Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Năm Pháp

AN 5.21 Không Kính Trọng (1) Paṭhamaagāravasutta

"Này các Tỳ kheo (mendicant / vị khất sĩ), một Tỳ kheo không kính trọng, không nể vì, có lối sống không hòa hợp thì không thể nào hoàn thành được pháp bổ túc (supplementary regulations / các quy định phụ trợ) đối với các vị đồng phạm hạnh (spiritual companions / bạn tu). Không hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy không thể hoàn thành được học pháp (practice of a trainee / pháp của bậc hữu học). Không hoàn thành được học pháp, vị ấy không thể hoàn thành được giới (ethics / đạo đức). Không hoàn thành được giới, vị ấy không thể hoàn thành được chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn). Không hoàn thành được chánh kiến, vị ấy không thể hoàn thành được chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn).

Nhưng một Tỳ kheo có kính trọng, có nể vì, có lối sống hòa hợp thì hoàn toàn có thể hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy có thể hoàn thành được học pháp. Hoàn thành được học pháp, vị ấy có thể hoàn thành được giới. Hoàn thành được giới, vị ấy có thể hoàn thành được chánh kiến. Hoàn thành được chánh kiến, vị ấy có thể hoàn thành được chánh định."

III. Phẩm Năm Phần

(I) (21) Không Có Cung Kính (1)

1. - Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra.

2. Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có cung kính có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra.

AN 5.22 Không Kính Trọng (2) Dutiyaagāravasutta

"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo không kính trọng, không nể vì, có lối sống không hòa hợp thì không thể nào hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Không hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy không thể hoàn thành được học pháp. Không hoàn thành được học pháp, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ giới uẩn (entire spectrum of ethics / toàn bộ giới). Không hoàn thành được toàn bộ giới uẩn, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ định uẩn (entire spectrum of immersion / toàn bộ định). Không hoàn thành được toàn bộ định uẩn, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ tuệ uẩn (entire spectrum of wisdom / toàn bộ trí tuệ).

Nhưng một Tỳ kheo có kính trọng, có nể vì, có lối sống hòa hợp thì hoàn toàn có thể hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy có thể hoàn thành được học pháp. Hoàn thành được học pháp, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ giới uẩn. Hoàn thành được toàn bộ giới uẩn, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ định uẩn. Hoàn thành được toàn bộ định uẩn, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ tuệ uẩn."

(II) (22) Không Có Cung Kính (2)

1. - Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn giới uẩn, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn giới uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn định uẩn, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn định uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn tuệ uẩn, sự kiện này không xảy ra.

2. Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có cung kính, có thận trong, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, vị ấy sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn giới uẩn, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn giới uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn định uẩn, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn định uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn tuệ uẩn, sự kiện này có xảy ra.

AN 5.23 Các uế nhiễm Upakkilesasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm uế nhiễm (corruptions / sự hư hỏng) này của vàng nguyên chất. Khi vàng nguyên chất bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo (pliable / dễ uốn), không dễ chế tác (workable / dễ làm), không sáng chói (radiant / chiếu sáng), mà trở nên giòn (brittle / dễ gãy) và không hoàn toàn sẵn sàng để chế tác (ready for working / sẵn sàng để làm). Năm thứ đó là gì? Sắt, đồng, thiếc, chì và bạc. Khi vàng nguyên chất bị năm uế nhiễm này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói, mà trở nên giòn và không hoàn toàn sẵn sàng để chế tác.

Nhưng khi vàng nguyên chất không còn năm uế nhiễm này, nó trở nên mềm dẻo, dễ chế tác, sáng chói, không giòn, và sẵn sàng để chế tác. Khi đó, người thợ kim hoàn có thể chế tác thành công bất kỳ loại trang sức nào họ muốn, dù là nhẫn, bông tai, vòng cổ hay vòng hoa bằng vàng.

Cũng vậy, có năm uế nhiễm này của tâm (mind / tâm trí). Khi tâm bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói. Nó trở nên giòn, và không thể nhập định (immersed in samādhi / đi vào sự tập trung) đúng đắn để đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy). Năm thứ đó là gì? Dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc), tức giận (ill will / sự tức giận), uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự lờ đờ và buồn ngủ), bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / sự không yên và ăn năn), và nghi (doubt / sự nghi ngờ). Đây là năm uế nhiễm của tâm. Khi tâm bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói. Nó trở nên giòn, và không thể nhập định đúng đắn để đoạn trừ các lậu hoặc.

