Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Vua Muṇḍa

AN 5.41 Làm Giàu Ādiyasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại vườn ông Jeta, tu viện ông Anāthapiṇḍika. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, có năm lý do này để làm giàu. Năm lý do nào?

Thứ nhất, với tài sản hợp pháp của mình—kiếm được nhờ nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay, thu thập bằng mồ hôi trán—một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử bậc thánh) làm cho mình vui vẻ và hài lòng, giữ cho mình hạnh phúc đúng mực. Vị ấy làm cho cha mẹ mình hạnh phúc… Vị ấy làm cho con cái, vợ/chồng, người hầu, công nhân, và nhân viên hạnh phúc… Đây là lý do thứ nhất để làm giàu.

Lại nữa, với tài sản hợp pháp của mình, vị ấy làm cho bạn bè và đồng nghiệp hạnh phúc… Đây là lý do thứ hai để làm giàu.

Lại nữa, với tài sản hợp pháp của mình, vị ấy bảo vệ bản thân khỏi những mất mát do những thứ như lửa, nước, vua chúa, trộm cướp, hoặc những người thừa kế không được yêu thương. Vị ấy giữ cho mình an toàn. Đây là lý do thứ ba để làm giàu.

Lại nữa, với tài sản hợp pháp của mình, vị ấy thực hiện năm lễ cúng dường cho các hương linh: cho bà con, khách khứa, tổ tiên, vua chúa, và chư thiên. Đây là lý do thứ tư để làm giàu.

Lại nữa, với tài sản hợp pháp của mình, vị ấy thiết lập sự cúng dường tôn giáo cao thượng cho các sa môn và bà la môn (ascetics and brahmins / tu sĩ và người Bà La Môn giáo)—những người tránh xa say sưa và phóng dật (intoxication and negligence / sự say đắm và lơ là), an trú trong nhẫn nại và nhu hòa (patience and sweetness / sự chịu đựng và mềm mỏng), và những người tự điều phục, tự làm lắng dịu, tự đạt Niết Bàn (tame, calm, and extinguish themselves / tự kiểm soát, tự làm yên tĩnh, tự đạt sự chấm dứt khổ đau)—sự cúng dường này đưa đến cõi trời (conducive to heaven / dẫn đến tái sinh ở cõi trời), trổ quả hạnh phúc (ripens in happiness / mang lại kết quả là hạnh phúc), và dẫn đến cõi trời (leads to heaven / đưa đến tái sinh ở cõi trời). Đây là lý do thứ năm để làm giàu.

Đó là năm lý do để làm giàu.

Bây giờ, nếu tài sản mà một thánh đệ tử có được vì năm lý do này cạn kiệt, vị ấy nghĩ: ‘Vậy là, tài sản ta có được vì những lý do này đang cạn kiệt.’ Và vì thế vị ấy không hối hận.

Nhưng nếu tài sản mà một thánh đệ tử có được vì năm lý do này tăng lên, vị ấy nghĩ: ‘Vậy là, tài sản ta có được vì những lý do này đang tăng lên.’ Và vì thế vị ấy không hối hận trong cả hai trường hợp.

'Ta đã hưởng thụ tài sản của mình,
nuôi dưỡng những người phụ thuộc vào ta;
Ta đã vượt qua những mất mát;
Ta đã cúng dường tôn giáo cao thượng;
và thực hiện năm lễ cúng dường cho hương linh.
Ta đã chăm lo cho những người tu hành giữ giới
có kỷ luật.

Ta đã đạt được mục đích
mà một người cư sĩ sáng suốt
mong muốn khi kiếm tài sản.
Ta không hối hận về những gì mình đã làm.’

Một người phàm trần nhớ lại điều này
đứng vững trong giáo pháp của bậc thánh.
Họ được người sáng suốt ca ngợi trong đời này,
và họ ra đi để vui hưởng ở cõi trời."

V. Phẩm Vua Munda

(I) (41) Trở Thành Giàu

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng tài sản.

3. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

4. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mổ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Các tai họa từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an toàn cho vị ấy. Ðây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

5. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Ðây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

6. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự mình, đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới chư Thiên, được quả dị thục, đưa đến cõi trời. Ðây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản.

7. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ tử gầy dựng tài sản với năm lý do này, khi tài sản đi đến hoại diệt, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do để gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến hoại diệt”, vị ấy không có hối hận. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ gầy dựng tài sản với năm lý do này, nếu tài sản ấy đi đến tăng trưởng, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến tăng trưởng”. Như vậy, cả hai phương diện, vị ấy không có hối hận.

Tài sản được thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa.
Là cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Dành cho bậc trì giới
Bậc tự điều, Phạm hạnh.
Mục đích gì bậc Trí,
Trú nhà, cầu tài sản,
Mục đích ấy ta đạt,
Ðược làm không hối hận.
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên Thánh pháp,
Ðời này được tán thán,
Ðời sau được hoan hỉ,
Trên cảnh giới chư Thiên.

AN 5.42 Bậc Chân Nhân Sappurisasutta

"Này các Tỳ kheo, một bậc chân nhân (true person / người chân chính) sinh ra trong một gia đình vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc (benefit, welfare, and happiness / điều tốt, sự an vui, và niềm vui) của mọi người. Vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của cha mẹ; con cái và vợ/chồng; người hầu, công nhân, và nhân viên; bạn bè và đồng nghiệp; và các sa môn và bà la môn.

