nhẫn (resilience / sức chịu đựng) của một người trong nghịch cảnh. …

Các ông có thể biết trí tuệ của một người qua việc thảo luận. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi tác ý, không phải khi không tác ý; và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.

‘Các ông có thể biết giới của một người qua việc sống chung. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi tác ý, không phải khi không tác ý; và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.’ Ta đã nói như vậy, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có người sống chung với người khác. Họ nhận ra: ‘Trong một thời gian dài, các hành vi của Tôn giả này đã bị vi phạm, ô nhiễm, lốm đốm, và hư hỏng. Hành vi và cách cư xử của vị ấy không nhất quán. Tôn giả này không có giới, không phải là người có giới.’

Lại có người khác sống chung với người khác. Họ nhận ra: ‘Trong một thời gian dài, các hành vi của Tôn giả này vẫn nguyên vẹn, không tỳ vết, không lốm đốm, và không hư hỏng. Hành vi và cách cư xử của vị ấy nhất quán. Tôn giả này có giới, không phải là người không có giới.’ Đó là lý do Ta nói rằng các ông có thể biết giới của một người qua việc sống chung. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải thời gian ngắn; chỉ khi tác ý, không phải khi không tác ý; và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.

‘Các ông có thể biết sự thanh tịnh của một người qua việc giao tiếp. …’ Ta đã nói như vậy, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có người giao tiếp với người khác. Họ nhận ra: ‘Tôn giả này đối xử với một người theo một cách. Rồi vị ấy đối xử với hai, ba, hay nhiều người, mỗi người một cách khác nhau. Vị ấy không nhất quán từ giao tiếp này sang giao tiếp khác. Cách giao tiếp của Tôn giả này không thanh tịnh, không phải là thanh tịnh.’

Lại có người khác giao tiếp với người khác. Họ nhận ra: ‘Tôn giả này đối xử với một người theo một cách. Rồi vị ấy đối xử với hai, ba, hay nhiều người đều theo cùng một cách. Vị ấy nhất quán từ giao tiếp này sang giao tiếp khác. Cách giao tiếp của Tôn giả này thanh tịnh, không phải là không thanh tịnh.’ Đó là lý do Ta nói rằng các ông có thể biết sự thanh tịnh của một người qua việc giao tiếp. …

‘Các ông có thể biết sự kiên nhẫn của một người trong nghịch cảnh. …’ Ta đã nói như vậy, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có người trải qua mất mát gia đình, tài sản, hoặc sức khỏe. Nhưng họ không suy ngẫm: ‘Đời sống thế gian là như vậy. Sự hiện hữu trong đời là như vậy. Đó là lý do tám pháp thế gian (eight worldly conditions / được và mất, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ) xoay vần quanh thế gian, và thế gian xoay vần quanh tám pháp thế gian: được và mất, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ.’ Họ sầu muộn, than khóc, đấm ngực, rơi vào mê loạn.

Lại có người khác trải qua mất mát gia đình, tài sản, hoặc sức khỏe. Nhưng họ suy ngẫm: ‘Đời sống thế gian là như vậy. Sự hiện hữu trong đời là như vậy. Đó là lý do tám pháp thế gian xoay vần quanh thế gian, và thế gian xoay vần quanh tám pháp thế gian: được và mất, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ.’ Họ không sầu muộn, than khóc, đấm ngực, hay rơi vào mê loạn. Đó là lý do Ta nói rằng các ông có thể biết sự kiên nhẫn của một người trong nghịch cảnh. …

‘Các ông có thể biết trí tuệ của một người qua việc thảo luận. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi tác ý, không phải khi không tác ý; và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.’ Ta đã nói như vậy, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có người đang thảo luận với người khác. Họ nhận ra: ‘Xét theo cách tiếp cận của Tôn giả này, theo những gì vị ấy muốn nói, và theo cách vị ấy thảo luận một vấn đề, vị ấy là kẻ ngu, không phải người trí. Tại sao vậy? Tôn giả này không đưa ra được lời nói sâu sắc, ý nghĩa, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ người trí mới hiểu. Khi Tôn giả này nói về Pháp, vị ấy không thể giải thích ý nghĩa, dù ngắn gọn hay chi tiết. Vị ấy không thể giảng dạy, xác quyết, thiết lập, làm rõ, phân tích, hay trình bày nó. Tôn giả này là kẻ ngu, không phải người trí.’

Ví như một người mắt sáng đứng trên bờ hồ. Họ thấy một con cá nhỏ nổi lên và nghĩ: ‘Xét theo cách con cá này tiếp cận, theo những gợn sóng nó tạo ra, và theo sức của nó, đây là một con cá nhỏ, không phải con cá lớn.’ Cũng vậy, một người đang thảo luận với người khác sẽ nhận ra: ‘Xét theo cách tiếp cận của Tôn giả này, theo những gì vị ấy muốn nói, và theo cách vị ấy thảo luận một vấn đề, vị ấy là kẻ ngu, không phải người trí. …’

Lại có người khác đang thảo luận với người khác. Họ nhận ra: ‘Xét theo cách tiếp cận của Tôn giả này, theo những gì vị ấy muốn nói, và theo cách vị ấy thảo luận một vấn đề, vị ấy là người trí, không phải kẻ ngu. Tại sao vậy? Tôn giả này đưa ra được lời nói sâu sắc, ý nghĩa, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ người trí mới hiểu. Khi Tôn giả này nói về Pháp, vị ấy có thể giải thích ý nghĩa, dù ngắn gọn hay chi tiết. Vị ấy giảng dạy, xác quyết, thiết lập, làm rõ, phân tích, và trình bày nó. Tôn giả này là người trí, không phải kẻ ngu.’

Ví như một người mắt sáng đứng trên bờ hồ. Người ấy thấy một con cá lớn nổi lên và nghĩ: ‘Xét theo cách con cá này tiếp cận, theo những gợn sóng nó tạo ra, và theo sức của nó, đây là một con cá lớn, không phải con cá nhỏ.’ Cũng vậy, một người đang thảo luận với người khác sẽ nhận ra: ‘Xét theo cách tiếp cận của Tôn giả này, theo những gì vị ấy muốn nói, và theo cách vị ấy trình bày một vấn đề, vị ấy là người trí, không phải kẻ ngu. …’

Đó là lý do Ta nói rằng các ông có thể biết trí tuệ của một người qua việc thảo luận. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi tác ý, không phải khi không tác ý; và chỉ bởi người trí, không phải kẻ ngu.

Đây là bốn điều có thể được biết trong bốn trường hợp."

(II) (192) Trường Hợp

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn trường hợp này, cần phải được hiểu với bốn trường hợp. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, với cộng trú, giới cần phải được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài, không khác được có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ.

Này các Tỷ-kheo, với cùng một nghề thanh tịnh liêm khiết cần phải được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài, không thể khác được, có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ.

Này các Tỷ-kheo, trong những hoạn nạn, sức kiên trì cần phải được hiểu biết, như vậy trong một thời gian dài … với liệt tuệ.

Này các Tỷ-kheo, với đàm luận, trí tuệ cần phải được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài … với liệt tuệ.

2. Này các Tỷ-kheo, với cộng trú, giới cần phải được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài, không khác được có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ, như vậy được nói đến … Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người do cộng trú với một người khác biết được như sau: “Trong một thời gian dài, vị Tôn giả này làm giới bị bể vụn, làm giới bị cắt xén, làm giới bị vết nhơ, làm giới bị chấm, đen, làm việc không có liên tục, hạnh kiểm không có liên tục trong các giới. Ác giới là Tôn giả, Tôn giả này không giữ giới”.

Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, người này do cộng trú với người kia, biết như sau: “Trong một thời gian dài, vị Tôn giả này không làm giới bị bể vụn, không làm giới bị cắt xén, không làm giới bị vết nhơ, không làm giới bị chấm, đen, làm việc có liên tục, hạnh kiểm có liên tục trong các giới. Giữ giới là Tôn giả này, Tôn giả này không phải ác giới”. Này các Tỷ-kheo, với cộng trú giới cần phải được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài, không có tác ý vấn đề khác, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ. Như vậy được nói đến, do duyên này được nói đến như vậy.

3. Này các Tỷ-kheo, với cùng chung làm một nghề thanh tịnh liêm khiết cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian … với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một người do cùng làm một nghề với một người khác, biết được như sau: “Khác thay, vị Tôn giả này khi làm việc với một người; khác thay, với hai người; khác thay, với ba người; khác thay, với nhiều người, làm trái ngược là vị Tôn giả này, các sở hành trước khác với sở hành sau. Không thanh tịnh là sở hành của vị Tôn giả này. Vị Tôn giả này có sở hành không thanh tịnh. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, một người do cùng làm một nghề với một người khác, biết được như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khi làm việc với một người, như thế ấy với hai người, như thế ấy với ba người, như thế ấy với nhiều người, không làm trái ngược là vị Tôn giả này, các sở hành trước giống với sở hành sau. Thanh tịnh là sở hành của vị Tôn giả này.”

Này các Tỷ-kheo, với cùng chung làm một nghề, thanh tịnh liêm khiết cần phải được hiểu biết, như vậy trong một thời gian dài … với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

4. Này các Tỷ-kheo, trong các hoạn nạn, sức kiên trì cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian … với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, suy nghĩ như sau: “Bản chất như vậy là sự an trú thế giới này; Bản chất như vậy là bản tánh tự ngã có được này; Bản chất như vậy là sự an trú thế giới. Bản chất như vậy là có được bản tánh tự ngã. Tám thế giới pháp này vận chuyển thế giới, và thế giới vận chuyển tám pháp, tức là, lợi và thất lợi, không danh tiếng và danh tiếng, chê và khen, lạc và khổ”. Người ấy, cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.

Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, suy nghĩ như sau: “Bản chất như vậy là sự an trú thế giới … lạc và khổ”. Người ấy cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, trong các hoạn nạn, sức mạnh kiên trì cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian dài … với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

5. Này các Tỷ-kheo, trong đàm luận, trí tuệ cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian … với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, do đàm luận với một người khác, biết như vầy: “Vị Tôn giả này, đối một câu hỏi như vậy, phản ứng là như vậy, giải đáp câu hỏi là như vậy, thời liệt tuệ là Tôn giả này, Tôn giả này không có trí tuệ. Vì sao? Vì Tôn giả này không nói lên câu nghĩa sâu sắc an tịnh, thù thắng, vượt ngoài lý luận suông, tế nhị, được người hiền trí cảm thọ. Còn về pháp, vị này thuyết giảng, vị ấy không có khả năng, hoặc tóm tắt, hoặc rộng rãi, nói lên ý nghĩa, thuyết giảng, trình bày, an lập, mở rộng, phâ n tích, phát lộ. Liệt tuệ là vị Tôn giả này, vị Tôn giả này không có trí tuệ”. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người có mắt, đứng trên bờ một hồ nước, thấy một con cá nhỏ nổi lên, người ấy suy nghĩ như sau: “Như vậy, con cá này nổi lên; như vậy, làm cho gợn sóng; như vậy là độ nhanh của nó. Nhỏ bé là con cá này, con cá này không lớn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có người do đàm luận với một người khác, biết như vầy: “Vị Tôn giả này, đối một câu hỏi như vậy, phản ứng là như vậy, giải đáp câu hỏi là như vậy, thời có trí tuệ là Tôn giả này, Tôn giả này không phải là liệt tuệ. Vì sao? Vì Tôn giả này nói lên câu nghĩa sâu sắc an tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người hiền trí cảm thọ. Còn về pháp, vị này thuyết giảng, vị này không có khả năng, hoặc tóm tắt, hoặc rộng rãi, nói lên ý nghĩa, thuyết giảng, trình bày, an lập, mở rộng, phân tích, phát lộ. Có trí tuệ là vị Tôn giả này, vị Tôn giả này không phải là liệt tuệ”. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người có mắt, đứng trên bờ một hồ nước, thấy một con cá lớn nổi lên, người ấy suy nghĩ như sau: “Như vậy, con cá này nổi lên; như vậy, con cá này làm cho gợn sóng; như vậy là độ nhanh của nó. To lớn là con cá này, con cá này không nhỏ”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có người do đàm luận với một người khác, biết như vầy: “Vị Tôn giả này, đối một câu hỏi như vậy, phản ứng là như vậy, giải đáp câu hỏi là như vậy, thời có trí tuệ là Tôn giả này, Tôn giả này không phải là liệt tuệ. Vì sao? Vì Tôn giả này nói lên câu nghĩa sâu sắc an tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người hiền trí cảm thọ. Còn về pháp, vị này thuyết giảng, vị này có khả năng, hoặc tóm tắt, hoặc rộng rãi, nói lên ý nghĩa, thuyết giảng, trình bày, an lập, mở rộng, phân tích, phát lộ. Có trí tuệ là vị Tôn giả này, vị Tôn giả này không phải là liệt tuệ”

Này các Tỷ-kheo, trong đàm luận, trí tuệ cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian dài, không thể khác được, có tác ý, không phải không tác ý với trí tuệ, không phải với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

Có bốn trường hợp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu với bốn trường hợp này.

AN 4.193 Kinh Bhaddiya (Bhaddiyasutta)

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn. Bấy giờ, Bhaddiya người Licchavi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con có nghe thế này: ‘Sa môn Gotama là một người dùng ma thuật. Ông ấy biết một loại ma thuật quyến rũ, và dùng nó để quyến rũ các đệ tử của những tôn giáo khác.’ Con tin rằng những người nói như vậy là thuật lại lời Thế Tôn đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng lời không thật? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có cơ sở chính đáng nào để phản bác và chỉ trích không?”

"Này Bhaddiya, xin đừng tin theo truyền khẩu, đừng tin theo truyền thống, đừng tin theo kinh điển, đừng tin theo quyền uy kinh điển, đừng dựa vào lý luận suông, đừng dựa vào suy diễn, đừng dựa vào lý lẽ phân tích, đừng dựa vào việc chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng dựa vào vẻ ngoài có thẩm quyền, và đừng nghĩ ‘Vị Sa môn này là bậc thầy đáng kính của chúng ta.’ Nhưng khi nào ông tự mình biết rõ: ‘Những pháp này là bất thiện (unskillful / không tốt, có hại), đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hành chúng, chúng dẫn đến bất hạnh và đau khổ’, thì ông nên từ bỏ chúng.

Ông nghĩ sao, Bhaddiya? Tham (greed / lòng tham) khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tác hại của người đó?"

“Vì tác hại, bạch Thế Tôn.”

“Một người tham lam—bị tham lam chi phối—sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì sự bất hạnh và đau khổ lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Bhaddiya? Sân (hate / lòng sân hận)… hay si (delusion / sự mê lầm)… hay sự hung hăng khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tác hại của người đó?”

“Vì tác hại, bạch Thế Tôn.”

“Một người hung hăng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì sự bất hạnh và đau khổ lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Bhaddiya, những điều này là thiện (skillful / tốt, có lợi) hay bất thiện?”

“Là bất thiện, bạch Thế Tôn.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Đáng chê trách, bạch Thế Tôn.”

“Bị người trí chỉ trích hay tán thán?”

“Bị người trí chỉ trích, bạch Thế Tôn.”

“Khi thực hành chúng, chúng dẫn đến bất hạnh và đau khổ, hay không? Hay ông thấy thế nào về việc này?”

“Khi thực hành chúng, chúng dẫn đến bất hạnh và đau khổ. Chúng con thấy như vậy.”

"Vậy, Bhaddiya, khi Ta nói: ‘Này Bhaddiya, xin đừng tin theo truyền khẩu, đừng tin theo truyền thống, đừng tin theo kinh điển, đừng tin theo quyền uy kinh điển, đừng dựa vào lý luận suông, đừng dựa vào suy diễn, đừng dựa vào lý lẽ phân tích, đừng dựa vào việc chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng dựa vào vẻ ngoài có thẩm quyền, và đừng nghĩ “Vị Sa môn này là bậc thầy đáng kính của chúng ta.” Nhưng khi nào ông tự mình biết rõ: “Những pháp này là bất thiện, đáng chê trách, bị người trí chỉ trích, và khi thực hành chúng, chúng dẫn đến bất hạnh và đau khổ”, thì ông nên từ bỏ chúng.’ Ta đã nói như vậy, và đây là lý do Ta nói vậy.

Này Bhaddiya, xin đừng dựa vào truyền khẩu… Nhưng khi nào ông tự mình biết rõ: ‘Những pháp này là thiện, không đáng chê trách, được người trí tán thán, và khi thực hành chúng, chúng dẫn đến hạnh phúc và an lạc’, thì ông nên tiếp thu và giữ gìn chúng.

Ông nghĩ sao, Bhaddiya? Sự thiểu dục (contentment / sự biết đủ)… từ (love / lòng thương yêu)… trí tuệ… lòng nhân ái khởi lên trong một người là vì lợi ích hay tác hại của người đó?"

“Vì lợi ích, bạch Thế Tôn.”

“Một người có lòng nhân ái—không bị sự hung hăng chi phối—không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, hay khuyến khích người khác làm như vậy. Điều đó có phải là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của họ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Bhaddiya, những điều này là thiện hay bất thiện?”

“Là thiện, bạch Thế Tôn.”

“Đáng chê trách hay không đáng chê trách?”

“Không đáng chê trách, bạch Thế Tôn.”

“Bị người trí chỉ trích hay tán thán?”

“Được người trí tán thán, bạch Thế Tôn.”

“Khi thực hành chúng, chúng dẫn đến hạnh phúc và an lạc, hay không? Hay ông thấy thế nào về việc này?”

“Khi thực hành chúng, chúng dẫn đến hạnh phúc và an lạc. Chúng con thấy như vậy.”

"Vậy, Bhaddiya, khi Ta nói: ‘Này Bhaddiya, xin đừng tin theo truyền khẩu, đừng tin theo truyền thống, đừng tin theo kinh điển, đừng tin theo quyền uy kinh điển, đừng dựa vào lý luận suông, đừng dựa vào suy diễn, đừng dựa vào lý lẽ phân tích, đừng dựa vào việc chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, đừng dựa vào vẻ ngoài có thẩm quyền, và đừng nghĩ “Vị Sa môn này là bậc thầy đáng kính của chúng ta.” Nhưng khi nào ông tự mình biết rõ: “Những pháp này là thiện, không đáng chê trách, được người trí tán thán, và khi thực hành chúng, chúng dẫn đến hạnh phúc và an lạc”, thì ông nên tiếp thu và giữ gìn chúng.’ Ta đã nói như vậy, và đây là lý do Ta nói vậy.

Những người tốt và chân chính trên thế gian khuyến khích các đệ tử của họ: ‘Này ông, hãy sống thoát khỏi lòng tham. Khi đó ông sẽ không hành động vì tham lam qua thân, khẩu, hay ý. Hãy sống thoát khỏi lòng sân… si… sự hung hăng. Khi đó ông sẽ không hành động vì sân… si… sự hung hăng qua thân, khẩu, hay ý.’"

Khi nghe vậy, Bhaddiya người Licchavi bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!.. Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”

“Này Bhaddiya, Ta có nói với ông rằng: ‘Này Bhaddiya, hãy làm đệ tử của Ta, và Ta sẽ là thầy của ông’ không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Mặc dù Ta tuyên bố và xác quyết điều này, một số sa môn và bà la môn vẫn xuyên tạc Ta bằng những lời khẳng định sai lầm, rỗng tuếch, giả dối, không thật: ‘Sa môn Gotama là một người dùng ma thuật. Ông ấy biết một loại ma thuật quyến rũ, và dùng nó để quyến rũ các đệ tử của những tôn giáo khác.’”

“Bạch Thế Tôn, ma thuật quyến rũ này thật tuyệt vời. Ma thuật quyến rũ này thật đáng yêu! Nếu những người thân yêu của con—họ hàng và quyến thuộc—được quyến rũ bởi điều này, đó sẽ là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của họ. Nếu tất cả các vị quý tộc, bà la môn, nông dân, và tiện dân được quyến rũ bởi điều này, đó sẽ là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của họ.”

“Đúng vậy, Bhaddiya! Đúng vậy, Bhaddiya! Nếu tất cả các vị quý tộc, bà la môn, nông dân, và tiện dân được quyến rũ bởi điều này, đó sẽ là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của họ. Nếu cả thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và các vị thần linh, quần chúng này với các sa môn và bà la môn, trời và người—được quyến rũ bởi điều này, để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện, đó sẽ là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của họ. Nếu những cây sala lớn này được quyến rũ bởi điều này, để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện, đó sẽ là vì hạnh phúc và an lạc lâu dài của chúng—nếu chúng có tình thức. Huống nữa là một con người!”

(III) (193) Bhaddiya

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli tại Mahàvana trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavii Bhaddiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavii Bhaddiya bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Là một nhà huyễn thuật, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”, những người ấy, bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải họ trả lời về pháp hợp với chánh pháp? Và ai là vị đồng pháp, theo đồng môt quan điểm, không có lý do để chỉ trích? Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn”.

2.- Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!

3. Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Lòng tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

− Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

− Người này có tham, này Bhaddiya, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không? − Thưa có, bạch Thế Tôn.

4. - Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, lòng sân … lòng si … lòng hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hy bất hạnh?

− Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

− Người này có lòng hung bạo, này Bhaddiya, bị hung bạo chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

5. - Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là bất thiện, bạch Thế Tôn.

− Có tội hay không có tội?

− Có tội, bạch Thế Tôn.

− Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

− Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.

− Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không, hay ở đây là thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp nhận, chúng đem lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

6.- Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt với những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!”. Như vậy, đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.

7. Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào ông tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này là không bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú.

8. Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Không tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

− Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

− Người này không tham, này Bhaddiya, không bị tham chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

9. - Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, không sân … không si … không hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hy bất hạnh?

− Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

− Người này không có lòng hung bạo, này Bhaddiya, không bị hung bạo chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

10. - Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?

− Là thiện, bạch Thế Tôn.

− Có tội hay không có tội?

− Không có tội, bạch Thế Tôn.

− Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

− Ðược người có trí tán thán, bạch Thế Tôn.

− Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đem lại hạnh phúc an lạc không, hay ở đây là thế nào?

− Ðược thực hiện, được chấp nhận, Bạch Thế Tôn. chúng đem lại hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

11.- Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này được người có trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc và an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú. Ðiều này đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.

12. Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: “Hãy đến, này bạn! hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy nhiếp phục sung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!”. 13. Khi được nói như vậy, Bhaddiya người Licchavi bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

− Này Bhaddiya, Ta có nói với Ông như sau: “Hãy đến, này Bhaddiya; hãy đến làm đệ tử của Ta, này Bhaddiya! Ta sẽ là Ðạo sư (của Ông)” không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Như vậy, này Bhaddiya, những Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, tuyên bố như sau, những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật: “Là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo!”.

− Bạch Thế Tôn, hiền thiện là huyễn thuật dụ dỗ này. Bạch Thế Tôn, hiền lành là huyễn thuật dụ dỗ này. Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà con huyết thống của con tất cả được hạnh phúc an lạc lâu dài! Bạch Thế Tôn, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Bạch Thế Tôn, nên tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả Thủ đà được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Thủ đà ấy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

− Như vậy là phải, này Bhaddiya! Như vậy là phải, này Bhaddiya! Này Bhadiya, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được cám dỗ( với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Này Bhàddiya, nếu tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả mọi người Thủ đà được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Thủ đà được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

Này Bhaddiya, nếu thế giới cùng với chư Thiên, Màra, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy chúng được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

Này Bhaddiya, nếu các cây sala to lớn này được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả cây sala to lớn này được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài nếu chúng có thể suy nghĩ được, còn nói gì với con người!

AN 4.194 Kinh Tại Sāpūga (Sāmugiyasutta)

Một thời Tôn giả Ānanda trú ở xứ Koliya, tại một thị trấn tên là Sāpūga. Bấy giờ, một số người Koliya ở Sāpūga đi đến Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda nói với họ:

"Này các Byagghapajja, bốn pháp cần nỗ lực để thanh tịnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo giảng dạy. Chúng nhằm mục đích thanh tịnh hóa chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh đạo, và chứng đắc Niết Bàn. Bốn pháp đó là gì? Đó là các pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giới, tâm, kiến, và giải thoát.

Và thế nào là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giới? Đó là khi một Tỳ kheo có giới, hộ trì giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi khất thực thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, vị ấy thọ trì các học giới đã lãnh nhận. Đây gọi là sự thanh tịnh về giới. Vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ hoàn thiện sự thanh tịnh về giới này, hoặc, nếu đã hoàn thiện, ta sẽ hỗ trợ nó trong mọi tình huống bằng trí tuệ.’ Ước muốn của vị ấy về điều đó—sự tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, chánh niệm, và tỉnh giác của vị ấy—được gọi là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giới.

Và thế nào là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về tâm? Đó là khi một Tỳ kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất)… nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai)… tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba)… tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Đây gọi là sự thanh tịnh về tâm. Vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ hoàn thiện sự thanh tịnh về tâm này, hoặc, nếu đã hoàn thiện, ta sẽ hỗ trợ nó trong mọi tình huống bằng trí tuệ.’ Ước muốn của vị ấy về điều đó—sự tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, chánh niệm, và tỉnh giác của vị ấy—được gọi là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về tâm.

Và thế nào là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về kiến? Có vị Tỳ kheo tuệ tri: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là khổ tập’… ‘Đây là khổ diệt’… ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Đây gọi là sự thanh tịnh về kiến. Vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ hoàn thiện sự thanh tịnh về kiến này, hoặc, nếu đã hoàn thiện, ta sẽ hỗ trợ nó trong mọi tình huống bằng trí tuệ.’ Ước muốn của vị ấy về điều đó—sự tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, chánh niệm, và tỉnh giác của vị ấy—được gọi là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về kiến.

Và thế nào là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giải thoát? Vị thánh đệ tử ấy—người có các pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giới, tâm, và kiến này—ly tham đối với các pháp gây tham ái, và giải thoát tâm khỏi các pháp cần giải thoát. Làm như vậy, vị ấy chứng nghiệm chánh giải thoát. Đây gọi là sự thanh tịnh về giải thoát. Vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ hoàn thiện sự thanh tịnh về giải thoát này, hoặc, nếu đã hoàn thiện, ta sẽ hỗ trợ nó trong mọi tình huống bằng trí tuệ.’ Ước muốn của vị ấy về điều đó—sự tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, chánh niệm, và tỉnh giác của vị ấy—được gọi là pháp cần nỗ lực để thanh tịnh về giải thoát.

Bốn pháp cần nỗ lực để thanh tịnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo giảng dạy. Chúng nhằm mục đích thanh tịnh hóa chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh đạo, và chứng đắc Niết Bàn."

(IV) (194) Các Vị Sàpùga

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú ở giữa các dân chúng Koliya tại một thị trấn các Koliya tên là Sàpùgà. Rồi rất nhiều Koliya tử ở Sàpùgà đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với các Koliya tử ấy ở Sàpùgà:

− Này các Vyagghapajjà, có bốn thanh tịnh, tinh cần chi phần này được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn. Thế nào là bốn?

Giới thanh tịnh tinh cần chi phần, tâm thanh tịnh tinh cần chi phần, kiến thanh tịnh tinh cần chi phần, giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần. 2. Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giới thanh tịnh tinh cần chi phần?

Ở đây, này Vyagghapajjà, Tỷ-kheo có giới, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giới thanh tịnh; với lời nguyền: “Nếu giới thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giới thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giới thanh tịnh tinh cần chi phần.

Và này các Vyagghapajjà, thế nào là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần?

3. Ở đây, này các Vyagghapajjà, vị Tỷ-kheo ly các dục … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là tâm thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu tâm thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu tâm thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần.

4. Và này các Vyagghapajjà, thế nào là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần?

Ở đây, này các Vyagghapajjà, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”; như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật quán tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là kiến thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu kiến thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu kiến thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần.

5. Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần?

Vị Thánh đệ tử nào, này các Vyagghapajjà, thành tựu với giới thanh tịnh tinh cần chi phần này, thành tựu với tâm thanh tịnh tinh cần chi phần này, và thành tựu với kiến thanh tịnh tinh cần chi phần này, tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát. Vị ấy, sau khi tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, cảm xúc chánh giải thoát. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giải thoát thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.

Bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này, này các Vyagghapajjà, đã được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn!

AN 4.195 Kinh Vappa (Vappasutta)

Một thời Thế Tôn trú ở xứ Sakya, gần Kapilavatthu, tại tu viện Cây Bàng. Bấy giờ, Vappa người Sakya, một đệ tử của phái Nigantha, đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahāmoggallāna nói với ông:

“Này Vappa, hãy xét một người, do vô minh (ignorance / sự không hiểu biết Tứ Thánh Đế) diệt và minh (knowledge / sự hiểu biết Tứ Thánh Đế) sanh, đã thu thúc thân, khẩu, và ý. Ông có thấy lý do nào khiến các phiền não (defilements / những tâm bất thiện làm ô nhiễm) gây ra thọ khổ lại có thể làm ô nhiễm người đó trong đời sau không?”

“Thưa Tôn giả, tôi có thấy trường hợp như vậy. Hãy xét một người đã làm ác nghiệp trong đời quá khứ. Nhưng quả của nghiệp đó chưa chín muồi. Vì lý do này, các phiền não gây ra thọ khổ sẽ làm ô nhiễm người đó trong đời sau.”

Nhưng cuộc đối thoại này giữa Tôn giả Mahāmoggallāna và Vappa đã bị bỏ dở.

Rồi vào buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi độc cư và đi đến giảng đường. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Mahāmoggallāna: “Này Moggallāna, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc đối thoại nào đã bị bỏ dở?”

Tôn giả Moggallāna thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại với Thế Tôn, và kết luận: “Đó là cuộc đối thoại của con với Vappa đã bị bỏ dở khi Thế Tôn đến.”

Bấy giờ Thế Tôn nói với Vappa: “Này Vappa, chúng ta có thể thảo luận về điều này. Nhưng chỉ khi ông chấp nhận những gì nên chấp nhận, và bác bỏ những gì nên bác bỏ. Và nếu ông hỏi Ta ý nghĩa của bất cứ điều gì ông không hiểu, hãy nói: ‘Bạch Thế Tôn, tại sao lại như vậy? Ý nghĩa của điều đó là gì?’”

“Bạch Thế Tôn, chúng ta hãy thảo luận về điều này. Con sẽ làm như lời Ngài dạy.”

“Ông nghĩ sao, Vappa? Có những phiền não gây khổ não, nhiệt não phát sinh do hành động về thân. Những phiền não này không xảy ra ở người từ bỏ hành động về thân như vậy. Họ không tạo nghiệp mới, và nghiệp cũ được đoạn trừ dần dần qua việc trải nghiệm quả của chúng. Sự đoạn trừ này là hiện tiền, tức thời, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu. Ông có thấy lý do nào khiến các phiền não gây ra thọ khổ lại có thể làm ô nhiễm người đó trong đời sau không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Vappa? Có những phiền não gây khổ não, nhiệt não phát sinh do khẩu nghiệp. Những phiền não này không xảy ra ở người từ bỏ khẩu nghiệp như vậy. Họ không tạo nghiệp mới, và nghiệp cũ được đoạn trừ dần dần qua việc trải nghiệm quả của chúng. Sự đoạn trừ này là hiện tiền, tức thời, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu. Ông có thấy lý do nào khiến các phiền não gây ra thọ khổ lại có thể làm ô nhiễm người đó trong đời sau không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Vappa? Có những phiền não gây khổ não, nhiệt não phát sinh do ý nghiệp. Những phiền não này không xảy ra ở người từ bỏ ý nghiệp như vậy. Họ không tạo nghiệp mới, và nghiệp cũ được đoạn trừ dần dần qua việc trải nghiệm quả của chúng. Sự đoạn trừ này là hiện tiền, tức thời, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu. Ông có thấy lý do nào khiến các phiền não gây ra thọ khổ lại có thể làm ô nhiễm người đó trong đời sau không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Vappa? Có những phiền não gây khổ não, nhiệt não phát sinh do vô minh. Những phiền não này không xảy ra khi vô minh diệt và minh sanh. Họ không tạo nghiệp mới, và nghiệp cũ được đoạn trừ dần dần qua việc trải nghiệm quả của chúng. Sự đoạn trừ này là hiện tiền, tức thời, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu. Ông có thấy lý do nào khiến các phiền não gây ra thọ khổ lại có thể làm ô nhiễm người đó trong đời sau không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Một Tỳ kheo có tâm được chánh giải thoát như thế này đã đạt được sáu trạng thái an trú vững chắc. Khi mắt thấy sắc, vị ấy không vui không buồn, mà giữ tâm xả (equanimous / giữ tâm quân bình, không dao động), chánh niệm và tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân cảm xúc… Khi ý biết pháp, vị ấy không vui không buồn, mà giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Cảm nhận thân sắp tan rã, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta cảm nhận thân sắp tan rã.’ Cảm nhận mạng sắp chấm dứt, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta cảm nhận mạng sắp chấm dứt.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sau khi thân hoại mạng chung, mọi cảm thọ, do không còn được ưa thích, sẽ trở nên tịch lặng ngay tại đây.’