Nhưng khi tâm không còn năm uế nhiễm này, nó trở nên mềm dẻo, dễ chế tác, và sáng chói. Nó mềm dẻo có thể dễ dàng nhập định để đoạn trừ các lậu hoặc. Vị ấy trở nên có khả năng chứng ngộ (realizing/nhìn thấy, ý thức rõ ràng) bất cứ điều gì có thể chứng ngộ bằng thắng trí (insight / trí tuệ thấy biết đặc biệt, quan sát bằng não bộ) mà vị ấy hướng đến, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên)—từ một thân hiện thành nhiều thân, từ nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, núi non không bị ngăn ngại như đi trong hư không; độn thổ trồi lên như ở trong nước; đi trên nước như trên đất liền; ngồi kiết già bay giữa hư không như chim; dùng tay chạm và vuốt mặt trời mặt trăng, những vật đầy quyền năng và uy lực như vậy; điều khiển thân mình cho đến tận phạm thiên giới (realm of divinity / cõi trời Phạm thiên).’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Với thiên nhĩ (clairaudience / tai nghe được xa) thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Mong rằng ta có thể hiểu tâm có tham (greed / lòng tham) là “tâm có tham”, và tâm không tham là “tâm không tham”; tâm có tức giận (hate / lòng căm ghét) là “tâm có tức giận”, và tâm không tức giận là “tâm không tức giận”; tâm có si (delusion / sự mê lầm) là “tâm có si”, và tâm không si là “tâm không si”; tâm co rút (constricted mind / tâm bị thu lại) là “tâm co rút”, và tâm tán loạn (scattered mind / tâm bị phân tán) là “tâm tán loạn”; tâm quảng đại (expansive mind / tâm rộng lớn) là “tâm quảng đại”, và tâm không quảng đại (unexpansive mind / tâm không rộng lớn) là “tâm không quảng đại”; tâm chưa vô thượng (mind that is not supreme / tâm chưa đạt đến cao nhất) là “tâm chưa vô thượng”, và tâm vô thượng (mind that is supreme / tâm đạt đến cao nhất) là “tâm vô thượng”; tâm nhập định là “tâm nhập định”, và tâm không nhập định là “tâm không nhập định”; tâm giải thoát (freed mind / tâm được tự do) là “tâm giải thoát”, và tâm chưa giải thoát (unfreed mind / tâm chưa được tự do) là “tâm chưa giải thoát”.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều tiền kiếp (past lives / các đời sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp (eons / thời gian rất dài) thế giới thành, nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành và hoại. Mong rằng ta nhớ được: “Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta được tái sinh ở đây.” Mong rằng ta nhớ lại nhiều tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Với thiên nhãn (clairvoyance / mắt thấy được xa) thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi và tái sinh—hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi đau khổ—và hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp (deeds / hành động có chủ ý) của họ: “Những chúng sinh thân thương này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh (noble ones / những vị đã giác ngộ); họ có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ (place of loss / nơi khổ đau), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), đọa xứ (underworld / nơi sa đọa), địa ngục (hell / nơi khổ cùng cực). Tuy nhiên, những chúng sinh thân thương này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào thiện xứ (good place / nơi tốt lành), thiên giới (heavenly realm / cõi trời).” Và như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi đau khổ. Và mong rằng ta hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) vô lậu (undefiled / không còn ô nhiễm) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay."

(III) (23) Các Uế Nhiễm

1. - Có năm uế nhiễm này của vàng, này các Tỷ-kheo, do các uế nhiễm ấy, vàng bị uế nhiễm không được nhu nhuyến, không được dễ sử dụng, không sáng chói, bị bể vụn và không chơn chánh chịu sự tác thành. Thế nào là năm?

2. Sắt, đồng, thiếc, chì và bạc. Có năm uế nhiễm này của vàng, này các Tỷ-kheo, do uế nhiễm ấy, vàng bị uế nhiễm không được nhu nhuyến, không được dễ sử dụng, không sáng chói bị bể vụn và không chơn chánh chịu sự tác thành.