Giống như một đám mây mưa lớn, nuôi dưỡng tất cả mùa màng vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của mọi người. Cũng vậy, một bậc chân nhân sinh ra trong một gia đình vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của mọi người…

Chư thiên bảo hộ người được Pháp bảo hộ,
người dùng tài sản của mình vì phúc lợi của nhiều người.
Người có học thức,
với giới và hạnh còn nguyên vẹn,
vững vàng trong Pháp, không mất danh tiếng.

Vững vàng trong Pháp, thành tựu giới hạnh,
chân thật, có lương tâm (conscientious / biết xấu hổ tội lỗi);
như mặt dây chuyền bằng vàng sông Jambu,
ai đáng để chỉ trích họ?
Ngay cả chư thiên cũng ca ngợi họ,
và bởi Phạm Thiên nữa, họ cũng được ca ngợi."

(II) (42) Bậc Chân Nhân

1. - Bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.

2. Này các Tỷ-kheo, ví như trận mưa lớn đem lại các mùa gặt được nhiều chín muồi, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân sanh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.

Vì hạnh phúc nhiều người,
Hãy gầy dựng tài sản,
Chư Thiên bảo vệ người
Biết bảo vệ đúng pháp,
Tiếng tốt không từ bỏ,
Người được học, nghe nhiều,
Ðầy đủ các cấm giới,
An trú trên Chánh pháp.
Ai có thể chỉ trích,
Bậc trú pháp, trì giới,
Bậc nói thật, tàm quý,
Như trang sức vàng ròng?
Chư Thiên khen người ấy,
Phạm Thiên cũng tán thán.

AN 5.43 Đáng Ưa Thích Iṭṭhasutta

Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, có năm điều này, đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng (likable, desirable, and agreeable / điều được yêu thích, mong đợi, và chấp nhận) nhưng khó được (hard to get / khó đạt được) trên thế gian. Năm điều nào? Trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, danh tiếng, và cõi trời. Đây là năm điều, đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng, nhưng khó được trên thế gian.

Và Ta nói rằng năm điều này không có được bằng cách cầu nguyện hay mong ước. Nếu có được bằng cách đó, thì ai lại thiếu chúng?

Một thánh đệ tử muốn sống lâu không nên cầu nguyện cho điều đó, hay hy vọng vào điều đó, hay khao khát điều đó. Thay vào đó, vị ấy nên thực hành con đường dẫn đến trường thọ. Vì bằng cách thực hành con đường đó, vị ấy đạt được trường thọ như một vị trời hay một con người.

Một thánh đệ tử muốn có sắc đẹp không nên cầu nguyện cho điều đó, hay hy vọng vào điều đó, hay khao khát điều đó. Thay vào đó, vị ấy nên thực hành con đường dẫn đến sắc đẹp. Vì bằng cách thực hành con đường đó, vị ấy đạt được sắc đẹp như một vị trời hay một con người.

Một thánh đệ tử muốn có hạnh phúc không nên cầu nguyện cho điều đó, hay hy vọng vào điều đó, hay khao khát điều đó. Thay vào đó, vị ấy nên thực hành con đường dẫn đến hạnh phúc. Vì bằng cách thực hành con đường đó, vị ấy đạt được hạnh phúc như một vị trời hay một con người.

Một thánh đệ tử muốn có danh tiếng không nên cầu nguyện cho điều đó, hay hy vọng vào điều đó, hay khao khát điều đó. Thay vào đó, vị ấy nên thực hành con đường dẫn đến danh tiếng. Vì bằng cách thực hành con đường đó, vị ấy đạt được danh tiếng như một vị trời hay một con người.

Một thánh đệ tử muốn lên cõi trời không nên cầu nguyện cho điều đó, hay hy vọng vào điều đó, hay khao khát điều đó. Thay vào đó, vị ấy nên thực hành con đường dẫn đến cõi trời. Vì bằng cách thực hành con đường đó, vị ấy đạt được cõi trời, vị ấy là người đạt được các cõi trời.

Đối với người mong muốn một dòng chảy liên tục
của những niềm vui đặc biệt
trường thọ, sắc đẹp, danh tiếng và uy tín,
cõi trời, và sinh vào gia đình cao quý

người sáng suốt ca ngợi sự siêng năng
trong việc làm phước.
Nhờ siêng năng, người sáng suốt
đảm bảo cả hai lợi ích:

lợi ích trong đời này,
và trong các đời sau.
Người chú tâm, hiểu rõ ý nghĩa,
được gọi là ‘người sáng suốt’."

(III) (43) Khả Lạc

1. Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Có năm pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?

Tuổi thọ khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; dung sắc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; an lạc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; tiếng đồn tốt khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; cõi trời khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.

Này Gia chủ, năm pháp này, khả lạc, khả ý khó tìm được ở đời. Này Gia chủ, năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, Ta tuyên bố không phải do nhân cầu xin, không phải do nhân ước vọng mà có được. 3. Này Gia chủ, nếu năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ai ở đời này lại héo mòn vì một lẽ gì? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng, không có thể do cầu xin thọ mạng hay tán thán để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường dẫn đến thọ mạng. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến thọ mạng, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được thọ mạng, vị ấy nhận lãnh được thọ mạng hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.

4. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc, không có thể do cầu xin dung sắc hay tán thán để làm nhân đem lại dung sắc. Vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc cần phải thực hành con đường dẫn đến dung sắc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến dung sắc, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được dung sắc, vị ấy nhận lãnh được dung sắc hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.

5. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có an lạc, không có thể do cầu xin an lạc hay tán thán để làm nhân đem đến an lạc. Vị Thánh đệ tử muốn có an lạc cần phải thực hành con đường dẫn đến an lạc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến an lạc, sự thực hành ấy đưa đến vị ấy nhận lãnh được an lạc, vị ấy nhận lãnh được an lạc hoặc chư Thiên, hoặc loài Người.

6. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt, không có thể do cầu xin tiếng tốt hay tán thán để làm nhân đem đến tiếng tốt. Vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt cần phải thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt, vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt hoặc chư Thiên, hoặc loài Người

7. Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có được Thiên giới, không có do cầu xin Thiên giới hay tán thán để làm nhân đem đến Thiên giới. Vị thánh đệ tử muốn có Thiên giới cần phải thực hành con đường dẫn đến Thiên giới. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến Thiên giới, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được Thiên giới, vị ấy nhận lãnh được Thiên giới.

Thọ mạng và dung sắc,
Tiếng tốt và danh vọng,
Thiên giới và quý tộc,
Ðược người đời ngày đêm,
Luôn luôn và rộng mở,
Cầu xin và cầu nguyện.
Còn bậc Hiền tán thán,
Không phóng dật phước hành,
Bậc Hiền không phóng dật,
Chứng được hai lợi ích,
Lợi ích ngay hiện tại,
Và lợi ích đời sau,
Vị nào thực hiện được,
Lợi ích và mục đích,
Vị ấy đáng được gọi,
Bậc Trí giả, Hiền giả.

AN 5.44 Đáng Hài Lòng Manāpadāyīsutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Rừng Lớn, trong giảng đường có mái nhọn. Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Ugga ở Vesālī, nơi ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Rồi Ugga đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với ngài: “Bạch Thế Tôn, con đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Người cho vật đáng hài lòng (agreeable / làm vui lòng) sẽ nhận được vật đáng hài lòng.’ Món cháo hoa sala của con là đáng hài lòng: xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn (sympathy / lòng thương xót).” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

“Bạch Thế Tôn, con đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Người cho vật đáng hài lòng sẽ nhận được vật đáng hài lòng.’ Món thịt heo nấu táo tàu của con là đáng hài lòng: xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn.” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

“… Món rau xào của con là đáng hài lòng: xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn.” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

“… Món cơm gạo trắng nấu kỹ, loại bỏ hạt đen, dùng với nhiều món canh và nước chấm của con là đáng hài lòng: xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn.” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

“… Những tấm vải từ xứ Kāsi của con là đáng hài lòng: xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn.” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

“… Chiếc giường trải thảm len—có lông dài hoặc thêu hoa—và trải tấm da nai tốt, có mái che phía trên và gối đỏ ở hai đầu này là đáng hài lòng. Nhưng, bạch Thế Tôn, con biết rằng điều này không thích hợp với Đức Phật. Tuy nhiên, tấm gỗ đàn hương này trị giá hơn một ngàn đô la. Xin Đức Phật hãy nhận lấy từ con vì lòng bi mẫn.” Vậy Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn.

Và rồi Đức Phật tùy hỷ với Ugga bằng những câu kệ tán thán này:

"Người cho vật đáng hài lòng nhận được vật đáng hài lòng,
nhiệt tình cúng dường y phục, giường nằm,
thức ăn, thức uống, và các vật dụng khác nhau
cho những người có hành vi chân thật.

Biết rằng bậc A La Hán (perfected ones / người đã hoàn thiện, đạt giác ngộ) giống như ruộng phước cho vật cúng dường,
đã dâng cúng và không giữ lại,
bậc chân nhân cho đi những gì khó cho:
người cho vật đáng hài lòng nhận được vật đáng hài lòng."

Và rồi Đức Phật, sau khi tùy hỷ với Ugga bằng những câu kệ tán thán này, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Sau một thời gian, Ugga qua đời, và được tái sinh vào một đoàn chư thiên hóa sinh (mind-made gods / các vị trời được tạo ra bởi tâm). Vào lúc đó, Đức Phật đang trú gần Sāvatthī tại vườn ông Jeta, tu viện ông Anāthapiṇḍika.

Rồi, vào lúc đêm khuya, vị trời Ugga huy hoàng, chiếu sáng toàn bộ khu vườn Jeta, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đức Phật nói với vị ấy: “Này Ugga, Ta tin rằng mọi việc đều như ý muốn của ông?”

“Bạch Thế Tôn, quả thật đúng như con mong muốn.” Rồi Đức Phật nói với Ugga bằng những câu kệ:

"Người cho vật đáng hài lòng nhận được vật đáng hài lòng,
người cho vật hàng đầu nhận được vật hàng đầu,
người cho vật tuyệt hảo nhận được vật tuyệt hảo,
người cho vật tốt nhất nhận được vật tốt nhất.

Người cho vật hàng đầu,
vật tuyệt hảo, vật tốt nhất:
họ sẽ sống lâu và có danh tiếng
bất cứ nơi nào họ tái sinh."

(VI) (44) Cho Các Vật Khả Ái

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn: 2. - Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

− Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thuê bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!

Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.

Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:

Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Ðối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Ðược ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Ðược từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý.\

Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:

− Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?

− Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.

Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:

Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh.