Ví như có một cái bóng được tạo ra bởi một cây cột. Rồi một người mang cuốc và thúng đến. Họ chặt cây cột tận gốc, đào lên, và nhổ nó lên cả rễ, cho đến tận cùng các sợi và thân nhỏ. Rồi họ chẻ nó ra, cắt thành từng mảnh, và băm thành vụn. Tiếp theo, họ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và thiêu thành tro. Sau đó, họ quét tro đi trong một cơn gió mạnh, hoặc thả trôi chúng xuống một dòng sông chảy xiết. Và như vậy, cái bóng được tạo ra bởi cây cột đã được đoạn tận gốc rễ, làm như thân cây tala bị chặt ngọn, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai.

Cũng vậy, một Tỳ kheo có tâm được chánh giải thoát như thế này đã đạt được sáu trạng thái an trú vững chắc. Khi mắt thấy sắc, vị ấy không vui không buồn, mà giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân cảm xúc… Khi ý biết pháp, vị ấy không vui không buồn, mà giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Cảm nhận thân sắp tan rã, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta cảm nhận thân sắp tan rã.’ Cảm nhận mạng sắp chấm dứt, vị ấy hiểu rõ: ‘Ta cảm nhận mạng sắp chấm dứt.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sau khi thân hoại mạng chung, mọi cảm thọ, do không còn được ưa thích, sẽ trở nên tịch lặng ngay tại đây.’"

Khi nghe vậy, Vappa người Sakya, đệ tử của phái Nigantha, bạch Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, ví như có một người nuôi ngựa thương phẩm để kiếm lời. Nhưng ông ta chẳng bao giờ kiếm được lời, mà thay vào đó chỉ thấy mệt mỏi và thất vọng. Cũng vậy, con đã tôn kính những kẻ Nigantha ngu si đó để kiếm lợi. Nhưng con chẳng bao giờ kiếm được lợi, mà thay vào đó chỉ thấy mệt mỏi và thất vọng. Kể từ hôm nay, bất kỳ niềm tin nào con đã có nơi những kẻ Nigantha ngu si đó, con xin quét sạch như trong cơn gió mạnh, hoặc thả trôi như xuống dòng sông chảy xiết.

Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!.. Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."

(V) (195) Vappa

1. Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:

− Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?

− Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai.

Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.

2. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:

− Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: “Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?” Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: “Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!”. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!

3. Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:

− Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.

− Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.

4.- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn!

5. - Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, … trong tương lai không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn

6.- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên ý khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được ý khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có vớí người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn!

7.- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Ðối với các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy do duyên vô minh khởi lên, vô minh được ly tham, minh được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Này Vappa, Ông có thấy do lý do nào, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn!

8.- Như vậy, này Vappa, với vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng, khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy quán tri: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”.

9. Ví như, này Vappa, duyên một thân cây, bóng cây hiện ra. Rồi có người đến cầm các cuốc và cái giỏ, chặt thân cây ấy ở nơi rễ. Sau khi chặt ở nơi rễ, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc, sau khi chặt tùng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi người ấy vun thành đống tro, người ấy sàng tro giữa gió lớn, hay để tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này Vappa, do duyên thân cây nên có bóng cây. Bóng cây ấy, rễ bị chấm dứt, làm thành như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh trong tương lai, không thể sống lại được. Cũng vậy, này Vappa, vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng…, khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”. 10. Khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha bạch Thế Tôn:

− Ví như, bạch Thế Tôn, một người mong ước được tài sản, lo nuôi dưỡng tài sản của mình, nhưng không được tăng trưởng gì, trái lại chỉ được mệt nhọc và sự phần vào phiền muộn. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cầu mong được lợi ích khi con hầu hạ kẻ ngu Nigantha này. Con đã không được lợi ích gì, trái lại con chỉ được mệt nhọc và sự phần vào phiền muộn. Bắt đầu từ hôm này, bạch Thế Tôn, với lòng tin gì con đã có với kẻ ngu Nigantha, con sẽ sàng lòng tin ấy giữa gió lớn, hay để lòng tin ấy vào dòng nước lạnh cho nước cuốn đi.

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

AN 4.196 Kinh Sāḷha (Sāḷhasutta)

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn. Bấy giờ, Sāḷha và Abhaya người Licchavi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, có một số sa môn và bà la môn chủ trương vượt qua bộc lưu (crossing the flood / vượt qua dòng chảy luân hồi) bằng hai phương tiện: thanh lọc giới hạnh, và khổ hạnh ép xác. Thế Tôn nói gì về điều này?”

"Này Sāḷha, thanh lọc giới hạnh là một trong những yếu tố của đời sống sa môn, Ta nói vậy. Nhưng những sa môn và bà la môn nào dạy về khổ hạnh ép xác mãnh liệt—xem đó là cốt lõi và chấp thủ vào đó—thì không có khả năng vượt qua bộc lưu. Và những sa môn và bà la môn nào có sinh kế và hành vi qua thân, khẩu, và ý không thanh tịnh thì cũng không có khả năng biết và thấy, không có khả năng đạt được vô thượng chánh đẳng giác.

Ví như một người muốn qua sông, cầm một cái rìu sắc vào rừng. Ở đó, người ấy thấy một cây sala lớn màu xanh, thẳng, non, và không có khuyết tật. Người ấy chặt nó ở gốc, cắt ngọn, và lột sạch cành lá. Rồi người ấy đẽo gọt nó bằng rìu và dao rựa, bào nhẵn, và chà láng bằng đá. Cuối cùng, người ấy thả nó xuống sông.

Ông nghĩ sao, Sāḷha? Người đó có khả năng qua sông không?"

“Không, bạch Thế Tôn. Tại sao không? Bởi vì cây sala xanh đó được gia công kỹ lưỡng bên ngoài, nhưng bên trong vẫn chưa được khoét rỗng. Con nghĩ rằng cây sala xanh đó sẽ chìm, và người đó sẽ gặp tai họa.”

"Cũng vậy, Sāḷha, những sa môn và bà la môn nào dạy về khổ hạnh ép xác mãnh liệt—xem đó là cốt lõi và chấp thủ vào đó—thì không có khả năng vượt qua bộc lưu. Và những sa môn và bà la môn nào có sinh kế và hành vi qua thân, khẩu, và ý không thanh tịnh thì cũng không có khả năng biết và thấy, không có khả năng đạt được vô thượng chánh đẳng giác.

Nhưng những sa môn và bà la môn nào không dạy về khổ hạnh ép xác—không xem đó là cốt lõi hay chấp thủ vào đó—thì có khả năng vượt qua bộc lưu. Và những sa môn và bà la môn nào có hành vi qua thân, khẩu, và ý thanh tịnh thì cũng có khả năng biết và thấy, có khả năng đạt được vô thượng chánh đẳng giác.

Ví như một người muốn qua sông, cầm một cái rìu sắc vào rừng. Ở đó, người ấy thấy một cây sala lớn màu xanh, thẳng, non, và không có khuyết tật. Người ấy chặt nó ở gốc, cắt ngọn, và lột sạch cành lá. Rồi người ấy đẽo gọt nó bằng rìu và dao rựa. Sau đó, người ấy lấy đục và khoét rỗng hoàn toàn bên trong. Rồi người ấy bào nhẵn, chà láng bằng đá, và làm thành một chiếc thuyền. Cuối cùng, người ấy gắn mái chèo và bánh lái, rồi thả thuyền xuống sông.

Ông nghĩ sao, Sāḷha? Người đó có khả năng qua sông không?"

“Có, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì cây sala xanh đó được gia công kỹ lưỡng bên ngoài, khoét rỗng bên trong, làm thành một chiếc thuyền, và gắn mái chèo cùng bánh lái. Con nghĩ rằng chiếc thuyền đó sẽ không chìm, và người đó sẽ an toàn đến được bờ bên kia.”

"Cũng vậy, Sāḷha, những sa môn và bà la môn nào không dạy về khổ hạnh ép xác—không xem đó là cốt lõi hay chấp thủ vào đó—thì có khả năng vượt qua bộc lưu. Và những sa môn và bà la môn nào có hành vi qua thân, khẩu, và ý thanh tịnh thì cũng có khả năng biết và thấy, có khả năng đạt được vô thượng chánh đẳng giác. Ví như có một chiến binh biết nhiều kỹ thuật bắn cung điêu luyện. Chỉ với ba yếu tố này, anh ta mới xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được coi là một yếu tố của vương quyền. Ba yếu tố đó là gì? Anh ta là người bắn xa, thiện xạ, và là người phá vỡ các vật thể lớn.

Cũng như một chiến binh là người bắn xa, một thánh đệ tử có chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn). Một thánh đệ tử có chánh định thấy rõ với chánh kiến (right understanding / sự hiểu biết đúng đắn) bất kỳ loại sắc (form) nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Vị ấy thấy rõ với chánh kiến bất kỳ loại thọ (feeling)… tưởng (perception)… hành (choices / các hoạt động tạo tác của tâm)… thức (consciousness) nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần, tất cả thức—rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’

Cũng như một chiến binh là thiện xạ, một thánh đệ tử có chánh kiến. Một thánh đệ tử có chánh kiến tuệ tri: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là khổ tập’… ‘Đây là khổ diệt’… ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.

Cũng như một chiến binh phá vỡ các vật thể lớn, một thánh đệ tử có chánh giải thoát. Một thánh đệ tử có chánh giải thoát phá vỡ khối vô minh lớn."

(VI) (196) Sàlha

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly) tại Ðại Lâm, trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavì Sàlha và Licchavì Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavì Sàlha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn trình bày sự vượt qua dòng nước mạnh với hai pháp môn: nhân giới thanh tịnh và nhân khổ hạnh nhàm chán. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nói gì?

− Này Sàlha, Ta nói rằng giới thanh tịnh là một chi phần của Sa-môn hạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Salha, sống chủ trương nhân khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt vào khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không thể nào vượt qua dòng nước mạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Sàlha, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sanh sống không thanh tịnh, những vị ấy không có thể đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề.

3. Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, nó thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, nó đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, nó tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, nó gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, nó gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, nó bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, nó bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, nó đem cây ấy xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

4. Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, tuy bề ngoài rất khéo làm, nhưng bề trong không được làm sạch. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Cây sàla ấy chìm xuống và người ấy rơi vào ách nạn”.

− Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sống khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sinh sống không thanh tịnh, chúng không có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. Này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào sống không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, không xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, không chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. 5. Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, người ấy thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, người ấy tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, người ấy gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, người ấy gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, người ấy lấy cái đục, kheó đục sạch nội phần. Sau khi khéo đục sạch nội phần, người ấy bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, người ấy bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, người ấy làm thành chiếc thuyền, cột với cái chèo và bánh lái, rồi cuối cùng người ấy thả xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?

− Thưa được, bạch Thế Tôn.

6. Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, bề ngoài rất khéo làm, bề trong được làm sạch, được cột với cái chèo và bánh lái. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Chiếc thuyền ấy không chìm, và người ấy sẽ đến bờ bên kia an toàn”.

− Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề”.

7. Ví như, này Sàlhà, một chiến sĩ dầu nó biết được nhiều cung thuật, nhưng về ba phương diện nó xứng đáng là của vua, thuộc sở hữu của vua, đi đến làm biểu tượng của vua. Thế nào là ba?

Bắn xa, bắn nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng được vât lớn.

8. Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định; phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì … phàm có tưởng gì … phàm có hành gì … phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.

9. Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng; cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh tri kiến như thật quán tri: “Ðây là khổ … Ðây là khổ tập…, Ðây là khổ diệt…, Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.

10. Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn.

AN 4.197 Kinh Hoàng Hậu Mallikā (Mallikādevīsutta)

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại vườn ông Anāthapiṇḍika, Kỳ Đà Lâm. Bấy giờ, Hoàng hậu Mallikā đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà trong đời này có những người nữ xấu xí, dung sắc tồi tệ, khó coi; lại nghèo khổ, ít tài sản, của cải; và ít quyền lực?

Và do nhân gì, duyên gì mà có những người nữ xấu xí, dung sắc tồi tệ, khó coi; nhưng lại giàu có, nhiều tài sản, của cải, và có quyền lực lớn?

Và do nhân gì, duyên gì mà có những người nữ xinh đẹp, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần; nhưng lại nghèo khổ, ít tài sản, của cải; và ít quyền lực?

Và do nhân gì, duyên gì mà có những người nữ xinh đẹp, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần; lại giàu có, nhiều tài sản, của cải, và có quyền lực lớn?"

"Này Hoàng hậu, có người nữ hay phẫn nộ, nhiều phiền não. Dù chỉ bị chỉ trích một chút, bà ta cũng nổi giận, trở nên bực bội, chống đối, cứng lòng, và biểu lộ sự bực bội, sân hận, cay đắng. Bà ta không bố thí cho các sa môn hay bà la môn những thứ như thức ăn, đồ uống, y phục, xe cộ; vòng hoa, hương thơm, phấn sáp; giường, nhà, và đèn đuốc. Và bà ta hay ganh tị, tật đố, ganh ghét, và bỏn xẻn đối với tài sản, danh dự, sự kính trọng, sự tôn kính, sự đảnh lễ, và sự cúng dường mà người khác nhận được. Nếu sau khi mệnh chung, bà ta trở lại nơi này, dù tái sanh ở đâu, bà ta cũng xấu xí, dung sắc tồi tệ, khó coi; lại nghèo khổ, ít tài sản, của cải; và ít quyền lực.

Lại có người nữ khác hay phẫn nộ, nhiều phiền não… Nhưng bà ta có bố thí cho các sa môn hay bà la môn… Và bà ta không ganh tị… Nếu sau khi mệnh chung, bà ta trở lại nơi này, dù tái sanh ở đâu, bà ta cũng xấu xí, dung sắc tồi tệ, khó coi; nhưng lại giàu có, nhiều tài sản, của cải, và có quyền lực lớn.

Lại có người nữ khác không hay phẫn nộ, không nhiều phiền não… Nhưng bà ta không bố thí cho các sa môn hay bà la môn… Và bà ta hay ganh tị… Nếu sau khi mệnh chung, bà ta trở lại nơi này, dù tái sanh ở đâu, bà ta cũng xinh đẹp, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần; nhưng lại nghèo khổ, ít tài sản, của cải; và ít quyền lực.

Lại có người nữ khác không hay phẫn nộ, không nhiều phiền não… Bà ta có bố thí cho các sa môn và bà la môn… Và bà ta không ganh tị… Nếu sau khi mệnh chung, bà ta trở lại nơi này, dù tái sanh ở đâu, bà ta cũng xinh đẹp, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần; lại giàu có, nhiều tài sản, của cải, và có quyền lực lớn.

Đây là lý do tại sao có những người nữ xấu xí… lại nghèo khổ… và ít quyền lực. Và có những người nữ xấu xí… nhưng lại giàu có… và có quyền lực lớn. Và có những người nữ xinh đẹp… nhưng lại nghèo khổ… và ít quyền lực. Và có những người nữ xinh đẹp… lại giàu có… và có quyền lực lớn."

Khi nghe vậy, Hoàng hậu Mallikā bạch Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, trong một đời khác, hẳn con đã từng hay phẫn nộ và nhiều phiền não. Dù chỉ bị chỉ trích nhẹ, hẳn con đã nổi giận, trở nên bực bội, chống đối, cứng lòng, và biểu lộ sự bực bội, sân hận, cay đắng. Vì vậy bây giờ con xấu xí, dung sắc tồi tệ, và khó coi.

Trong một đời khác, hẳn con đã từng bố thí cho các sa môn hay bà la môn những thứ như thức ăn, đồ uống, y phục, xe cộ; vòng hoa, hương thơm, phấn sáp; giường, nhà, và đèn đuốc. Vì vậy bây giờ con giàu có, nhiều tài sản, và của cải.

Trong một đời khác, hẳn con đã không ganh tị, tật đố, ganh ghét, và bỏn xẻn đối với tài sản, danh dự, sự kính trọng, sự tôn kính, sự đảnh lễ, và sự cúng dường mà người khác nhận được. Vì vậy bây giờ con có quyền lực lớn. Trong hoàng cung này, con cai quản các thiếu nữ thuộc dòng dõi quý tộc, bà la môn, và gia chủ. Vậy, bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay, con sẽ không hay phẫn nộ và nhiều phiền não. Dù bị chỉ trích nặng nề, con cũng sẽ không nổi giận, trở nên bực bội, chống đối, cứng lòng, hay biểu lộ sự bực bội, sân hận, và cay đắng. Con sẽ bố thí cho các sa môn hay bà la môn những thứ như thức ăn, đồ uống, y phục, xe cộ; vòng hoa, hương thơm, phấn sáp; giường, nhà, và đèn đuốc. Con sẽ không ganh tị, tật đố, ganh ghét, và bỏn xẻn đối với tài sản, danh dự, sự kính trọng, sự tôn kính, sự đảnh lễ, và sự cúng dường mà người khác nhận được.

Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!.. Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."

(VII) (197) Mallika

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), khu vườn ông Anàthapinkida. Rồi hoàng hậu Mallikà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, hoàng hậu Mallikà bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì,bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít? Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, dáng hạ liệt, nhưng giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn?

Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, tuy vậy nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít?

Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn?

2.- Ở đây, này Mallikà, có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị ít nói, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Người này không bố thí cho Sa-môn, Bà-lamôn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; tánh tình keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, thì ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ. Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tại đấy, tái sanh hạ liệt, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít.

3. Ở đây, này Mallikà, có nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị ít nói, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Người này bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; tánh tình không keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, thì không ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ. Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tại đấy, tái sanh, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nhưng giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn.

4. Ở đây, này Mallikà, có nữ nhân không phẫn nộ, não hại không nhiều, tuy bị nói nhiều, không có nổi nóng, không có nổi giận, không nổi sân, không sừng sộ, không gây hấn, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không bất mãn. Người này không bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; tánh tình keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, thì ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ. Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, nhưng nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít.

5. Ở đây, này Mallikà, có hạng nữ nhân không phẫn nộ, não hại không nhiều, tuy bị nói nhiều, không có nổi nóng, không có nổi giận, không nổi sân, không sừng sộ, không gây hấn, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không bất mãn. Người này bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; tánh tình không keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, không ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ. Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn.

6. Này Mallikà, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng nữ nhân dung sắc xấu … ảnh hưởng uy tín ít.

Này Mallikà, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng nữ nhân dung sắc xấu … ảnh hưởng uy tín lớn.

Này Mallikà, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng nữ nhân dung sắc đẹp … ảnh hưởng uy tín ít.

Ở đây, này Mallikà, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng nữ nhân dung sắc đẹp … ảnh hưởng uy tín lớn.

7. Khi được nói như vậy, hoàng hậu Mallikà bạch Thế Tôn:

− Giả sử như con, bạch Thế Tôn, trong một đời sống khác, con phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị nói ít, nhưng nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Và bạch Thế Tôn, nay con dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt. Giả sử như con, bạch Thế Tôn, trong một đời sống khác, con có bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Và bạch Thế Tôn, nay con được giàu sang, có tài sản lớn, có sở hữu lớn. Giả sử như con, bạch Thế Tôn, trong một đời sống khác, tánh tình không keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, con không ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ. Và bạch Thế Tôn, nay con được có ảnh hưởng uy tín lớn.

Bạch Thế Tôn, trong nội cung này, có những thiếu nữ hoàng tộc, có những thiếu nữ Bà-la-môn, có những thiếu nữ gia chủ, con có chủ quyền thủ lãnh. Và bạch Thế Tôn, bắt đầu từ nay, con sẽ không phẫn nộ, không có nhiều naõ hại, dầu cho bị nói nhiều, con sẽ không nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn. Con sẽ không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Con sẽ bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; con sẽ không keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, con sẽ không ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ.

Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn … mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử nữ cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

AN 4.198 Kinh Tự Hành Khổ (Attantapasutta)

"Này các Tỳ kheo, có bốn hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Bốn hạng người đó là gì?

1. Một người tự hành khổ mình, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình.

2. Một người hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn hành khổ người khác.

3. Một người tự hành khổ mình và hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình và hành khổ người khác.

4. Một người không tự hành khổ mình cũng không hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn không tự hành khổ mình hay hành khổ người khác. Ngay trong đời này, vị ấy sống vô dục, tịch tịnh, mát mẻ, cảm giác an lạc, với tự thân như Phạm thiên.