3. Và khi nào, này các Tỷ-kheo, vàng được giải thoát khỏi năm uế nhiễm này, khi ấy vàng ấy được nhu nhuyến, dễ sử dụng, sáng chói, không bị bể vụn, và chơn chánh chịu sự tác thành. Và các đồ trang sức nào người ta muốn như nhẫn, như bông tai, như vòng cổ, như dây chuyền vàng, vàng ấy có thể dùng tùy theo ước muốn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm uế nhiễm này của tâm, do các uế nhiễm ấy, tâm bị uế nhiễm, không nhu nhuyến, không dễ sử dụng, không sáng chói, bị bể vụn, không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm? 4. Tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi. Có năm uế nhiễm này của tâm, này các Tỷ-kheo, do năm uế nhiễm ấy, tâm bị uế nhiễm không được nhu nhuyến, không dễ sử dụng, không sáng chói, bị bể vụn, không chơn chánh, định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

5. Và khi nào, này các Tỷ-kheo, tâm được giải thoát khỏi năm uế nhiễm ấy; khi ấy tâm ấy được nhu nhuyến, dễ sử dụng, sáng chói, không bể vụn, chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đây, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lục đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

6. Nếu vị ấy ước muốn, “Ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi qua hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm, như trên đất liền; ngồi kiếtgià hay đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và sờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.” Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

7. Nếu vị ấy muốn: “Với thiên nhĩ thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư thiên và loài Người, xa và gần”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

8. Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể biết được tâm của các loại chúng sanh khác, tâm của loài Người khác nhau như sau: “Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không tham, biết là tâm không tham. Tâm có sân biết là tâm có sân. Tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm có si biết là tâm có si. Tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát””. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

9. Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trămđời, hai trăm đời, ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp.” Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, đồ ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, đồ ăn như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ở đây.” Tại chỗ, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

10. Nếu vị ấy ước muốn: “Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự từ bỏ và sanh khởi của chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các vị chúng sanh ấy làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các vị chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi lành, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống chết của chúng sanh. ta có thể rõ biết rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào. 11. Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.” Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

AN 5.24 Phá Giới Dussīlasutta

"Này các Tỳ kheo, một người phá giới (unethical / không giữ giới), thiếu giới hạnh, đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu (vital condition / yếu tố quan trọng) cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến (true knowledge and vision / thấy biết đúng như thật). Khi không có như thật tri kiến, người thiếu như thật tri kiến đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán (disillusionment / sự chán ngán thế gian) và ly tham (dispassion / sự lìa bỏ tham ái). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / thấy biết về sự giải thoát).

Giống như một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, một người phá giới, thiếu giới hạnh, đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi không có như thật tri kiến, người thiếu như thật tri kiến đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Một người trì giới (ethical / giữ gìn giới luật), đã hoàn thành giới hạnh, đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thành chánh định đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi có như thật tri kiến, người đã hoàn thành như thật tri kiến đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Giống như một cái cây có đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó đều sẽ phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, một người trì giới, đã hoàn thành giới hạnh, đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thành chánh định đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi có như thật tri kiến, người đã hoàn thành như thật tri kiến đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."

(IV) (24) Ác Giới

1. - Với người ác giới, này các Tỷ-kheo, với người phá giới, chánh định do vậy bị phá hoại. Khi chánh định không có mặt, với người chánh định bị phá hoại, như thật tri kiến do vậy bị phá hoại. Khi như thật tri kiến không có mặt, với người như thật tri kiến bị phá hoại, nhàm chán, ly tham do vậy bị phá hoại. Khi nhàm chán ly tham không có mặt, với người nhàm chán ly tham bị phá hoại, giải thoát tri kiến do vậy bị phá hoại.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây, với cành và lá bị phá hoại, thời đọt cây ấy không đi đến viên mãn, vỏ cây không đi đến viên mãn, giác cây không đi đến viên mãn, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người ác giới, với người phá giới, chánh định do vậy bị phá hoại. Khi chánh định không có mặt, với người chánh định bị phá hoại, như thật tri kiến nhân vậy bị phá hoại. Khi như thật tri kiến không có mặt, với người như thật tri kiến bị phá hoại, nhàm chán, ly tham do vậy bị phá hoại. Khi nhàm chán, ly tham không có mặt, với người nhàm chán ly tham bị phá hoại, giải thoát tri kiến do vậy bị phá hoại.