AN 5.45 Dòng Phước Puññābhisandasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm loại dòng phước (overflowing merit / phước báu tuôn chảy), dòng thiện lành (overflowing goodness / điều tốt lành tuôn chảy) này. Chúng nuôi dưỡng hạnh phúc và đưa đến cõi trời, trổ quả hạnh phúc và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến phúc lợi và hạnh phúc.

Năm loại nào? Khi một Tỳ kheo nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lượng (limitless immersion of heart / trạng thái tâm không giới hạn) trong khi sử dụng: y áovật thực khất thựcchỗ ởgiường và ghếdược phẩm và vật dụng cho người bệnh, dòng phước cho người cúng dường là vô lượng…

Đây là năm loại dòng phước, dòng thiện lành. Chúng nuôi dưỡng hạnh phúc, và đưa đến cõi trời, trổ quả hạnh phúc, và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến những gì đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến phúc lợi và hạnh phúc.

Khi một thánh đệ tử có được năm loại dòng phước và thiện lành này, không dễ để nắm bắt được bao nhiêu phước mà vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ của dòng phước của họ… dẫn đến hạnh phúc. Nó đơn giản được coi là một khối phước không thể tính đếm, không thể đo lường, vĩ đại.

Giống như cố gắng nắm bắt có bao nhiêu nước trong đại dương. Không dễ để nói: ‘Có bao nhiêu gallon, bao nhiêu trăm, ngàn, trăm ngàn gallon.’ Nó đơn giản được coi là một khối nước không thể tính đếm, không thể đo lường, vĩ đại.

Cũng vậy, khi một thánh đệ tử có được năm loại dòng phước và thiện lành này, không dễ để nắm bắt được bao nhiêu phước mà vị ấy có: ‘Đây là bao nhiêu dòng phước này… dẫn đến hạnh phúc.’ Nó đơn giản được coi là một khối phước không thể tính đếm, không thể đo lường, vĩ đại.

Đám đông người sử dụng các dòng sông,
và dù sông có nhiều,
tất cả đều đổ về biển sâu, đại dương bao la,
biển cả khắc nghiệtnơi chứa châu báu.

Cũng vậy, khi một người cho thức ăn, thức uống, và y phục;
và họ là người cho giường, ghế, và chiếu—
các dòng phước đổ về người sáng suốt đó,
như các dòng sông mang nước về biển."

(V) (45) Phước Ðiền

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc di thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạng phúc, an lạc. Thế nào là năm?

2. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc di thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạng phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai…

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ tinh xá của ai… hưởng thọ giường ghế của ai… hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện, là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này là món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

3. Và này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”. Vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số, vô lượng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước.” Vì rằng cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu năm nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện. món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi Trời, đưa đến khả lạc. khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”. Vì rằng cả khối thiện lớn được xem là vô số, vô lượng.

Biển lớn không hạn lượng,

Hồ lớn nhiều sợ hãi,
Là kho tàng cất giữ,
Vô số lượng châu báu,
Cũng là chỗ trú ẩn;
Vô số các loại cá,
Là chỗ các sông lớn.
Quy tựu chảy ra biển.
Cũng vậy người bố thí,
Ðồ ăn và đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Chỗ ngồi và thảm nệm,
Bậc Hiền thí như vậy,
Phước đức ùa chạy đến,
Như sông dẫn dòng nước,
Ùa chảy vào biển cả.

AN 5.46 Thành Tựu Sampadāsutta

“Này các Tỳ kheo, có năm thành tựu (accomplishments / sự đạt được). Năm thành tựu nào? Thành tựu về niềm tin, giới hạnh, học hỏi, bố thí, và trí tuệ. Đây là năm thành tựu.”

(VI) (46) Cụ Túc

− Này các Tỷ-kheo, có năm cụ túc này. Thế nào là năm? Tín cụ túc, giới cụ túc, văn cụ túc, thí cụ túc, tuệ cụ túc.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm cụ túc.

AN 5.47 Tài Sản Dhanasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm loại tài sản này. Năm loại nào? Tài sản niềm tin, giới hạnh, học hỏi, bố thí, và trí tuệ.

Và tài sản niềm tin là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vào sự giác ngộ của Đấng Như Lai (Realized One / người đã nhận ra chân lý): ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đây được gọi là tài sản niềm tin.

Và tài sản giới hạnh là gì? Đó là khi một thánh đệ tử không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu bia và các chất gây say. Đây được gọi là tài sản giới hạnh.

Và tài sản học hỏi là gì? Đó là khi một thánh đệ tử học rộng, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy học rất rộng về những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, suy xét kỹ trong tâm và thông hiểu về mặt lý thuyết. Đây được gọi là tài sản học hỏi.

Và tài sản bố thí là gì? Đó là khi một thánh đệ tử sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của keo kiệt, rộng rãi bố thí, bàn tay rộng mở, thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây được gọi là tài sản bố thí.

Và tài sản trí tuệ là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt cao thượng, thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây được gọi là tài sản trí tuệ.

Đây là năm loại tài sản.

Ai có niềm tin vào Đấng Như Lai,
không lay chuyển và vững chắc;
có giới hạnh tốt đẹp,
được bậc thánh ca ngợi và yêu mến;

niềm tin vào Tăng đoàn,
chánh kiến (correct view / cái thấy đúng đắn):
họ được cho là giàu có,
cuộc đời không vô ích.

Vì vậy, hãy để người trí tận tâm
với niềm tin, hành vi đạo đức,
lòng tin, và sự thấu hiểu giáo pháp,
ghi nhớ lời dạy của chư Phật."

