Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Các Lực Của Bậc Hữu Học

AN 5.1 Tóm Tắt Saṁkhittasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn ông Jeta, tu viện ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Thế Tôn dạy như sau:

"Này các Tỷ kheo, có năm lực của bậc hữu học (powers of a trainee / sức mạnh của người còn đang tu học) này. Thế nào là năm? Lực niềm tin (faith / lòng tin, tín lực), lực xấu hổ (conscience / sự xấu hổ với các tội lỗi, Tàm), lực sợ điều ác (prudence / sự sợ hãi với điều ác, tội lỗi, Quý), lực siêng năng (energy / sự nỗ lực, tinh tấn), và lực trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn). Đây là năm lực của bậc hữu học.

Vì vậy, các ngươi nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có các lực của bậc hữu học là niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

Thế Tôn đã dạy như vậy. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học

(I) (1) Tóm Lược

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này, cuả bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm lực, quý lực, tuệ lực. Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của bậc hữu học.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:

3. “Tôi sẽ thành tựu tín lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tàm lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu quý lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tinh tấn lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 5.2 Chi Tiết Vitthatasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm lực của bậc hữu học này. Thế nào là năm? Lực niềm tin, lực xấu hổ, lực sợ điều ác, lực siêng năng, và lực trí tuệ.

Và thế nào là lực niềm tin? Đó là khi một thánh đệ tử (noble disciple / người học trò đã chứng thánh quả) có niềm tin vào sự giác ngộ (awakening / trạng thái tỉnh thức hoàn toàn) của Như Lai (Realized One / Bậc đã chứng ngộ): ‘Thế Tôn (Blessed One / Bậc được tôn kính) là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc khéo đi, khéo nói), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dìu dắt người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn.’ Đây gọi là lực niềm tin.

Và thế nào là lực xấu hổ? Đó là khi một thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ đối với ác hạnh (bad conduct / hành vi xấu ác) về thân, khẩu, ý, và xấu hổ khi có bất kỳ bất thiện pháp (bad, unskillful qualities / các trạng thái tâm xấu, không khéo léo) nào. Đây gọi là lực xấu hổ.

Và thế nào là lực sợ điều ác? Đó là khi một thánh đệ tử có lòng sợ điều ác. Vị ấy sợ điều ác đối với ác hạnh về thân, khẩu, ý, và sợ điều ác khi có được bất kỳ bất thiện pháp nào. Đây gọi là lực sợ điều ác.

Và thế nào là lực siêng năng? Đó là khi một thánh đệ tử sống với lòng siêng năng được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp và thực hành các thiện pháp (skillful qualities / các trạng thái tâm tốt, khéo léo). Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì nỗ lực, không lơ là khi phát triển các thiện pháp. Đây gọi là lực siêng năng.

Và thế nào là lực trí tuệ? Đó là khi một thánh đệ tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sinh diệt (arising and passing away / sự sinh khởi và hoại diệt của các pháp), trí tuệ này thánh thiện, thể nhập (noble, penetrative / thuộc về bậc thánh, có khả năng thâm nhập thực tại), và dẫn đến sự đoạn tận khổ đau (complete ending of suffering / sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ não). Đây gọi là lực trí tuệ. Đây là năm lực của bậc hữu học.

Vì vậy, các ngươi nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có các lực của bậc hữu học là niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

(II) (2) Rộng Rãi

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm lực, quý lực, tinh tấn, tuệ lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn,. Hổ thẹn đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là quý lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh tấn lực?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tinh tấn lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sức mạnh của bậc Hữu học. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:

7. “Ta sẽ thành tựu tín lực, được gọi là hữu học lực… tàm lực… quý lực… tinh tấn lực… ta sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 5.3 Khổ Đau Dukkhasutta

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo có năm pháp này, vị ấy sống không hạnh phúc ngay trong đời này—với khổ não, phiền muộn, và bức rức (distress, anguish, and fever / sự đau khổ, buồn phiền và nóng nảy trong tâm)—và sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi một ác thú (bad rebirth / cảnh giới tái sinh xấu). Thế nào là năm? Đó là khi một Tỷ kheo không niềm tin (faithless / người thiếu lòng tin), không xấu hổ (shameless / người không biết xấu hổ tội lỗi), không sợ điều ác (imprudent / người không biết sợ điều ác tội lỗi), lười biếng (lazy / người thiếu siêng năng), và thiếu trí tuệ (witless / người không có trí tuệ). Khi một Tỷ kheo có năm pháp này, vị ấy sống không hạnh phúc ngay trong đời này—với khổ não, phiền muộn, và bức rức—và sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi một ác thú.