3. Với người có giới, này các Tỷ-kheo, với người gìn giữ giới, chánh định do vậy được đầy đủ. Do chánh định có mặt, với người chánh định được thành tựu, như thật tri kiến do vậy được thành tựu. Do như thật tri kiến có mặt, với người như thật tri kiến có mặt, nhàm chán, ly tham do vậy được thành tựu. Do nhàm chán, ly tham có mặt, với người nhàm chán ly tham được thành tựu, giải thoát tri kiến do vậy được thành tựu.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây, với cành và lá được đầy đủ, thời đọt cây ấy đi đến viên mãn vỏ cây đi đến viên mãn, giác cây đi đến viên mãn lõi cây đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người có giới, với người giữ gìn giới, chánh định nhân vậy được đầy đủ. Do chánh định có mặt, với người chánh định được thành tựu, như thật tri kiến do vậy được thành tựu. Do như thật tri kiến có mặt, với người như thật tri kiến được thành tựu, nhàm chán, ly tham do vậy được thành tựu. Do nhàm chán, ly tham có mặt, với người nhàm chán, ly tham được thành tựu, giải thoát tri kiến do vậy được thành tựu.

AN 5.25 Được Hỗ Trợ Anuggahitasutta

"Này các Tỳ kheo, khi chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố, nó sẽ có tâm giải thoát và tuệ giải thoát làm quả và lợi ích.

Năm yếu tố đó là gì? Đó là khi chánh kiến được hỗ trợ bởi giới, đa văn (learning / nghe nhiều học rộng), thảo luận, chỉ (serenity / sự tĩnh lặng của tâm), và quán (discernment / sự quán chiếu, thấy rõ). Khi chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố này, nó sẽ có tâm giải thoát và tuệ giải thoát làm quả và lợi ích."

(V) (25) Nhiếp Thọ

1. - Do nhiếp thọ năm chi phần, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được thành thục với tâm giải thoát quả và với các lợi ích của tâm giải thoát quả và với các lợi ích của tâm giải thoát quả với tuệ giải thoát quả và với các lợi ích của tuệ giải thoát quả.

2. Với năm pháp gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được giới pháp nhiếp thọ, được văn nhiếp thọ, được luận nghị nhiếp thọ, được chỉ nhiếp thọ, được quán nhiếp thọ. Do được năm chi phần này nhiếp thọ, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được thành tựu với tâm giải thoát quả và các lợi ích của tâm giải thoát quả, với tâm giải thoát quả, với tuệ giải thoát quả và các lợi ích của tuệ giải thoát quả.

AN 5.26 Các Cơ Hội Giải Thoát Vimuttāyatanasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm cơ hội giải thoát (opportunities for freedom / dịp để giải thoát) này. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần (diligent / siêng năng), nhiệt tâm (keen / hăng hái), và quyết tâm (resolute / ý chí vững chắc) vào những lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách (supreme sanctuary from the yoke / nơi an ổn tuyệt đối khỏi sự trói buộc). Năm cơ hội đó là gì?

Thứ nhất, Bậc Đạo Sư (Teacher / vị thầy dạy đạo) hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp (Dhamma / lời dạy của Đức Phật) cho một Tỳ kheo. Bất kể Bậc Đạo Sư hay vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp cho Tỳ kheo đó theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa (inspired by the meaning / vui mừng về ý nghĩa) và hân hoan về pháp (inspired by the teaching / vui mừng về lời dạy) trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích (joy / vui thích thích) khởi lên. Khi vui thích, vui thích (rapture /hỉ/ sự vui mừng phấn khích) khởi lên. Khi tâm tràn đầy hoan hỉ, thân trở nên khinh an (tranquil / nhẹ nhàng, an ổn). Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc (bliss / sự sung sướng, an lạc). Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ nhất. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần, nhiệt tâm, và quyết tâm vào lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách.

Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp cho Tỳ kheo. Mà chính Tỳ kheo đó giảng Pháp chi tiết cho người khác như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó giảng Pháp chi tiết cho người khác như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ hai. …

Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay … Tỳ kheo giảng Pháp. Mà Tỳ kheo đó đọc tụng lại Pháp chi tiết như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó đọc tụng lại Pháp chi tiết như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ ba. …

Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay … Tỳ kheo giảng Pháp … cũng không phải Tỳ kheo đọc tụng lại Pháp. Mà Tỳ kheo đó suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, xem xét nó bằng tâm trí như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, xem xét nó bằng tâm trí như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ tư. …

Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay … Tỳ kheo giảng Pháp … cũng không phải Tỳ kheo đọc tụng lại Pháp … hay suy ngẫm về nó. Mà một định tướng (meditation subject as a basis of immersion / đề mục thiền định làm nền tảng cho sự tập trung) được nắm bắt đúng đắn, chú tâm vào, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết sáng suốt). Bất kể định tướng của một Tỳ kheo được nắm bắt đúng đắn, chú tâm vào, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ năm. …

Đây là năm cơ hội giải thoát. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần, nhiệt tâm, và quyết tâm vào những lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách."

(VI) (26) Giải Thoát Xứ

1. - Có năm giải thoát xứ này, này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được gỉai thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt đến.

2. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Tùy theo bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo như thế nào, nhu thế nào,tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý hoan hỷ, thân được khinh an. Do thân được khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ nhất; ở đấy, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt tới.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Và vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan sanh nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ hai, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo đọc tụng pháp như vậy, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, một cách rộng rãi như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ ba, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư, không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng một cách rộng rãi cho người khác. Vị ấy không đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã nghe, như đã được học thuộc lòng. Nhưng vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tự, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, do với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ tư, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không đọc tụng pháp ấy một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Vị ấy pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Nhưng vị ấy khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí tuệ như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ năm, ở đây, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.

7. Có năm giải thoát xứ này, này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tính cần, thời tâm chưa giải thoát, dược giải thoát, hay các lậu hoặc chưa đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt đến.

AN 5.27 Định Samādhisutta

"Này các Tỳ kheo, hãy phát triển vô lượng định (limitless immersion / định không giới hạn), tỉnh giác (alert / nhận biết rõ ràng) và tỉnh thức (mindful / nhớ nghĩ đúng đắn). Khi các ngươi phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức, năm loại trí tuệ sẽ tự thân khởi lên nơi các ngươi. Năm loại đó là gì?

‘Định này hiện tại mang lại hạnh phúc, và trong tương lai cũng đưa đến kết quả hạnh phúc.’ …

‘Định này là thánh thiện (noble / cao thượng) và phi vật chất (not of the flesh / không thuộc về vật chất).’ …

‘Định này không được kẻ ác (sinners / người làm điều xấu) tu tập.’ …

‘Định này là tịch tịnh (peaceful / yên lặng), thù thắng (sublime / cao đẹp, vượt trội), an tịnh (tranquil / yên ổn) và nhất tâm (unified / tâm hợp nhất), không phải được duy trì bằng sự đè nén (forceful suppression / sự cố gắng ép buộc).’ …

‘Ta nhập và xuất định này một cách tỉnh thức.’ …

Hãy phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức. Khi các ngươi phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức, năm loại trí tuệ này sẽ tự thân khởi lên nơi các ngươi."

(VII) (27) Ðịnh

1. - Này các Tỷ-kheo, thông minh, thường niệm, hãy tu tập vô lượng định. Với ai thông minh thường niệm, tu tập vô lượng định, tự mỗi người ấy khởi lên năm trí. Thế nào là năm?

2. Ðịnh này hiện tại lạc và tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên. Ðịnh này không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên. Ðịnh này an tịnh, thù diệu đem đến khinh an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên: “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”, trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, thông minh, thường niệm, hãy tu tập vô lượng định. Với ai thông minh, thường niệm, hãy tu tập vô lượng định, tự mỗi người ấy, khởi lên năm trí này.

AN 5.28 Với Năm Chi Phần Pañcaṅgikasutta

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các ngươi cách phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần (noble right immersion with five factors / sự tập trung đúng đắn cao thượng có năm yếu tố). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Thế Tôn,” các Tỳ kheo ấy đáp. Đức Phật dạy điều này:

"Và làm thế nào để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần?