(VII) (47) Tài Vật

1.- Này các Tỷ-kheo, có năm tài sản này. Thế nào là năm? Tín tài, giới tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín tài?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, Bậc La-hán, Chánh Ðẳng Giác,… Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới tài?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là văn tài?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe được nhiều… khéo thể nhập với tri kiến. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là văn tai. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thí tài?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thí tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ tài?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ đối với sanh diệt và sự thể nhập bậc Thánh đưa đến đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ tài.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo là năm tài sản.

Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động, khéo an trí,
Ai gìn giữ thiện giới,
Thánh ái mộ tán thán.
Ai tịnh tín chúng Tăng,
Ðược thấy bậc Chánh trực,
Người ấy gọi không nghèo,
Mạng sống không trống không.
Do vậy, tín và giới,
Tịnh tín thấy Chánh pháp,
Bậc trí tâm chuyên chú,
Nhớ đến lời Phật dạy.

AN 5.48 Những Điều Không Thể Có Được Alabbhanīyaṭhānasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm điều không thể có được bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên nào hay bởi bất kỳ ai trên thế gian. Năm điều nào? Rằng người phải chịu già sẽ không già đi. … Rằng người phải chịu bệnh sẽ không bị bệnh. … Rằng người phải chịu chết sẽ không chết. … Rằng người phải chịu chấm dứt sẽ không chấm dứt. … Rằng người phải chịu hoại diệt sẽ không hoại diệt. …

Một kẻ phàm phu ít học (unlearned ordinary person / người thường không hiểu biết) có người phải chịu già mà người đó già đi. Nhưng họ không suy ngẫm về tuổi già: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu già mà người đó già đi. Chừng nào chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu già mà người đó già đi. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu già già đi, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu già già đi, họ sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là kẻ phàm phu ít học bị trúng mũi tên độc của sầu muộn, kẻ chỉ tự hành hạ mình.

Lại nữa, một kẻ phàm phu ít học có người phải chịu bệnh… chết… chấm dứt… hoại diệt. Nhưng họ không suy ngẫm về sự hoại diệt: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu hoại diệt hoại diệt, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu hoại diệt hoại diệt, họ sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là kẻ phàm phu ít học bị trúng mũi tên độc của sầu muộn, kẻ chỉ tự hành hạ mình.

Một thánh đệ tử có học (learned noble disciple / người đệ tử bậc thánh có hiểu biết) có người phải chịu già mà người đó già đi. Vì vậy, vị ấy suy ngẫm về tuổi già: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu già mà người đó già đi. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu già mà người đó già đi. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu già già đi, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu già già đi, vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là thánh đệ tử có học đã nhổ ra mũi tên độc của sầu muộn, mà kẻ phàm phu ít học bị trúng chỉ tự hành hạ mình. Không sầu muộn, không gai góc, thánh đệ tử đó chỉ tự mình đạt Niết Bàn.

Lại nữa, một thánh đệ tử có học có người phải chịu bệnh… chết… chấm dứt… hoại diệt. Vì vậy, vị ấy suy ngẫm về sự hoại diệt: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu hoại diệt hoại diệt, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu hoại diệt hoại diệt, vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là thánh đệ tử có học đã nhổ ra mũi tên độc của sầu muộn, mà kẻ phàm phu ít học bị trúng chỉ tự hành hạ mình. Không sầu muộn, không gai góc, thánh đệ tử đó chỉ tự mình đạt Niết Bàn.

Đây là năm điều không thể có được bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên nào hay bởi bất kỳ ai trên thế gian.

Sầu muộn và than khóc
không mang lại chút lợi ích nào.
Khi họ biết bạn buồn,
kẻ thù của bạn được khuyến khích.

Khi người sáng suốt không dao động trước nghịch cảnh,
>vì họ có thể đánh giá điều gì là lợi ích,
kẻ thù của họ đau khổ,
thấy rằng vẻ mặt bình thường của họ không thay đổi.

Tụng niệm, trì chú, lời hay ý đẹp,
bố thí hay truyền thống:
nếu bằng bất kỳ phương tiện nào như vậy bạn được lợi ích,
thì hãy cứ tiếp tục làm chúng.

Nhưng nếu bạn hiểu rằng ‘điều tốt đẹp này
không thể có được bởi ta hay bởi bất kỳ ai khác’,
bạn nên chấp nhận nó mà không sầu muộn, suy nghĩ:
Nghiệp thật mạnh mẽ. Ta có thể làm gì bây giờ?’"

(VIII). (48) Sự Kiện Không Thể Có Ðược

1.- Này các Tỷ-kheo, có năm sự kiện này không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

2. Phải bị già, muốn khỏi già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Phải bị bệnh, muốn không bệnh… Phải bị chết, muốn không chết… Phải hoại diệt, muốn không hoại diệt… Phải bị tiêu diệt, muốn không tiêu diệt. là một sự kiện không thể có dược bởi một Sa môn hay Bà la môn, bởi Ma hay Phạm Thiên, hay bởi một ai ở đời.

3. Với kẻ phàm phu không học, này các Tỷ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến, nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não. 4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với kẻ phàm phu, không học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến, nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học, bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.