Và thế nào là một người tự hành khổ mình, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình? Đó là khi có người lõa thể, không theo quy ước. Họ liếm tay, không đến hay chờ đợi khi được gọi. Họ không nhận thức ăn mang đến, thức ăn nấu riêng cho họ, hay lời mời ăn. Họ không nhận gì từ nồi hay bát; hoặc từ người nuôi cừu, người có vũ khí hay xẻng trong nhà; hoặc nơi có cặp vợ chồng đang ăn; hoặc nơi có phụ nữ mang thai, cho con bú, hay sống chung với đàn ông; hoặc nơi có chó đang chờ hay ruồi đang bay vo ve. Họ không nhận cá, thịt, bia, rượu, và không uống cháo lên men. Họ chỉ đến một nhà để khất thực, chỉ nhận một miếng ăn, hoặc hai nhà và hai miếng ăn, cho đến bảy nhà và bảy miếng ăn. Họ ăn một đĩa mỗi ngày, hai đĩa mỗi ngày, cho đến bảy đĩa mỗi ngày. Họ ăn một lần mỗi ngày, một lần mỗi hai ngày, cho đến một lần mỗi tuần, và cứ thế, thậm chí đến một lần mỗi nửa tháng. Họ sống theo đuổi pháp môn ăn uống theo định kỳ.

Họ ăn rau cỏ, kê, gạo hoang, gạo xấu, bèo tấm, cám gạo, váng cơm sôi, bột vừng, cỏ, hoặc phân bò. Họ sống nhờ rễ cây và trái cây trong rừng, hoặc ăn trái cây rụng.

Họ mặc y phục làm bằng sợi gai, sợi gai trộn, vải liệm xác chết, vải vụn, vỏ cây lodh, da linh dương (nguyên miếng hoặc cắt thành dải), cỏ kusa, vỏ cây, mảnh gỗ, tóc người, lông đuôi ngựa, hoặc lông cú. Họ nhổ tóc và râu, theo đuổi pháp môn này. Họ thường xuyên đứng, từ chối chỗ ngồi. Họ ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm. Họ nằm trên chiếu gai, lấy chiếu gai làm giường. Họ chuyên tâm tắm rửa ba lần mỗi ngày, kể cả buổi tối. Và cứ thế, họ sống theo đuổi những cách khác nhau để hành hạ và dày vò thân xác. Đó là cách một người tự hành khổ mình, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình.

Và thế nào là một người hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn hành khổ người khác? Đó là khi một người là đồ tể giết cừu, heo, gia cầm, hoặc hươu nai, là thợ săn hoặc ngư phủ, là kẻ cướp, đao phủ, người mổ bò, cai ngục, hoặc làm nghề tàn ác nào khác. Đó là cách một người hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn hành khổ người khác.

Và thế nào là một người tự hành khổ mình và hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình và hành khổ người khác? Đó là khi một người là vua thuộc dòng dõi quý tộc đã làm lễ đăng quang hoặc một bà la môn giàu có. Ông ta cho xây một phòng nghi lễ mới ở phía đông thành trì. Ông ta cạo tóc và râu, mặc một tấm da linh dương thô, và bôi bơ sữa và dầu lên người. Gãi lưng bằng sừng hươu, ông ta vào phòng nghi lễ cùng với hoàng hậu và vị bà la môn thượng tế. Ở đó, ông ta nằm trên nền đất trống trải cỏ. Vị vua uống sữa từ một vú của con bò có con bê cùng màu. Hoàng hậu uống sữa từ vú thứ hai. Vị bà la môn thượng tế uống sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư được dâng lên ngọn lửa thiêng. Con bê uống phần còn lại. Ông ta nói: ‘Hãy giết chừng này bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê, cừu đực, và ngựa để tế lễ! Hãy đốn chừng này cây và cắt chừng này cỏ để làm đồ tế lễ!’ Các nô lệ, người hầu, và công nhân của ông ta làm việc dưới sự đe dọa trừng phạt và nguy hiểm, khóc lóc, mặt đẫm nước mắt. Đó là cách một người tự hành khổ mình và hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn tự hành khổ mình và hành khổ người khác.

Và thế nào là một người không tự hành khổ mình cũng không hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn không tự hành khổ mình hay hành khổ người khác, sống vô dục ngay trong đời này, tịch tịnh, mát mẻ, cảm giác an lạc, với tự thân như Phạm thiên? Đó là khi một Như Lai xuất hiện trên thế gian, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Giác, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và các vị thần linh, quần chúng này với các sa môn và bà la môn, trời và người—và Ngài tuyên bố điều đó cho những người khác. Ngài thuyết một giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, và toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự. Và Ngài trình bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Một người gia chủ nghe giáo pháp đó, hoặc con của người gia chủ, hoặc người nào đó tái sanh trong một gia đình tốt. Họ có được niềm tin vào Như Lai và suy ngẫm: ‘Đời sống tại gia thì chật chội, đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng rãi thoáng đãng. Không dễ cho người sống tại gia sống đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch như vỏ ốc được đánh bóng. Tại sao ta không cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Sau một thời gian, họ từ bỏ tài sản lớn hay nhỏ, và vòng quyến thuộc lớn hay nhỏ. Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi đã xuất gia, vị ấy thực hành học giới và đời sống của các Tỳ kheo. Vị ấy từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm. Vị ấy biết tàm quý và có lòng từ, sống đầy lòng thương xót tất cả chúng sanh. Vị ấy từ bỏ trộm cắp. Vị ấy chỉ lấy những gì được cho, và chỉ mong đợi những gì được cho. Vị ấy giữ mình trong sạch bằng cách không trộm cắp. Vị ấy từ bỏ hành vi phi phạm hạnh. Vị ấy sống phạm hạnh, xa lìa, tránh xa hành vi dâm dục thấp kém. Vị ấy từ bỏ nói dối. Vị ấy nói lời chân thật và giữ lời chân thật. Vị ấy trung thực và đáng tin cậy, không lừa dối thế gian bằng lời nói của mình. Vị ấy từ bỏ lời nói hai lưỡi. Vị ấy không lặp lại ở nơi này những gì đã nghe ở nơi khác để gây chia rẽ mọi người. Thay vào đó, vị ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, khuyến khích sự đoàn kết, vui thích trong hòa hợp, yêu mến hòa hợp, nói những lời tạo nên hòa hợp. Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác. Vị ấy nói lời êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích và chấp nhận. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm. Lời nói của vị ấy đúng thời, chân thật, có ý nghĩa, hợp pháp, hợp luật. Vị ấy nói những điều đúng lúc, có giá trị, có lý lẽ, súc tích, và hữu ích.

Vị ấy từ bỏ việc làm hại các loại hạt giống và cây cỏ. Vị ấy ăn một bữa trong ngày, từ bỏ ăn đêm, ăn phi thời. Vị ấy từ bỏ xem các buổi trình diễn múa, hát, nhạc. Vị ấy từ bỏ việc trang điểm bằng vòng hoa, hương thơm, phấn sáp. Vị ấy từ bỏ giường cao và sang trọng. Vị ấy từ bỏ nhận vàng bạc, tiền, ngũ cốc sống, thịt sống, phụ nữ và thiếu nữ, nô tỳ nam nữ, dê và cừu, gà và heo, voi, bò, ngựa đực, ngựa cái, ruộng vườn và đất đai. Vị ấy từ bỏ việc làm công việc đưa tin, liên lạc; mua bán; gian lận trong cân, tiền, hoặc đo lường; hối lộ, lừa đảo, gian trá, mánh khóe; cắt xén, giết chóc, bắt cóc, cướp bóc, tống tiền, bạo lực.

Vị ấy biết đủ với y để che thân và vật thực để nuôi bụng. Bất cứ đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ này. Vị ấy giống như con chim: bất cứ bay đi đâu, đôi cánh là gánh nặng duy nhất của nó. Cũng vậy, một Tỳ kheo biết đủ với y để che thân và vật thực để nuôi bụng. Bất cứ đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ này. Khi có được toàn bộ thánh giới uẩn này, vị ấy cảm nghiệm được niềm an lạc vô tội trong nội tâm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Nếu nhãn căn không được phòng hộ, các ác bất thiện pháp như tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ nhãn căn, và đạt được sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân cảm xúc… Khi ý biết pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Nếu ý căn không được phòng hộ, các ác bất thiện pháp như tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự ý căn. Khi có được thánh căn luật nghi này, vị ấy cảm nghiệm được niềm an lạc không tỳ vết trong nội tâm.

Vị ấy hành động với tỉnh giác khi đi tới và đi lui; khi nhìn thẳng và nhìn quanh; khi co và duỗi tay chân; khi mang y bát; khi ăn, uống, nhai, nếm; khi đi đại tiện và tiểu tiện; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, và giữ im lặng.

Khi có được toàn bộ thánh giới uẩn này, sự biết đủ cao thượng này, thánh căn luật nghi này, và chánh niệm tỉnh giác cao thượng này, vị ấy tìm đến một nơi ở thanh vắng—rừng, gốc cây, đồi, hang, động núi, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Sau bữa ăn, vị ấy trở về từ nơi khất thực, ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Từ bỏ tham ái đối với thế gian, vị ấy thiền định với tâm không tham ái, tẩy sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận và ác ý, vị ấy thiền định với tâm không sân hận, đầy lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh, tẩy sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ), vị ấy thiền định với tâm không hôn trầm và thụy miên, tác ý đến ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, tẩy sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận), vị ấy thiền định không trạo cử, nội tâm an tịnh, tẩy sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ nghi (doubt / sự hoài nghi), vị ấy thiền định đã vượt qua nghi ngờ, không phân vân đối với các thiện pháp, tẩy sạch tâm khỏi nghi. Vị ấy từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm pháp ngăn che tâm) này, những cấu uế của tâm làm trí tuệ suy yếu. Rồi, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy nhập và an trú sơ thiền… nhị thiền… tam thiền… tứ thiền.

Khi tâm của vị ấy đã nhập định (samādhi / sự tập trung tâm) như thế này—trong sạch, sáng tỏ, không tỳ vết, không cấu uế, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh (recollection of past lives / trí nhớ các kiếp quá khứ)… thiên nhãn minh (knowledge of the death and rebirth of sentient beings / trí tuệ thấy rõ sự chết và tái sanh của chúng sanh)… lậu tận minh (knowledge of the ending of defilements / trí tuệ thấy rõ sự đoạn trừ các lậu hoặc). Vị ấy tuệ tri: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là khổ tập’… ‘Đây là khổ diệt’… ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri: ‘Đây là các lậu hoặc’… ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’… ‘Đây là sự chấm dứt các lậu hoặc’… ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các lậu hoặc’.

Biết và thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu (defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance / các lậu hoặc về dục vọng, sự tái sanh, và vô minh). Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Đó là cách một người không tự hành khổ mình cũng không hành khổ người khác, theo đuổi pháp môn không tự hành khổ mình hay hành khổ người khác, sống vô dục ngay trong đời này, tịch tịnh, mát mẻ, cảm giác an lạc, với tự thân như Phạm thiên.

Đây là bốn hạng người được tìm thấy trên thế gian."