Thứ nhất, một Tỳ kheo, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), ly bất thiện pháp (unskillful qualities / những điều xấu ác), nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Trạng thái có hỉ và lạc (sự vui thích và an vui) do ly dục sinh, cùng với tầm (placing the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng). Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do ly dục sinh. Giống như một người hầu tắm khéo léo hay đệ tử của họ đổ bột tắm vào một cái đĩa đồng, rưới nước từ từ. Họ nhào bột cho đến khi viên bột tắm ấy thấm đẫm và bão hòa với độ ẩm, lan tỏa cả bên trong lẫn bên ngoài; nhưng không có chút ẩm nào chảy ra ngoài. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do ly dục sinh. Đây là cách thứ nhất để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.

Hơn nữa, khi tầm và tứ lắng dịu, một Tỳ kheo nhập và an trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai). Trạng thái này có hỉ và lạc do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm (internal clarity / sự yên lặng và hợp nhất bên trong), không có tầm và tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do định sinh. Giống như một hồ nước sâu được nuôi dưỡng bởi nguồn nước suối. Không có lối nước vào nào ở phía đông, tây, bắc, hay nam, và trời cũng không ban mưa. Nhưng có dòng nước mát lạnh phun lên từ lòng hồ thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy khắp hồ. Không có phần nào của hồ không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do định sinh. Đây là cách thứ hai để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.

Hơn nữa, với sự phai nhạt của hỉ, một Tỳ kheo nhập và an trú tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Vị ấy thiền với xả (equanimity / sự bình thản, không thiên vị, không vui buồn), tỉnh thức và tỉnh giác, tự thân cảm nhận hạnh phúc mà các bậc Thánh tuyên bố, ‘Người thiền trong xả và tỉnh thức, thiền trong hạnh phúc.’ Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc không hỉ. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi lạc không hỉ. Giống như một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Một số cây mọc và lớn lên trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, phát triển mạnh dưới nước. Từ ngọn đến gốc, chúng được thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy nước mát lạnh. Không có phần nào của chúng không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không hỉ (sự an vui và không có sự vui thích). Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi lạc thọ không hỉ ấy. Đây là cách thứ ba để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.

Hơn nữa, Tỳ kheo từ bỏ an vui và khổ đau (xả lạc xả khổ) và chấm dứt sự vui thích và nỗi buồn trước đó (diệt hỉ ưu đã cảm thọ trước), Tỳ kheo nhập và an trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Trạng thái này không có khổ đau hay hạnh phúc, với xả và tỉnh thức thanh tịnh (pure equanimity and mindfulness / sự bình tâm và tỉnh thức trong sạch). Vị ấy ngồi, làm tràn đầy thân mình với tâm thuần tịnh sáng suốt (pure bright mind / tâm trong sạch, sáng tỏ). Không có phần nào của thân thể không được tràn đầy bởi tâm thuần tịnh sáng suốt. Giống như một người ngồi quấn vải trắng từ đầu đến chân. Không có phần nào của thân thể không được phủ bởi vải trắng. Cũng vậy, vị ấy ngồi, làm tràn đầy thân mình với tâm thuần tịnh sáng suốt. Không có phần nào của thân thể không được tràn đầy bởi tâm thuần tịnh sáng suốt. Đây là cách thứ tư để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.

Lại nữa, đối tượng thiền làm cơ sở để quán chiếu (meditation that is a basis for reviewing) lại được vị Tỷ kheo nắm bắt đúng đắn, chú tâm đúng đắn, ghi nhớ đúng đắn và thấu hiểu bằng trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết sâu sắc). Ví như một người nhìn một người khác. Người đang đứng có thể nhìn người đang ngồi, hoặc người đang ngồi có thể nhìn người đang nằm. Cũng vậy, đối tượng thiền làm cơ sở để quán chiếu lại được vị Tỷ kheo nắm bắt đúng đắn, chú tâm đúng đắn, ghi nhớ đúng đắn và thấu hiểu bằng trí tuệ. Đây là cách thứ năm để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.

Khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Giả sử có một cái bình nước đặt trên giá, đầy đến miệng để con quạ có thể uống được. Nếu một người đàn ông mạnh mẽ nghiêng nó theo bất kỳ hướng nào, nước có chảy ra không?"

“Có, thưa Thế Tôn.”

"Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Giả sử có một hồ sen hình vuông, có tường bao quanh trên mặt đất bằng phẳng, đầy đến miệng để con quạ có thể uống được. Nếu một người đàn ông mạnh mẽ phá vỡ bức tường ở bất kỳ phía nào, nước có chảy ra không?"