5. Với vị Thánh đệ tử có học, này các Tỷ-kheo. phải bị già và già đến; khi già đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già, và già đến. Và nếu phải bị già và già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn:. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình được hoàn toàn tịch tịnh.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử có học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến…phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến. không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự mình làm ưu não. Không sầu muộn, không bị bắn tên, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình hoàn toàn tịch tịnh.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

Chớ sầu, chớ than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt rung sợ,
Biết phân tích, lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụng niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chân chánh,
Với truyền thống khéo giữ.
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắn tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?

AN 5.49 Vua Nước Kosala Kosalasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại vườn ông Jeta, tu viện ông Anāthapiṇḍika. Rồi Vua Pasenadi nước Kosala đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên.

Rồi một người đàn ông đến gần vua và thì thầm vào tai ông, “Tâu Bệ hạ, Hoàng hậu Mallikā đã băng hà.”

Khi nghe điều này, Vua Pasenadi đau khổ và buồn bã. Ông ngồi với vai rũ xuống, cúi đầu, chán nản, không nói nên lời.

Biết được điều này, Đức Phật nói với ông: “Đại vương, có năm điều không thể có được bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên nào hay bởi bất kỳ ai trên thế gian. Năm điều nào? Rằng người phải chịu già sẽ không già đi. … Sầu muộn và than khóc không mang lại chút lợi ích nào … ‘Nghiệp thật mạnh mẽ. Ta có thể làm gì bây giờ?’”

(IX) (49) Người Kosala

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), khu vườn ông Anàthapindika. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Lúc bấy giờ hoành hậu Mallikà mệnh chung. Rồi một người đi đến Pasenadi nước Kosala; sau khi đến, báo tin kề bên tai vua Pasenadi nước Kosala: “Tâu Ðại vương, hoàng hậu Mallikà đã mệnh chung”. Ðược nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala khổ đau, ưu tư, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói nên lời. Rồi Thế Tôn biết được vua Pasenadi nước Kosala đang đau khổ, ưu tư, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói nên lời, liền nói với vua Pasenadi nước Kosala:

2. - Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

… (Hoàn toàn giống như kinh trước cho đến câu: “… Phải kiên trì thế nào”, với những thay
đổi cần thiết nếu có…).

AN 5.50 Cùng Nārada Nāradasutta

Một thời Tôn giả Nārada trú gần Pāṭaliputta, tại Tu viện Kê Viên (Chicken Monastery).

Bấy giờ, Hoàng hậu Bhaddā thân yêu và quý mến của Vua Muṇḍa vừa mới qua đời. Và kể từ đó, nhà vua không tắm rửa, xức dầu thơm, ăn uống, hay lo việc triều chính. Ngày đêm ông đau buồn bên thi hài Hoàng hậu Bhaddā.

Rồi Vua Muṇḍa nói với Piyaka, người giữ kho:

“Này Piyaka hiền lành, hãy đặt thi hài Hoàng hậu Bhaddā vào một quan tài sắt chứa đầy dầu. Rồi đậy lại bằng một cái nắp khác, để chúng ta có thể nhìn ngắm thi hài Hoàng hậu Bhaddā lâu hơn nữa.”

“Tâu Bệ hạ, vâng,” Piyaka đáp, và ông làm theo lời vua chỉ dẫn.

Rồi Piyaka nảy ra ý nghĩ: “Hoàng hậu Bhaddā thân yêu và quý mến của Vua Muṇḍa đã qua đời. Kể từ đó, nhà vua không tắm rửa, xức dầu thơm, ăn uống, hay lo việc triều chính. Ngày đêm ông đau buồn bên thi hài Hoàng hậu Bhaddā. Bây giờ, vị sa môn hay bà la môn nào mà nhà vua có thể đảnh lễ, mà giáo pháp của vị ấy có thể giúp nhà vua từ bỏ mũi tên sầu muộn?”

Rồi Piyaka nảy ra ý nghĩ: “Tôn giả Nārada này đang trú tại Tu viện Kê Viên ở Pāṭaliputta. Ngài có tiếng tăm tốt đẹp này: ‘Ngài sáng suốt, tài năng, thông minh, học rộng, nhà hùng biện xuất sắc, nói năng lưu loát, chín chắn, một bậc A La Hán.’ Nếu Vua Muṇḍa đảnh lễ Tôn giả Nārada thì sao? Hy vọng khi nghe giáo pháp của Nārada, nhà vua có thể từ bỏ mũi tên sầu muộn.”

Rồi Piyaka đến gặp vua và nói với ông: “Thưa đức vua, Tôn giả Nārada này đang trú tại Tu viện Kê Viên ở Pāṭaliputta. Ngài có tiếng tăm tốt đẹp này: ‘Ngài sáng suốt, tài năng, thông minh, học rộng, nhà hùng biện xuất sắc, nói năng lưu loát, chín chắn, một bậc A La Hán.’ Nếu Bệ hạ đảnh lễ Tôn giả Nārada thì sao? Hy vọng khi nghe giáo pháp của Nārada, ngài có thể từ bỏ mũi tên sầu muộn.”

“Vậy thì, Piyaka hiền lành, hãy báo cho Nārada biết. Vì làm sao một người như ta lại dám đến thăm một sa môn hay bà la môn trong vương quốc của mình mà không báo trước cho họ biết?”