(VIII) (198) Tự Hành Hạ Mình

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, và hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Hạng người ấy không hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào phạm thể.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang đi đến giữa người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, không uống nước cháo. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà hay chỉ nhận ăn hai miếng, … hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà hay chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát … nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy, vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bọt tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái câu rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, vải gai thô lẫn các vải khác, mặc vải tẩn liệm, rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vải vỏ cây tirita làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từ từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng vỏ cát tường, mặc áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường nằm ngủ trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy, dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là người giết trâu, bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, người đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và các người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm tự hành khổ người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay một vị Bàla-môn triệu phú. Vị này cho xây một giảng đường mới về phía đông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da khô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lá cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một màu sắc. Bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba, sữa từ vú thứ tư thường dùng để tế lửa. Còn con nghé con sống với đồ còn lại. Vua nói như sau: “Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy giết một số ngựa để tế lễ, hãy chặt một số thân cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbhà để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người? Hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

6. Ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố bốn điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn, đầy đủ nghĩa. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Người gia trưởng hay con của người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp hạ tiện nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tin ở Như Lai.

7. Khi có được lòng tin ấy, người ấy suy nghĩ: “Gò bó là đời sống gia đình, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

8. Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống của các vị Tỷ-kheo, đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy đoạn tận đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt. Vị ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi., nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở nhũng người kia. Như vậy, vị này sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hoà hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói liên hệ đến nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng giữ gìn, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

9. Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các loại hạt giống và các kloài cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống; từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái;; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai;; từ bỏ không dùng người làm môi giới, hoặc tự mình làm người đưa tin; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, gạt lường; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, cướp đường, cướp giật, cưỡng đoạt.

10. Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tâm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát), như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh. Cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tâm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu. Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc không có lỗi lầm.

11. Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nguyên nhân gì khiến nhãn căn này không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng…, mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nguyê n nhân gì không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng vô uế lạc.

12. Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y dép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

13. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tưu Thánh chánh niệm tỉnh giác này (thành tựu Thánh biết đủ này), lựa một trú xứ thanh vắng như khu rừng, gốc cây, đồi, núi, khe nước, hang đá, bãi tha ma, rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Ðoạn tận sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Ðoạn tận hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sánh, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Ðoạn tận trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa hết tâm trạo cử, hối quá. Ðoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với pháp thiện.

14. Vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái này, các pháp làm tân cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

15. Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, tinh khiết, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”; biết như thật: “Ðây là khổ tập”; biết như thật: “Ðây là khổ diệt”; biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của những lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy quán tri: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có trở lui trạng thái này nữa”.

16. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm tự hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, trong hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 4.199 Kinh Ái, Người Thợ Dệt (Taṇhāsutta)

Thế Tôn đã nói điều này:

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các ông về ái (craving / sự khao khát, ham muốn)—người thợ dệt, kẻ lang thang, loài dây leo, sự bám víu. Thế giới này bị nó làm nghẹt thở, bị nó nhấn chìm. Nó làm cho thế giới rối như cuộn chỉ, thắt nút như quả bóng chỉ, và bện lại như cỏ lau và sậy, không thoát khỏi các cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi. Hãy lắng nghe và tác ý khéo léo, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Thế Tôn đã nói điều này:

"Và ái đó là gì…? Có mười tám dòng ái khởi lên từ nội tâm, và mười tám dòng ái khởi lên từ ngoại cảnh.

Thế nào là mười tám dòng ái khởi lên từ nội tâm? Khi có quan niệm ‘tôi là’, thì có các quan niệm ‘tôi là thế này’, ‘tôi là thế kia’, ‘tôi là khác đi’; ‘tôi là tạm thời’, ‘tôi là thường còn’; ‘của tôi’, ‘cái này là của tôi’, ‘cái kia là của tôi’, ‘cái khác là của tôi’; ‘cũng là của tôi’, ‘cái này cũng là của tôi’, ‘cái kia cũng là của tôi’, ‘cái khác cũng là của tôi’; ‘tôi sẽ là’, ‘tôi sẽ là thế này’, ‘tôi sẽ là thế kia’, ‘tôi sẽ là khác đi’. Đây là mười tám dòng ái khởi lên từ nội tâm.

Thế nào là mười tám dòng ái khởi lên từ ngoại cảnh? Khi có quan niệm ‘tôi là vì cái này’, thì có các quan niệm ‘tôi là thế này vì cái này’, ‘tôi là thế kia vì cái này’, ‘tôi là khác đi vì cái này’; ‘tôi là tạm thời vì cái này’, ‘tôi là thường còn vì cái này’; ‘của tôi vì cái này’, ‘cái này là của tôi vì cái này’, ‘cái kia là của tôi vì cái này’, ‘cái khác là của tôi vì cái này’; ‘cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái này cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái kia cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái khác cũng là của tôi vì cái này’; ‘tôi sẽ là vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế này vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế kia vì cái này’, ‘tôi sẽ là khác đi vì cái này’. Đây là mười tám dòng ái khởi lên từ ngoại cảnh.

Như vậy, có mười tám dòng ái khởi lên từ nội tâm, và mười tám dòng ái khởi lên từ ngoại cảnh. Đây được gọi là ba mươi sáu dòng ái. Mỗi dòng ái này liên quan đến quá khứ, tương lai, và hiện tại, tạo thành một trăm lẻ tám dòng ái.

Đây chính là ái đó—người thợ dệt, kẻ lang thang, loài dây leo, sự bám víu. Thế giới này bị nó làm nghẹt thở, bị nó nhấn chìm. Nó làm cho thế giới rối như cuộn chỉ, thắt nút như quả bóng chỉ, và bện lại như cỏ lau và sậy, không thoát khỏi các cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi."

(IX) (199) Ái

1.- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Thầy về ái, lưới triền khiến cho lưu chuyển được rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử. Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

2.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái, thế nào là lưới triền, khiến cho lưu chuyển, được trải rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử?

Này các Tỷ-kheo, có mười tám ái hành này, liên hệ đến nội tâm, có mười tám ái hành này liên hệ với ngoại cảnh. 3. Thế nào là mười tám ái hành liên hệ đến nội tâm?

Này các Tỷ-kheo, khi nào có ý nghĩ: “Ta có mặt”, thời có những ý nghĩ: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; “Ta phải có mặt hay không?”; “Ta phải có mặt trong đời này?”; “Ta phải có mặt như vậy”; “Ta phải có mặt khác như vậy”; “Mong rằng ta có mặt”; “Mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Mong rằng ta có mặt khác như vậy!”; “Ta sẽ có mặt”; “Ta sẽ có mặt trong đời này”; “Ta sẽ có mặt như vậy”; “Ta sẽ có mặt khác như vậy”. Có mười tám ái hành này liên hệ với nội tâm.

4. Thế nào là mười tám ái hành liên hệ đến ngoại cảnh?

Khi nào có tư tưởng: “Với cái này, Ta có mặt”, thời có những tư tưởng như sau: “Với cái này, Ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, Ta có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta có mặt khác như vậy”; “Với cái này, Ta không phải thường hằng”; “Với cái này, Ta là thường hằng”; “Với cái này, Ta phải có mặt hay không?”; “Với cái này, Ta phải có mặt trong thế giới này?”; “Với cái này, Ta có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta có mặt khác như vậy”; “Với cái này, mong rằng Ta có mặt”; “Với cái này, mong rằng Ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Với cái này, mong rằng Ta có mặt khác như vậy!”;” Với cái này, Ta sẽ có mặt”; “Với cái này, Ta sẽ có mặt trong đời này”;” Với cái này, Ta sẽ có mặt như vậy”;” Với cái này, Ta sẽ có mặt khác như vậy”.

Có mười tám ái hành này liên hệ với ngoại cảnh.

5. Mười tám ái hành này liên hệ đến nội tâm, và mười tám ái hành này liên hệ đến ngoại cảnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ba mươi sáu ái hành. Ba mươi sáu ái hành quá khứ như vậy; ba mươi sáu ái hành vị lai như vậy; ba mươi sáu ái hành hiện tại như vậy. Như vậy là một trăm lẻ tám ái hành.

6. Này các Tỷ-kheo, đây là ái này, lưới triền, khiến cho lưu chuyển, được trải rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.

AN 4.200 Kinh Yêu và Ghét (Pemasutta)

"Này các Tỳ kheo, bốn điều này sinh khởi từ yêu và ghét. Bốn điều đó là gì?

1. Yêu sinh khởi từ yêu,

2. Ghét sinh khởi từ yêu,

3. Yêu sinh khởi từ ghét, và

4. Ghét sinh khởi từ ghét.

Và thế nào là yêu sinh khởi từ yêu? Đó là khi một người thích, yêu, và quan tâm đến một người. Những người khác đối xử với người đó bằng sự thích thú, yêu thương, và quan tâm. Người ấy nghĩ: ‘Những người khác này thích người mà tôi thích.’ Và thế là tình yêu đối với họ nảy sinh. Đó là cách yêu sinh khởi từ yêu.

Và thế nào là ghét sinh khởi từ yêu? Đó là khi một người thích, yêu, và quan tâm đến một người. Những người khác đối xử với người đó bằng sự không thích, ghê tởm, và căm ghét. Người ấy nghĩ: ‘Những người khác này không thích người mà tôi thích.’ Và thế là lòng căm ghét đối với họ nảy sinh. Đó là cách ghét sinh khởi từ yêu.

Và thế nào là yêu sinh khởi từ ghét? Đó là khi một người không thích, ghê tởm, và căm ghét một người. Những người khác đối xử với người đó bằng sự không thích, ghê tởm, và căm ghét. Người ấy nghĩ: ‘Những người khác này không thích người mà tôi không thích.’ Và thế là tình yêu đối với họ nảy sinh. Đó là cách yêu sinh khởi từ ghét.

Và thế nào là ghét sinh khởi từ ghét? Đó là khi một người không thích, ghê tởm, và căm ghét một người. Những người khác đối xử với người đó bằng sự thích thú, yêu thương, và quan tâm. Người ấy nghĩ: ‘Những người khác này thích người mà tôi không thích.’ Và thế là lòng căm ghét đối với họ nảy sinh. Đó là cách ghét sinh khởi từ ghét.

Đây là bốn điều sinh khởi từ yêu và ghét.

Có lúc một Tỳ kheo… nhập và an trú sơ thiền. Vào lúc đó, vị ấy không có yêu sinh từ yêu, ghét sinh từ yêu, yêu sinh từ ghét, hay ghét sinh từ ghét.

Có lúc một Tỳ kheo… nhập và an trú nhị thiền… tam thiền… tứ thiền. Vào lúc đó, vị ấy không có yêu sinh từ yêu, ghét sinh từ yêu, yêu sinh từ ghét, hay ghét sinh từ ghét.

Có lúc một Tỳ kheo chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc. Vào lúc đó, bất kỳ yêu nào sinh từ yêu, ghét nào sinh từ yêu, yêu nào sinh từ ghét, hay ghét nào sinh từ ghét đều được từ bỏ, đoạn tận gốc rễ, làm như thân cây tala bị chặt ngọn, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai. Đây được gọi là một Tỳ kheo không kéo lại gần, không đẩy ra xa, không bốc khói, không bốc cháy, không bị thiêu đốt.

Và thế nào là một Tỳ kheo kéo lại gần? Đó là khi một Tỳ kheo coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Vị ấy coi thọ là tự ngã, tự ngã có thọ, thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Vị ấy coi tưởng là tự ngã, tự ngã có tưởng, tưởng trong tự ngã, hay tự ngã trong tưởng. Vị ấy coi hành là tự ngã, tự ngã có hành, hành trong tự ngã, hay tự ngã trong hành. Vị ấy coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Đó là cách một Tỳ kheo kéo lại gần.

Và thế nào là một Tỳ kheo không kéo lại gần? Đó là khi một Tỳ kheo không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Vị ấy không coi thọ là tự ngã, tự ngã có thọ, thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Vị ấy không coi tưởng là tự ngã, tự ngã có tưởng, tưởng trong tự ngã, hay tự ngã trong tưởng. Vị ấy không coi hành là tự ngã, tự ngã có hành, hành trong tự ngã, hay tự ngã trong hành. Vị ấy không coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Đó là cách một Tỳ kheo không kéo lại gần.

Và thế nào là một Tỳ kheo đẩy ra xa? Đó là khi có người mắng nhiếc, làm phiền, hay tranh cãi với một Tỳ kheo, và Tỳ kheo đó mắng nhiếc, làm phiền, hay tranh cãi lại với họ. Đó là cách một Tỳ kheo đẩy ra xa.

Và thế nào là một Tỳ kheo không đẩy ra xa? Đó là khi có người mắng nhiếc, làm phiền, hay tranh cãi với một Tỳ kheo, và Tỳ kheo đó không mắng nhiếc, làm phiền, hay tranh cãi lại với họ. Đó là cách một Tỳ kheo không đẩy ra xa.

Và thế nào là một Tỳ kheo bốc khói? Khi có quan niệm ‘tôi là’, thì có các quan niệm ‘tôi là thế này’, ‘tôi là thế kia’, ‘tôi là khác đi’; ‘tôi là tạm thời’, ‘tôi là thường còn’; ‘của tôi’, ‘cái này là của tôi’, ‘cái kia là của tôi’, ‘cái khác là của tôi’; ‘cũng là của tôi’, ‘cái này cũng là của tôi’, ‘cái kia cũng là của tôi’, ‘cái khác cũng là của tôi’; ‘tôi sẽ là’, ‘tôi sẽ là thế này’, ‘tôi sẽ là thế kia’, ‘tôi sẽ là khác đi’. Đó là cách một Tỳ kheo bốc khói.

Và thế nào là một Tỳ kheo không bốc khói? Khi không có quan niệm ‘tôi là’, thì không có các quan niệm ‘tôi là thế này’, ‘tôi là thế kia’, ‘tôi là khác đi’; ‘tôi là tạm thời’, ‘tôi là thường còn’; ‘của tôi’, ‘cái này là của tôi’, ‘cái kia là của tôi’, ‘cái khác là của tôi’; ‘cũng là của tôi’, ‘cái này cũng là của tôi’, ‘cái kia cũng là của tôi’, ‘cái khác cũng là của tôi’; ‘tôi sẽ là’, ‘tôi sẽ là thế này’, ‘tôi sẽ là thế kia’, ‘tôi sẽ là khác đi’. Đó là cách một Tỳ kheo không bốc khói.

Và thế nào là một Tỳ kheo bị bốc cháy? Khi có quan niệm ‘tôi là vì cái này’, thì có các quan niệm ‘tôi là thế này vì cái này’, ‘tôi là thế kia vì cái này’, ‘tôi là khác đi vì cái này’; ‘tôi là tạm thời vì cái này’, ‘tôi là thường còn vì cái này’; ‘của tôi vì cái này’, ‘cái này là của tôi vì cái này’, ‘cái kia là của tôi vì cái này’, ‘cái khác là của tôi vì cái này’; ‘cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái này cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái kia cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái khác cũng là của tôi vì cái này’; ‘tôi sẽ là vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế này vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế kia vì cái này’, ‘tôi sẽ là khác đi vì cái này’. Đó là cách một Tỳ kheo bị bốc cháy.

Và thế nào là một Tỳ kheo không bị bốc cháy? Khi không có quan niệm ‘tôi là vì cái này’, thì không có các quan niệm ‘tôi là thế này vì cái này’, ‘tôi là thế kia vì cái này’, ‘tôi là khác đi vì cái này’; ‘tôi là tạm thời vì cái này’, ‘tôi là thường còn vì cái này’; ‘của tôi vì cái này’, ‘cái này là của tôi vì cái này’, ‘cái kia là của tôi vì cái này’, ‘cái khác là của tôi vì cái này’; ‘cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái này cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái kia cũng là của tôi vì cái này’, ‘cái khác cũng là của tôi vì cái này’; ‘tôi sẽ là vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế này vì cái này’, ‘tôi sẽ là thế kia vì cái này’, ‘tôi sẽ là khác đi vì cái này’. Đó là cách một Tỳ kheo không bị bốc cháy.

Và thế nào là một Tỳ kheo bị thiêu đốt? Đó là khi một Tỳ kheo chưa từ bỏ ngã mạn ‘ta là’ (conceit ‘I am’ / sự kiêu mạn vi tế về một cái ‘ta’ hiện hữu), chưa đoạn tận gốc rễ, chưa làm nó như thân cây tala bị chặt ngọn, chưa xóa sạch nó, để nó không thể sanh khởi trong tương lai. Đó là cách một Tỳ kheo bị thiêu đốt.

Và thế nào là một Tỳ kheo không bị thiêu đốt? Đó là khi một Tỳ kheo đã từ bỏ ngã mạn ‘ta là’, đã đoạn tận gốc rễ, đã làm nó như thân cây tala bị chặt ngọn, đã xóa sạch nó, để nó không thể sanh khởi trong tương lai. Đó là cách một Tỳ kheo không bị thiêu đốt."

(X) (200) Luyến Ái

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn sự được sanh khởi này. Thế nào là bốn?

Luyến ái sanh từ luyến ái, sân sanh từ luyến ái, luyến ái sanh từ sân, sân sanh từ sân.

2.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là luyến ái sanh từ luyến ái?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, lại được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là luyến ái sanh khởi từ luyến ái.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sân đưởc sanh khởi từ luyến ái?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, nhưng không được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sân được sanh khởi từ luyến ái. 4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là luyến ái được sanh khởi từ sân?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này không khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta. Và các người khác đối xử với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý”. Do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với các người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là luyến ái được sanh khởi từ sân.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là lòng sân được sanh khởi từ lòng sân?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý đối với ta. Và các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sân được sanh khởi từ lòng sân.

Này các Tỷ-kheo, có bốn luyến ái này sanh ra.

6. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo ly các dục, ly các pháp bất thiện … chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ luyến ái, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt. Luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ sân, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt.

7. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ các tầm và tứ … chứng đạt và an trú Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … Thiền thứ tư. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh khởi từ luyến ái, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt. Luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ sân, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt.

8. Này các Tỷ-kheo, trong thời gian Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Sân sanh ra từ luyến ái, sân ấy đã được đoạn tận … không thể sanh khởi trong tương lai; luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Sân sanh ra từ sân, sân ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không lôi cuốn, không phản ứng, không un khói, không bốc cháy, không sững sờ.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo lôi cuốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sắc từ tự ngã, hay quán tự ngã có sắc, hay quán sắc trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc; quán thọ từ tự ngã, hay quán tự ngã có thọ, hay quán thọ trong tự ngã, hay quán tự ngã trong thọ; quán tưởng từ tự ngã, hay quán tự ngã có tưởng, hay quán tưởng trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong tưởng; quán các hành từ tự ngã, hay quán tự ngã có các hành, hay quán các hành trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong các hành; quán thức từ tự ngã, hay quán tự ngã có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo lôi cuốn. 10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không lôi cuốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không quán sắc từ tự ngã, hay không quán tự ngã có sắc, hay không quán sắc trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức từ tự ngã, hay không quán tự ngã có thức, hay không quán thức trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không lôi cuốn.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo phản ứng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, nổi sân lại những ai nổi sân, gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo phản ứng.

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không phản ứng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, không nổi sân lại những ai nổi sân, không gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không phản ứng.

13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo un khói?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào có ý nghĩ: “Ta có mặt”, thời có những ý nghĩ: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; “Ta phải có mặt hay không?”; “Ta phải có mặt trong đời này?”; “Ta phải có mặt như vậy”; “Ta phải có mặt khác như vậy”; “Mong rằng ta có mặt”; “Mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Mong rằng ta có mặt khác như vậy!”; “Ta sẽ có mặt”; “Ta sẽ có mặt trong đời này”; “Ta sẽ có mặt như vậy”; “Ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo un khói.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không un khói?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào không có ý nghĩ: “Ta có mặt”, thời cũng không có những ý nghĩ: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; “Ta phải có mặt hay không?”; “Ta phải có mặt trong đời này?”; “Ta phài có mặt như vậy”; “Ta phải có mặt khác như vậy”; “Mong rằng ta có mặt”; “Mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Mong rằng ta có mặt khác như vậy!”; “Ta sẽ có mặt”; “Ta sẽ có mặt trong đời này”; “Ta sẽ có mặt như vậy”; “Ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không un khói.

15. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bốc cháy?

Khi nào có tư tưởng: “Với cái này, Ta có mặt”, thời có những tư tưởng sau: “Với cái này, Ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, Ta có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta có mặt khác như vậy”; “Với cái này, Ta không phải thường hằng”; “Với cái này, Ta là thường hằng”; “Với cái này, Ta phải có mặt hay không?”; “Với cái này, Ta phải có mặt trong đời này?”; “Với cái này, Ta phải có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta phải có mặt khác như vậy”; “Với cái này, mong rằng ta sẽ có mặt”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt khác như vậy!”” Với cái này, ta sẽ có mặt”; “Với cái này, ta sẽ có mặt trong đời này”;” Với cái này, ta sẽ có mặt như vậy”;” Với cái này, ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bốc cháy.

16. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không bốc cháy? Khi nào không có tư tưởng: “Với cái này, Ta có mặt”, thời có những tư tưởng sau: “Với cái này, Ta không có mặt trong đời này”; “Với cái này, Ta không có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta không có mặt khác như vậy”; “Với cái này, Ta không phải không thường hằng”; “Với cái này, Ta không phải thường hằng”; “Với cái này, Ta không phải có mặt?”; “Với cái này, Ta không phải có mặt trong đời này?”; “Với cái này, Ta không phải có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta không phải có mặt khác đi”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt trong đời này”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt như vậy!”;” Với cái này, ta sẽ không có mặt khác đi”; “Với cái này, tôi sẽ có mặt”, “Với cái này tôi sẽ có mặt trong đời này”;” Với cái này, tôi sẽ có mặt như vậy”;” Với cái này, tôi sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không bốc cháy.

17. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không có sững sờ?

Ở đây, sự kiêu mạn: “Tôi là” của vị Tỷ-kheo được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không có sững sờ.