“Có, thưa Thế Tôn.”

"Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Giả sử có một cỗ xe ngựa được thắng những con ngựa thuần chủng tại một ngã tư bằng phẳng, với cây roi thúc ngựa đã sẵn sàng. Một người huấn luyện ngựa khéo léo, một người đánh xe bậc thầy, có thể lên xe, tay phải cầm dây cương và tay trái cầm roi thúc ngựa. Ông ấy sẽ lái xe đi và về bất cứ nơi nào ông muốn, bất cứ khi nào ông muốn. Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông: từ một thân hiện thành nhiều thân … điều khiển thân mình cho đến tận phạm thiên giới.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Với thiên nhĩ thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Mong rằng ta có thể hiểu tâm có tham là “tâm có tham”, và tâm không tham là “tâm không tham”; tâm có tức giận là “tâm có tức giận”, và tâm không tức giận là “tâm không tức giận”; tâm có si là “tâm có si”, và tâm không si là “tâm không si”; tâm co rút là “tâm co rút”, và tâm tán loạn là “tâm tán loạn”; tâm quảng đại là “tâm quảng đại”, và tâm không quảng đại là “tâm không quảng đại”; tâm chưa vô thượng là “tâm chưa vô thượng”, và tâm vô thượng là “tâm vô thượng”; tâm nhập định là “tâm nhập định”, và tâm không nhập định là “tâm không nhập định”; tâm giải thoát là “tâm giải thoát”, và tâm chưa giải thoát là “tâm chưa giải thoát”.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều tiền kiếp, với các đặc điểm và chi tiết.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh chết đi và tái sinh tùy theo nghiệp của họ.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.

Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.’ Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay."

(VIII) (28) Năm Chi Phần

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, như thế nào là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Ðây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

Ðây là sự tu tập thứ hai về Thánh chánh định gồm có năm chi phần. 6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy dầu thuộc loại xứ nào.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè nước đặt trên một cái giá, ghè ấy đựng đầy nước, tràn đầy đến nỗi con quạ có thể uống được. Và một người có sức mạnh đến lắc qua lắc lại cái ghè ấy, như vậy nước có đổ ra chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào. 13. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước trên một khoảnh đất bằng, bốn góc có bờ đê đắp cao đầu tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi một người có sức mạnh đến tháo bờ đê chỗ này chỗ kia, như vậy nước có đổ ra chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy… dầu thuộc loại xứ nào.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa thuần chủng, có gậy thúc ngực đặt ngang sẵn sàng. Có người huấn luyện ngựa thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngựa, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương tay mặt cầm lấy gậy thúc ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui tại chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

15. Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân… “(như trên, số 23, mục 6)… dầu thuộc loại xứ nào.

16. Nếu vị ấy ước muốn: “Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân… “(như trên, số 23, mục 7)

17. Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể hiểu biết được tâm của các loại chúng sanh khác… “(như trên, số 23, mục 8)…

18. Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời… “(như trên, số 23, mục 9)…

19. Nếu vị ấy ước muốn: “Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống chết của chúng sanh… “(như trên, số 23, mục 10)

20. Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

AN 5.29 Kinh Hành Caṅkamasutta

“Này các Tỳ kheo, có năm lợi ích của việc kinh hành (walking meditation / đi thiền). Năm lợi ích đó là gì? Trở nên khỏe mạnh để đi đường xa, khỏe mạnh để siêng năng (striving / nỗ lực) thiền định, và ít bệnh tật. Những gì đã ăn, uống, nhai, nếm được tiêu hóa đúng cách. Và định có được trong khi kinh hành sẽ kéo dài. Đây là năm lợi ích của việc kinh hành.”

(IX) (29) Kinh Hành

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của kinh hành. Thế nào là năm?

2. Kham nhẫn được đường trường; kham nhẫn được tinh cần; ít bệnh tật; đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm; định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại lâu dài. Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm lợi ích của kinh hành.