“Tâu Bệ hạ, vâng,” Piyaka đáp. Ông đến gặp Nārada, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với ngài: “Bạch Tôn giả, Hoàng hậu Bhaddā thân yêu và quý mến của Vua Muṇḍa đã qua đời. Và kể từ khi bà qua đời, nhà vua đã không tắm rửa, xức dầu thơm, ăn uống, hay lo việc triều chính. Ngày đêm ông đau buồn bên thi hài Hoàng hậu Bhaddā. Bạch Tôn giả, xin hãy dạy cho nhà vua để khi nghe giáo pháp của ngài, ông có thể từ bỏ mũi tên sầu muộn.”

“Này Piyaka, xin hãy để nhà vua đến khi nào ngài muốn.”

Rồi Piyaka đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Tôn giả Nārada theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi đến gặp vua và nói: “Thưa đức vua, lời thỉnh cầu diện kiến Tôn giả Nārada đã được chấp thuận. Xin Bệ hạ hãy đến vào lúc thuận tiện.”

“Vậy thì, Piyaka hiền lành, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất.”

“Tâu Bệ hạ, vâng,” Piyaka đáp. Ông làm vậy, rồi báo cho vua:

“Thưa đức vua, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng. Xin Bệ hạ hãy đến vào lúc thuận tiện.”

Rồi Vua Muṇḍa lên một cỗ xe tốt và, cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành với đầy đủ nghi lễ hoàng gia để gặp Tôn giả Nārada tại Tu viện Kê Viên. Ông đi xe ngựa đến nơi địa hình cho phép, rồi xuống xe và đi bộ vào tu viện. Rồi nhà vua đến gặp Nārada, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Rồi Nārada nói với ông:

"Đại vương, có năm điều không thể có được bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên nào hay bởi bất kỳ ai trên thế gian. Năm điều nào? Rằng người phải chịu già sẽ không già đi. … Rằng người phải chịu bệnh sẽ không bị bệnh. … Rằng người phải chịu chết sẽ không chết. … Rằng người phải chịu chấm dứt sẽ không chấm dứt. … Rằng người phải chịu hoại diệt sẽ không hoại diệt. …

Một kẻ phàm phu ít học có người phải chịu già mà người đó già đi. Nhưng họ không suy ngẫm về tuổi già: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu già mà người đó già đi. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu già mà người đó già đi. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu già già đi, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu già già đi, họ sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là kẻ phàm phu ít học bị trúng mũi tên độc của sầu muộn, kẻ chỉ tự hành hạ mình.

Lại nữa, một kẻ phàm phu ít học có người phải chịu bệnh… chết… chấm dứt… hoại diệt. Nhưng họ không suy ngẫm về sự hoại diệt: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu hoại diệt hoại diệt, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu hoại diệt hoại diệt, họ sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là kẻ phàm phu ít học bị trúng mũi tên độc của sầu muộn, kẻ chỉ tự hành hạ mình.

Một thánh đệ tử có học có người phải chịu già mà người đó già đi. Vì vậy, vị ấy suy ngẫm về tuổi già: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu già mà người đó già đi. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu già mà người đó già đi. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu già già đi, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu già già đi, vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là thánh đệ tử có học đã nhổ ra mũi tên độc của sầu muộn, mà kẻ phàm phu ít học bị trúng chỉ tự hành hạ mình. Không sầu muộn, không gai góc, thánh đệ tử đó chỉ tự mình đạt Niết Bàn.

Lại nữa, một thánh đệ tử có học có người phải chịu bệnh… chết… chấm dứt… hoại diệt. Vì vậy, vị ấy suy ngẫm về sự hoại diệt: ‘Không chỉ riêng ta có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Chừng nào chúng sinh còn đến và đi, chết đi và tái sinh, tất cả họ đều có người phải chịu hoại diệt mà người đó hoại diệt. Nếu ta sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang, chỉ vì người phải chịu hoại diệt hoại diệt, ta sẽ chán ăn và vẻ ngoài tiều tụy. Công việc không hoàn thành, kẻ thù được khuyến khích, bạn bè nản lòng.’ Và vì thế, khi người phải chịu hoại diệt hoại diệt, vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang. Đây được gọi là thánh đệ tử có học đã nhổ ra mũi tên độc của sầu muộn, mà kẻ phàm phu ít học bị trúng chỉ tự hành hạ mình. Không sầu muộn, không gai góc, thánh đệ tử đó chỉ tự mình đạt Niết Bàn.

Đây là năm điều không thể có được bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên nào hay bởi bất kỳ ai trên thế gian.

Sầu muộn và than khóc
không mang lại chút lợi ích nào.
Khi họ biết bạn buồn,
kẻ thù của bạn được khuyến khích.

Khi người sáng suốt không dao động
>trước nghịch cảnh,
vì họ có thể đánh giá điều gì là lợi ích,
kẻ thù của họ đau khổ,
thấy rằng vẻ mặt bình thường của họ không thay đổi.

Tụng niệm, trì chú, lời hay ý đẹp,
bố thí hay truyền thống:
nếu bằng bất kỳ phương tiện nào như vậy bạn được lợi ích,
thì hãy cứ tiếp tục làm chúng.

Nhưng nếu bạn hiểu rằng ‘điều tốt đẹp này
không thể có được bởi ta hay bởi bất kỳ ai khác’,
bạn nên chấp nhận nó mà không sầu muộn, suy nghĩ:
‘Nghiệp thật mạnh mẽ. Ta có thể làm gì bây giờ?’"

Khi ngài nói điều này, Vua Muṇḍa nói với Tôn giả Nārada: “Bạch Tôn giả, tên của bài pháp này là gì?”

“Đại vương, bài pháp này được gọi là ‘Nhổ Mũi Tên Sầu Muộn’.”

“Quả thật, bạch Tôn giả, đây là sự nhổ bỏ mũi tên sầu muộn! Nghe bài pháp này, con đã từ bỏ mũi tên sầu muộn.”

Rồi Vua Muṇḍa nói với Piyaka, người giữ kho: “Vậy thì, Piyaka hiền lành, hãy hỏa táng thi hài Hoàng hậu Bhaddā và xây một bảo tháp. Kể từ ngày hôm nay, ta sẽ tắm rửa, xức dầu thơm, ăn uống, và lo việc triều chính.”

(X) (50) Tôn Giả Nàrada

1. Một thời, Tôn giả Nàrada trú ở Pàtaliputta tại khu vườn Kukkuta (Kê Viên). Lúc bấy giờ, hoàng hậu Bhaddà của vua Munda mệnh chung, được ái luyến thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Rồi vua Munda bảo Piyaka, người giữ kho bạc:

  • Này Piyaka, hãy đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đựng đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác; nhờ vậy chúng ta có thể thấy thân hoàng hậu Bhaddà lâu hơn.

  • Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Piyaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đều đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác. Rồi Piyaka, vị giữ kho bạc cho vua nghĩ như sau: “Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda này đã mệnh chung, được ái luyến thương yêu, vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Hãy để vua Munda đến yết kiến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi nghe pháp từ vị ấy, có thể bỏ được mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc nghĩ như sau: “Có Tôn giả Nàrada này trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Hãy để vua Munda đến yết kiến Tôn giả Nàrada. Sau khi nghe pháp từ vị ấy, vua có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc đi đến vua Munda, sau khi đến, nói với vua Munda:

-Tâu Ðại vương, có Tôn giả Nàrada nay trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Nếu Ðại vương yết kiến Tôn giả Nàrada, rất có thể, sau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, Ðại vương có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

− Vậy này Piyaka, hãy tin cho Tôn giả Nàrada được biết.

Rồi vua nghĩ: “Làm sao ta tự nghĩ, một người như ta, phải đến thăm như thế nào một Samôn hay Bà-la-môn sống ở trong quốc độ, từ trước chưa được ai biết?”

− Thưa vâng, tâu Ðại vương

Pijaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda; đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrasa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Piyaka, vị giữ kho bạc bạch Tôn giả Nàrada:

Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda, thưa Tôn giả, đã mệnh chung, được ái luyến, thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, nên vua không tắm, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân hoàng hậu Bhaddà. Lành thay, Nếu Tôn giả Nàrada thuyết pháp cho vua Munda như thế nào để vua Mundasau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

− Này Piyaka, nay là thời để vua Munda làm những gì vua nghĩ là phải thời.

Rồi Piyaka, người giữ kho bạc, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tôn giả Nàrada, thân bên hữu hướng về ngài rồi ra đi, và đi đến vua Munda; sau khi đến, thưa với vua Munda:

− Tâu Ðại vương, cơ hội đã được sắp đặt với Tôn giả Nàrada. Này Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

− Vậy này Piyaka, hãy cho thắng các cỗ xe tốt đẹp.

− Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Pikaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, cho thắng các cỗ xe tốt đẹp, rồi thưa với vua Munda:

− Tâu Ðại vương, các cỗ xe tốt đẹp đã thắng xong. Nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

2. Rồi vua Munda leo lên cỗ xe tốt đẹp, cùng với các cỗ xe tốt đẹp khác đi đến khu vườn Kukkuta với uy nghi oai lực của nhà vua để yết kiến Tôn giả Nàrada. Vua đi xe xa cho đến đường đất xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ vào khu vườn. Rồi vua Munda đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrada rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nàrada nói với vua đang ngồi một bên.

− Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn, hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

3. Bị già và muốn không già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-lamôn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Bị bệnh và muốn không bệnh… bị chết và muốn không chết… bị hoại diệt và muốn không hoại diệt… bị hoại diệt và muốn không tiêu diệt, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

4. Với phàm phu không học, thưa Ðại vương, phải bị già và già đến; và khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống, không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại Vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trùng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.

5. Lại nữa, thưa Ðại vương, với kẻ phàm phu không học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, vị ấy tự làm mình ưu não.

6. Với vị Thánh đệ tử có học, thưa Ðại vương, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi; có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngựa, không đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn trúng, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.

7. Lại nữa, thưa Ðại vương, với vị Thánh đệ tử có học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.

Các pháp này, thưa Ðại vương, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-lamôn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.

Không sầu, không than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt run sợ,
Biết phân tích lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụ niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chơn chánh,
Với truyền thống khéo giữ,
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắn tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?

8. Sau khi được nghe như vậy, vua Munda thưa với Tôn giả Nàrada:

− Thưa Tôn giả, pháp thoại này tên gì?

− Thưa Ðại vương, pháp thoại này tên là “Nhổ lên mũi tên sầu muộn”.

− Thật vậy, thưa Tôn giả, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn! Khi con nghe pháp thoại này, mũi tên sầu muộn đã được đoạn tận.

Rồi vua Munda bảo Piyaka, vị gìn giữ kho bạc:

− Này Piyaka, hãy cho thiêu đốt thân của hoàng hậu Bhaddà, rồi xây tháp cho hoàng hậu. Bắt đầu từ hôm sau, chúng ta sẽ tắm rửa, sẽ thoa dầu, sẽ ăn cơm, sẽ lo làm các công việc.