Khi một Tỷ kheo có năm pháp này, vị ấy sống hạnh phúc ngay trong đời này—không khổ não, phiền muộn, hay bức rức—và sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi một thiện thú (good rebirth / cảnh giới tái sinh tốt). Thế nào là năm? Đó là khi một Tỷ kheo có niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ. Khi một Tỷ kheo có năm pháp này, vị ấy sống hạnh phúc ngay trong đời này—không khổ não, phiền muộn, hay bức rức—và sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi một thiện thú."

(III) (3) Khổ

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, với tổn não, với ưu não, với nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có lòng tin, không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ hãi, biếng nhác, ác tuệ. Thành tựu với năm pháp này, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại sống đau khổ, với tổn não, với ưu não, với nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.

2. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không ưu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là cõi lành. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là cõi lành.

AN 5.4 Bị Đọa Lạc Yathābhatasutta

"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ bị đọa vào địa ngục (cast down to hell / bị rơi vào cảnh giới đau khổ nhất). Thế nào là năm? Đó là khi một Tỷ kheo không niềm tin, không xấu hổ, không sợ điều ác, lười biếng, và thiếu trí tuệ. Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ được sinh lên cõi trời (raised up to heaven / được tái sinh vào cảnh giới an vui). Thế nào là năm? Đó là khi một Tỷ kheo có niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ. Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ được sinh lên cõi trời."

(IV) (4) Tương Xứng

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, bị rơi vào địa ngục. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có lòng tin, không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ hãi, biếng nhác, có ác tuệ. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, bị rơi vào địa ngục.

2. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, được sanh vào cõi Trời. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy được sanh vào cõi Trời.

AN 5.5 Xả Giới Sikkhāsutta

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào từ bỏ học pháp (rejects the training / không còn thực hành giới luật và giáo pháp) và hoàn tục (returns to a lesser life / trở về đời sống thế tục) đáng bị khiển trách và chỉ trích (rebuttal and criticism / sự phê bình và quở trách) vì năm lý do chính đáng ngay trong đời này. Thế nào là năm? ‘Ngươi đã không có niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, hay trí tuệ đối với các thiện pháp.’ Bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào từ bỏ học pháp và hoàn tục đáng bị khiển trách và chỉ trích vì năm lý do chính đáng này ngay trong đời này.

Bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào sống đời sống phạm hạnh (spiritual life / đời sống trong sạch, xa lìa dục lạc) trọn vẹn và thanh tịnh trong đau khổ và buồn rầu, khóc lóc, mặt đẫm lệ, đáng được tán dương vì năm lý do chính đáng ngay trong đời này. Thế nào là năm? ‘Ngươi đã có niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp.’ Bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào sống đời sống phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong đau khổ và buồn rầu, khóc lóc, mặt đẫm lệ, đáng được tán dương vì năm lý do chính đáng này ngay trong đời này."

(V) (5) Học Pháp

1. - Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, từ bỏ học pháp, trở lui đời sống thế tục, năm vấn đề hợp pháp để tự trách và chỉ trích đến với vị ấy ngay trong hiện tại. Thế nào là năm?

2. “Trong Thầy (vị ấy nghĩ) không có lòng tín đối với các thiện pháp; trong Thầy không có lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp; trong Thầy không có lòng sợ hãi đối với các thiện pháp; trong Thầy không có tinh tấn đối với các thiện pháp; trong Thầy không có trí tuệ đối với các thiện pháp. “Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, từ bỏ học pháp, trở lui đời sống thế tục, năm vấn đề hợp pháp này để tự trách và chỉ trích đến với vị ấy ngay trong hiện tại.

3. Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, dầu với đau khổ, với ưu tư, với mặt đầy nước mắt, than khóc, vẫn sống đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, năm vấn đề hợp pháp để tự tán thán đế với vị ấy ngay trong hiện tại. Thế nào là năm? “Trong Thầy (vị ấy nghĩ) có lòng tin đối với các thiện pháp; trong Thầy có lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp; trong Thầy có lòng sợ hãi đối với các thiện pháp; trong Thầy có lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; trong Thầy có trí tuệ đối với các thiện pháp. Tỷ kheo hay tỷ kheo ni nào, naỳ các Tỷ kheo, dầu với đau khổ, với ưu tư, với mặt đầy nước mắt, khóc than vẫn sống đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, năm vấn đề hợp pháp để tự tán thán này đến với vị ấy ngay trong hiện tại.

AN 5.6 Trở Thành Samāpattisutta

"Này các Tỷ kheo, các ngươi không trở nên bất thiện khi niềm tin được thiết lập trong các thiện pháp. Nhưng khi niềm tin biến mất và sự không niềm tin chiếm lấy, các ngươi trở nên bất thiện.

Các ngươi không trở nên bất thiện khi lòng xấu hổ… lòng sợ điều ác… sự siêng năng… trí tuệ được thiết lập trong các thiện pháp.

Nhưng khi trí tuệ biến mất và sự thiếu trí tuệ chiếm lấy, các ngươi trở nên bất thiện."

(VI) (6) Bước Vào

1. - Không có sự bước vào bất thiện, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào có lòng tin an trú vào các thiện pháp. Khi nào lòng tin biến mất, này các Tỷ-kheo, lòng không tin khởi lên và tồn tại, thời có sự bước vào bất thiện.

2-5. Không có sự bước vào bất thiện, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào có lòng hổ thẹn… lòng sợ hãi… tinh tấn… trí tuệ an trú vào các thiện pháp. Khi nào lòng hổ thẹn… lòng sợ hãi… tinh tấn… trí tuệ biến mất, này các Tỷ-kheo, không xấu hổ… không sợ hãi… biếng nhác… ác tuệ khởi lên và tồn tại, thời có sự bước vào bất thiện.

AN 5.7 Dục Lạc Kāmasutta

"Này các Tỷ kheo, chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) phần lớn bị quyến rũ bởi dục lạc (sensual pleasures / sự vui thú qua các giác quan). Khi một người thiện nam đã từ bỏ lưỡi hái và cái đập lúa và xuất gia từ bỏ đời sống thế tục (gone forth from the lay life to homelessness / rời bỏ gia đình, sống không nhà cửa), họ đủ tư cách được gọi là ‘một người xuất gia (renunciate / người từ bỏ đời sống thế tục để tu hành) có niềm tin từ một gia đình tốt’. Tại sao vậy? Bởi vì một người trẻ có thể có được các loại dục lạc này hay loại khác. Nay, tất cả dục lạc chỉ được xem là ‘dục lạc’, bất kể chúng là thấp kém, trung bình, hay cao thượng.

Giả sử có một đứa bé trai nhỏ, do sự bất cẩn (negligence / sự thiếu chú ý, lơ là) của vú nuôi (nursemaid / người trông trẻ), đã bỏ một que củi hay hòn đá vào miệng. Người vú nuôi sẽ nhanh chóng nhận ra và cố gắng lấy nó ra. Nếu không được, bà ấy sẽ giữ đầu đứa bé bằng tay trái, và dùng ngón tay móc của tay phải để lấy nó ra, ngay cả khi làm chảy máu. Tại sao vậy? Ta thừa nhận rằng bà ấy biết, ‘Điều này sẽ làm đứa trẻ đau khổ, không thể phủ nhận.’ Tuy nhiên, điều đó nên được thực hiện bởi một người vú nuôi muốn điều tốt nhất cho đứa trẻ, vì lòng tốt và sự cảm thông. Và khi đứa trẻ lớn lên và đủ hiểu biết, người vú nuôi sẽ không lo lắng về nó, nghĩ rằng: ‘Đứa trẻ có thể tự chăm sóc mình. Nó sẽ không bất cẩn.’

Tương tự như vậy, Ta vẫn cần chăm sóc một Tỷ kheo chưa hoàn thiện việc phát triển niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp. Nhưng khi một Tỷ kheo đã hoàn thiện việc phát triển niềm tin, xấu hổ, sợ điều ác, siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp, Ta không cần phải bận tâm, nghĩ rằng: ‘Họ có thể tự chăm sóc mình. Họ sẽ không bất cẩn.’"

(VII) (7) Dục Vọng

1. - Phần lớn, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy vừa đủ để được gọi: “Vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia”. Vì cớ sao?

2. Các dục, này các Tỷ-kheo, được tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng, và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận là các dục.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đức nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng. Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái mắn đầu nó, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại Như vậy, này các Tỷ kheo, người vú hầu phải làm như vậy vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đức trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: “Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa”.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp; chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng: “Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng dật nữa”.

AN 5.8 Thất Bại Cavanasutta

"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp (true teaching / giáo lý chân chính của Đức Phật). Thế nào là năm? Một Tỷ kheo không niềm tin… không xấu hổ… không sợ điều ác… lười biếng… thiếu trí tuệ sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp. Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp.

Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp. Thế nào là năm? Một Tỷ kheo có niềm tin… xấu hổ… sợ điều ác… siêng năng… trí tuệ sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp. Một Tỷ kheo có năm pháp này sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp."

(VIII) (8) Từ Bỏ

1.- Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm?

2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Không có lòng hổ thẹn, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ không an trú trong diệu pháp. Không có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Biếng nhác, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Không có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm? Có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Có lòng hổ thẹn… có lòng sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp.

AN 5.9 Không Kính Trọng (1) Paṭhamaagāravasutta

"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính (disrespectful and irreverent / thiếu sự tôn trọng và cung kính) có năm pháp này sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp. Thế nào là năm? Một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính mà lại không niềm tin… không xấu hổ… không sợ điều ác… lười biếng… thiếu trí tuệ sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp. Một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính có năm pháp này sẽ thất bại, và không tự thiết lập được trong chánh pháp.

Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính (respectful and reverent / có sự tôn trọng và cung kính) có năm pháp này sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp. Thế nào là năm? Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính mà lại có niềm tin… xấu hổ… sợ điều ác… siêng năng… trí tuệ sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp. Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính có năm pháp này sẽ không thất bại, và tự thiết lập được trong chánh pháp."

(IX) (9) Không Tôn Kính (1)

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm?

2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Không có lòng hổ thẹn… không có lòng sợ hãi… biếng nhác… không có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an trú trong diệu pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm?

4. Có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Có lòng hổ thẹn… có lòng sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp.

AN 5.10 Không Kính Trọng (2) Dutiyaagāravasutta

"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính có năm pháp này không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay viên mãn (growth, improvement, or maturity / sự phát triển, tốt đẹp hơn, hay đầy đủ) trong giáo pháp và luật (teaching and training / lời dạy và giới luật) này. Thế nào là năm? Một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính mà lại không niềm tin… không xấu hổ… không sợ điều ác… lười biếng… thiếu trí tuệ không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay viên mãn trong giáo pháp và luật này. Một Tỷ kheo không kính trọng và không tôn kính có năm pháp này không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay viên mãn trong giáo pháp và luật này.

Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính có năm pháp này có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, và viên mãn trong giáo pháp và luật này. Thế nào là năm? Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính mà lại có niềm tin… xấu hổ… sợ điều ác… siêng năng… trí tuệ có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, và viên mãn trong giáo pháp và luật này. Một Tỷ kheo kính trọng và tôn kính có năm pháp này có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, và viên mãn trong giáo pháp và luật này."

(X) (10) Không Tôn Kính (2)

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thế nào là năm?

2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Không có lòng hổ thẹn… không có lòng sợ hãi… biếng nhác… có ác trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thế nào là năm?

4. Có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Có lòng hổ thẹn… có lòng sợ hãi… tinh tấn… có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.