AN 5.30 Với Ngài Nāgita Nāgitasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo) đông đảo thì đến một ngôi làng của các Bà la môn xứ Kosala tên là Icchānaṅgala. Ngài trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Các Bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala nghe tin:

“Hình như sa môn (ascetic / người xuất gia) Gotama—một người thuộc dòng họ Sakya, xuất gia từ dòng họ Sakya—đã đến Icchānaṅgala. Ngài đang trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời) đó là bậc A la hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đi đến an lạc), Thế Gian Giải (knower of the world / bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc cao nhất hướng dẫn người cần điều phục), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này—với các vị trời, Ma vương (Māras / vua loài ma), và chư thiên (divinities / các vị trời), dân chúng này với các sa môn và Bà la môn (brahmins / giai cấp tu sĩ Ấn Độ cổ), trời và người—và Ngài tuyên bố điều đó cho những người khác. Ngài thuyết giảng một giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn từ hoàn hảo. Và Ngài tiết lộ một đời sống phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành khi được gặp những bậc A la hán như vậy.”

Rồi, khi đêm đã qua, họ mang theo nhiều thức ăn tươi sống và đã nấu chín đến khu rừng gần Icchānaṅgala, nơi họ đứng bên ngoài cổng làm ồn ào khủng khiếp.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita là thị giả (attendant / người hầu cận) của Đức Phật. Bấy giờ Đức Phật nói với Nāgita, “Nāgita, ai đang làm ồn ào khủng khiếp thế kia? Cứ như là những người đánh cá đang kéo lưới vậy!”

“Bạch Thế Tôn, đó là những Bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala. Họ đã mang theo nhiều thức ăn tươi sống và đã nấu chín, và họ đang đứng bên ngoài cổng muốn đặc biệt cúng dường lên Đức Phật và Tăng đoàn Tỳ kheo.”

“Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được hạnh phúc của sự xuất ly (pleasure of renunciation / hạnh phúc của sự từ bỏ), hạnh phúc của sự viễn ly (pleasure of seclusion / hạnh phúc của sự sống một mình), hạnh phúc của sự an tịnh (pleasure of peace / hạnh phúc của sự yên tĩnh), hạnh phúc của sự giác ngộ (pleasure of awakening / hạnh phúc của sự giác ngộ) bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng cái hạnh phúc bẩn thỉu, lười biếng của lợi dưỡng, cung kính, danh vọng (possessions, honor, and popularity / của cải, sự tôn trọng, tiếng tăm).”

“Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chấp thuận ngay bây giờ! Xin Thiện Thệ (Holy One / bậc đi đến an lạc) hãy chấp thuận! Bây giờ là lúc Đức Phật chấp thuận. Bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các Bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Giống như khi trời mưa lớn và nước chảy xuống chỗ trũng. Cũng vậy, bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các Bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì giới hạnh và trí tuệ của Đức Phật.”

"Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được hạnh phúc của sự xuất ly, hạnh phúc của sự viễn ly, hạnh phúc của sự an tịnh, hạnh phúc của sự giác ngộ bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng cái hạnh phúc bẩn thỉu, lười biếng của lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.

Những gì ngươi ăn, uống, nhai, và nếm cuối cùng cũng thành phân và nước tiểu. Đây là kết quả của nó.

Khi những người thân yêu suy tàn và qua đời, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Đây là kết quả của nó.

Khi ngươi theo đuổi thiền quán về bất tịnh tướng (feature of ugliness / tướng không đẹp, không sạch), sự nhàm chán (revulsion / sự chán ghét) đối với tịnh tướng (feature of beauty / tướng đẹp, sạch) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó.

Khi ngươi thiền quán sát vô thường (impermanence / sự không bền vững, luôn thay đổi) trong sáu xứ xúc (six fields of contact / sáu nơi phát sinh sự tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sự nhàm chán đối với xúc (contact / sự tiếp xúc giữa căn, trần, thức) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó.

Khi ngươi thiền quán sát sinh diệt (rise and fall / sự sinh khởi và hoại diệt) trong năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), sự nhàm chán đối với thủ (grasping / sự chấp giữ) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó."

(X) (30) Tôn Giả Nàgita

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-lamôn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam. Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam được nghe: “Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là Ðức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-lahán như vậy!””

Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã màn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn già Nàgita:

− Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?

− Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn, lạc viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để học thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.

3. - Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Ba-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ họ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng đường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn

4. - Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không vó liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. Này Nàgita, với ai ăn, uống, nhai, nếm, thời đại tiện, tiểu tiện, là kết quả tất nhiên cho người ấy. Với những ai nặng nề về ái lạc, này Nàgita, sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy.