Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về trói buộc

AN 5.51 Chướng Ngại Āvaraṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Đức Phật dạy như sau:

"Này các Tỷ-kheo, có năm trói buộc (obstacles and hindrances / triền cái / những thứ che lấp tâm trí) và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt (parasites of the mind that weaken wisdom / những thứ làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ suy yếu). Năm loại ấy là gì? Dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc)… Tức giận (ill will / tức giận)… Uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ)… Bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận)… Nghi (doubt / sự nghi ngờ)… Đây là năm trói buộc và chướng ngại, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt.

Hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ yếu ớt và suy nhược, chưa từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Không thể nào vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Ví như có một dòng sông trên núi chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ. Nhưng rồi một người mở các kênh dẫn nước ở hai bên bờ, khiến dòng chảy giữa sông bị phân tán, chuyển hướng và chia cắt. Dòng sông sẽ không còn chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ nữa.

Cũng vậy, hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ yếu ớt và suy nhược, chưa từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Không thể nào vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ mạnh mẽ, đã từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Hoàn toàn có thể vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Ví như có một dòng sông trên núi chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ. Nhưng rồi một người đóng các kênh dẫn nước ở hai bên bờ, khiến dòng chảy giữa sông không bị phân tán, chuyển hướng và chia cắt. Dòng sông sẽ tiếp tục chảy xiết đi xa, cuốn trôi mọi thứ.

Cũng vậy, hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ mạnh mẽ, đã từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Hoàn toàn có thể vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh."

VI. Phẩm Triền Cái

(I) (51) Ngăn Chặn

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Có năm chướng ngại, triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?

3. Dục tham, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái boa phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm làm yếu ớt trí tuệ. Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Nghi, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.

4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Không có sức mạnh, và trí tuệ yếu kém, sẽ biết lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, hay sẽ chứng ngộ được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông chảy, từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh cuốn trôi mọi vật. Rồi có người lấy cày mở hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa bị trở ngại, tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Không có sức mạnh và trí tuệ yếu kém, sẽ biết được lợi ích của mình, của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, trí kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.

5. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy, sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Có sức mạnh và có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay sẽ biết được lợi ích cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Có người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa không bị trở ngại, không có chảy tràn, không bị chuyển hướng, chảy được thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh, có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích mình hay sẽ biết được lợi người, hay có thể biết lợi cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù, thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.

AN 5.52 Đống Bất Thiện Akusalarāsisutta

“Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách đúng đắn, người ta gọi năm trói buộc là một ‘đống bất thiện’ (heap of the unskillful / tập hợp những điều xấu ác). Vì năm trói buộc này hoàn toàn là một đống bất thiện. Năm loại ấy là gì? trói buộc dục tham, tức giận, uể oải sao nhãng và buồn ngủ, bồn chồn lo lắng và hối hận, và nghi. Nếu nói một cách đúng đắn, người ta gọi năm trói buộc này là một ‘đống bất thiện’. Vì năm trói buộc này hoàn toàn là một đống bất thiện.”

(II) (52) Ðống

1. - Nói đến một đống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, toàn bộ đống triền cái. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, toàn bộ đống bất thiện tức là năm triền cái. Thế nào là năm?

2. Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái.

Nói đến một đống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, toàn bộ đống bất tiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái.

AN 5.53 Các Yếu Tố Hỗ Trợ Tinh Cần Padhāniyaṅgasutta

"Này các Tỷ-kheo, có năm chi phần hỗ trợ tinh cần (factors that support meditation / yếu tố giúp nỗ lực tu tập) này. Năm loại ấy là gì?

Đó là khi một vị Tỷ-kheo có niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

Vị ấy ít bệnh, ít não. Bộ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá nóng không quá lạnh, quân bình, thích hợp cho sự tinh cần.

Vị ấy không xảo trá, lừa lọc. Vị ấy thể hiện mình một cách chân thật với Bậc Đạo Sư hay các vị đồng tu có trí.

Vị ấy sống siêng năng nỗ lực từ bỏ các pháp bất thiện, vun bồi các pháp thiện. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì, không lười biếng trong việc phát triển các pháp thiện.

Vị ấy có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thâm nhập, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Đó là năm chi phần hỗ trợ tinh cần."

(III) (53) Các Chi Phần

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm chi phần tinh cần này. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc. Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Ngài ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với tinh tấn. Ngài không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Ngài sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tự các thiện pháp, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Ngài có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt (của các Pháp), thành tựu thánh thể nhập, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.”

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chi phần tinh cần.

AN 5.54 Thời Điểm Thích Hợp Cho Tinh Cần Samayasutta

"Này các Tỷ-kheo, có năm thời điểm không thích hợp cho sự tinh cần. Năm loại ấy là gì?

Thứ nhất, một vị Tỷ-kheo già yếu, bị tuổi già chi phối. Đây là thời điểm thứ nhất không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, một vị Tỷ-kheo bệnh tật, bị bệnh tật chi phối. Đây là thời điểm thứ hai không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, có nạn đói, mất mùa, khó kiếm vật thực khất thực, không dễ duy trì đời sống bằng việc thu nhận vật thực. Đây là thời điểm thứ ba không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, có nguy hiểm do loạn lạc ở vùng biên địa, dân chúng trong xứ phải lên xe chạy trốn khắp nơi. Đây là thời điểm thứ tư không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, Tăng đoàn bị chia rẽ. Khi Tăng đoàn bị chia rẽ, họ mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở và từ bỏ lẫn nhau. Điều này không làm phát sinh niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và làm thay đổi tâm của một số người đã có niềm tin. Đây là thời điểm thứ năm không thích hợp cho sự tinh cần.

Đó là năm thời điểm không thích hợp cho sự tinh cần.

Có năm thời điểm thích hợp cho sự tinh cần. Năm loại ấy là gì?

Thứ nhất, một vị Tỷ-kheo còn trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đầy sức trẻ, trong độ tuổi sung mãn nhất. Đây là thời điểm thứ nhất thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, vị ấy ít bệnh, ít não. Bộ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá nóng không quá lạnh, quân bình, thích hợp cho sự tinh cần. Đây là thời điểm thứ hai thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, vật thực dồi dào, được mùa, dễ kiếm vật thực khất thực, dễ duy trì đời sống bằng việc thu nhận vật thực. Đây là thời điểm thứ ba thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, mọi người sống hòa hợp, quý mến nhau, không cãi cọ, hòa thuận như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thiện cảm. Đây là thời điểm thứ tư thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, Tăng đoàn sống thoải mái, hòa hợp, quý mến nhau, không cãi cọ, cùng chung một lời dạy. Khi Tăng đoàn hòa hợp, họ không mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở hay từ bỏ lẫn nhau. Điều này làm phát sinh niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và làm tăng trưởng niềm tin nơi những người đã có niềm tin. Đây là thời điểm thứ năm thích hợp cho sự tinh cần.

Đó là năm thời điểm thích hợp cho sự tinh cần."

(IV) (54) Thời Gian Ðể Tinh Cần

1.- Có năm phi thần để tinh cần, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo già yếu, bị già chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ nhất để tinh cần.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo bệnh hoạn, bị bệnh hoạn chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ hai để tinh cần.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi có nạn đói, mất mùa, đồ ăn khất thực khó được, không dễ gì để nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Này các Tỷ-kheo, đây là thời gian phi thời thứ ba để tinh cần. 5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có sự sợ hãi về giặc cướp rừng, dân chúng trong nước leo lên xe đi trốn. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ tư để tinh cần.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo, có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau, có sự kết tội lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín, không tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín có thể đổi khác. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ năm để tinh cần.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm phi thời để tinh cần.

7. Này các Tỷ-kheo, có năm đúng thời này để tinh cần. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ nhất để tinh cần.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, hợp với tinh tấn. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ hai để tinh cần.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ăn uống được đấy đủ, được mùa, đồ ăn khất thực kiếm được thật dễ dàng để nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ ba để tinh cần.

11. Lại nữa, này các Tỷ kheo, các Thầy sống với nhau thuận hoà, thân hữu, không cãi lộn nhau, hoà hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Này các Tỷ kheo, đây là đúng thời thứ tư để tinh cần.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng hoà hợp, cùng nhau hòa hợp, không tranh luận nhau, sống thoải mái cùng chung một lời dạy. Này các Tỷ-kheo, giữa chúng Tăng hòa hợp, không có mắng nhiếc lẫn nhau, không có đấu khẩu lẫn nhau, không có kết tội lẫn nhau, không có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ở đây, những ai không có tịnh tín, tìm được tịnh tín, những ai có tịnh tín, được tăng trưởng nhiều hơn. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thú năm để tinh cần.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm đúng thời để tinh cần.

AN 5.55 Mẹ và Con Trai Mātāputtasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, có hai mẹ con cùng nhập hạ tại Sāvatthī, một vị là Tỷ-kheo, một vị là Tỷ-kheo-ni. Họ muốn thường xuyên gặp nhau. Người mẹ muốn thường gặp con trai, và người con trai cũng muốn thường gặp mẹ. Do thường gặp nhau, họ trở nên thân thiết. Do thân thiết, họ trở nên gần gũi. Và do gần gũi, dục vọng xâm chiếm họ. Với tâm bị dục vọng nhấn chìm, không từ bỏ học pháp và tuyên bố không thể tiếp tục, họ đã hành dâm.

Rồi một số Tỷ-kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đã xảy ra.

"Này các Tỷ-kheo, làm sao kẻ ngu si đó có thể nghĩ rằng mẹ không thể ham muốn con trai, hay con trai không thể ham muốn mẹ? So với hình ảnh người nữ, Ta không thấy một hình ảnh nào khác lại quyến rũ, gợi cảm, say đắm, mê hoặc, và làm say mê đến thế, và là một trở ngại lớn đến thế để đạt được an ổn tối thượng khỏi ách buộc (supreme sanctuary from the yoke / nơi an toàn cao nhất thoát khỏi sự trói buộc). Chúng sinh tham ái, tham lam, bị trói buộc, say mê, và dính mắc vào hình ảnh người nữ. Họ đau khổ lâu dài dưới sự chi phối của hình ảnh người nữ.

So với âm thanh… mùi hương… vị… xúc chạm của người nữ, Ta không thấy một xúc chạm nào khác lại quyến rũ, gợi cảm, say đắm, mê hoặc, và làm say mê đến thế, và là một trở ngại lớn đến thế để đạt được an ổn tối thượng khỏi ách buộc. Chúng sinh tham ái, tham lam, bị trói buộc, say mê, và dính mắc vào xúc chạm của người nữ. Họ đau khổ lâu dài dưới sự chi phối của xúc chạm người nữ.

Khi người nữ đi, nàng chiếm giữ tâm trí người nam. Khi người nữ đứng… ngồi… nằm… cười… nói… hát… khóc… bị thương, nàng chiếm giữ tâm trí người nam. Ngay cả khi người nữ đã chết, nàng vẫn chiếm giữ tâm trí người nam. Vì nếu có ai đáng được gọi đúng là ‘cạm bẫy toàn diện của Ma Vương’, thì đó chính là người nữ.

Ngươi có thể trò chuyện với kẻ cầm dao trong tay.
Ngươi thậm chí có thể trò chuyện với dạ xoa.
Ngươi có thể ngồi gần một con rắn độc,
Mà vết cắn của nó sẽ lấy mạng ngươi.
Nhưng đừng bao giờ trò chuyện
Riêng tư với một người nữ.

Họ quyến rũ kẻ thất niệm
Bằng ánh mắt và nụ cười.
Hay ăn mặc hở hang,
Họ nói lời quyến rũ.
Không tốt khi ngồi với người như vậy,
Dù nàng bị thương hay đã chết.

Năm loại kích thích giác quan này
Hiện rõ trong thân người nữ:
Hình ảnh, âm thanh, vị, mùi,
Và xúc chạm thật thú vị.

Những ai bị cuốn trôi bởi dòng lũ dục lạc,
Không hiểu rõ chúng,
Bị luân hồi chi phối—
Thời gian, cảnh giới, và đời này sang đời khác.

Nhưng những ai hiểu hoàn toàn dục lạc
Sống không sợ hãi từ bất cứ đâu.
Họ là những người trên thế gian đã vượt qua,
Đã đạt đến sự chấm dứt phiền não."

(V) (55) Mẹ Và Con

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, tại Sàvatthi, cả hai mẹ và con đều an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau. Mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con, và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ luôn luôn thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có sự thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.

2. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, tại Sàvatthi, cả hai mẹ con cùng an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau, mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ thường xuyên thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.

3.- Sao, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si này lại nghĩ rằng: “Mẹ không tham đắm con, hay con không tham đắm mẹ”? Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê, sắc đẹp của nữ nhân, chúng sẽ sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực nữ sắc.

Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một tiếng nào khác… một hương nào khác… một vị nào khác… một xúc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, cảm xúc của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.

Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói rằng: “Là bẩy mồi toàn diện của Màra”, thời người ấy đã nói một cách chơn chánh về nữ nhân, thật là “một bẩy mồi hoàn toàn của Màra”.

Hãy nói chuyện với người,
Có kiếm ở trong tay,
Nói chuyện với ác quỷ,
Hay ngồi thật gần kề.
Con rắn có nọc độc,
Bị cắn liền mệnh chung,
Nhưng chớ có một mình,
Nói chuyện với nữ nhân.
Thất niệm, họ trói lại,
Với nhìn, với nụ cười,
Với xiêm áo hở hang,
Với lời nói ngọt lịm,
Người ấy vẫn không thỏa,
Bất tỉnh bị mệnh chung.
Năm dục công đức ấy,
Ðược thấy trong nữ sắc
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Hấp dẫn và đẹp ý.
Bị thác nước dục vọng,
Tràn ngập và cuốn trôi,
Kẻ ngu si vô trí,
Không liễu tri các dục.
Loài người khi mạng chung,
Sanh thú hữu, phi hữu,
Họ phải bị dẫn đầu,
Trong nhiều kiếp luân hồi.
Ai liễu tri các dục,
Sở hành không sợ hãi,
Họ đến bờ bên kia,
Ðạt được lậu hoặc tận.

AN 5.56 Thầy Tế Độ Upajjhāyasutta

Rồi một vị Tỷ-kheo đến gặp thầy tế độ của mình và thưa: “Bạch thầy, nay thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp.”

Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn đệ tử của mình đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: ‘Bạch thầy, nay thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp.’”

"Này Tỷ-kheo, sự việc là như vậy khi các căn của con không được phòng hộ, con không tiết độ trong ăn uống, con không chuyên tâm vào sự tỉnh thức, con không thể nhận biết các pháp thiện, và con không theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông. Thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp.

Vậy con nên tu tập như thế này: ‘Ta sẽ phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, nhận biết các pháp thiện, và theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông.’ Đó là cách con nên tu tập."

Khi vị Tỷ-kheo ấy được Đức Phật khuyên dạy như vậy, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, đi quanh Ngài theo chiều bên phải rồi ra đi.

Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí, không lâu sau, tự mình chứng ngộ, đạt được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã thành tựu với trí tuệ của mình mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.

Vị ấy hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một bậc A-la-hán.

Khi vị Tỷ-kheo ấy đã chứng quả A-la-hán, vị ấy đến gặp thầy tế độ của mình và thưa: “Bạch thầy, nay thân con không còn cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không còn tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không còn nghi ngờ về giáo pháp.”

Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn đệ tử của mình đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: ‘Bạch thầy, nay thân con không còn cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không còn tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không còn nghi ngờ về giáo pháp.’”

"Này Tỷ-kheo, sự việc là như vậy khi các căn của con được phòng hộ, con tiết độ trong ăn uống, con chuyên tâm vào sự tỉnh thức, con có thể nhận biết các pháp thiện, và con theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông. Thân con không cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không có nghi ngờ về giáo pháp.

Vậy các con nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, nhận biết các pháp thiện, và theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông.’ Đó là cách các con nên tu tập."

(VI) (56) Thân Giáo Sư

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến vị giáo thọ của mình, sau khi đến, thưa với vị giáo thọ của mình như sau:

− Bạch Thượng tọa, nay thân con cảm thấy như bị say ngọt, con không thấy rõ phương hướng, pháp không được con nhớ đến. Hôn trầm thụy miên chinh phục tâm con và an trú. Không có hoan hỷ, con sống Phạm hạnh. Con có những nghi ngờ đối với Chánh pháp.

2. Rồi Tỷ-kheo ấy đem theo một vị Tỷ-kheo cộng trú, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này nói như sau: “Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy như bị say ngọt, mắt con không thấy rõ phương hướng, pháp không được con nhớ đến. Hôn trầm thụy miên chinh phục tâm con và an trú. Không có hoan hỷ, con sống Phạm hạnh. Con có những nghi ngờ đối với Chánh pháp”.

3.- Sự việc là vậy, này Tỷ-kheo, khi một người sống với các căn không được bảo vệ, với ăn uống không có tiết độ, không có chú tâm cảnh giác, không có quán nhìn các thiện pháp, không có trước đêm và sau đêm chuyên chú tu tập các pháp giác chi. Do vậy, thân Thầy cảm thấy như bị say ngọt, mắt Thầy không thấy rõ phương hướng, pháp không được Thầy nhớ đến. Hôn trầm thụy miên chinh phục tâm Thầy và an trú. Không có hoan hỷ, Thầy sống Phạm hạnh. Thầy có những nghi ngờ đối với Chánh pháp. Do vậy, này Tỷ-kheo, Thầy phải học tập như sau: “Ta sẽ bảo vệ các căn, có tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, quản nhìn các Thiện pháp, trước đêm và sau đêm ta sẽ sống chuyên chú tu tập các pháp giác chi”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

4. Rồi Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tin cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy hoàn toàn liễu tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không có trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.

Rồi Tỷ-kheo đã chứng đắc A-la-hán ấy đi đến vị giáo thọ sư của mình, sau khi đến, thưa với vị giáo thọ sư của mình:

5.- Bạch Thượng tọa, nay thân con không cảm thấy như bị say ngọt, mắt con thấy rõ các phương hướng. Pháp được con nhớ rõ. Với tâm hoan hỷ, con sống Phạm hạnh, Con không còn nghi nhờ đối với các thiện pháp.

6. Rồi Tỷ-kheo ấy đem theo một Tỷ-kheo cộng trú; đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: -Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: “Bạch Thế tôn, nay thân con không cảm thấy như bị say ngọt, con thấy rõ các phương hướng, pháp được con nhớ rõ. Với tâm hoan hỷ, con sống Phạm hạnh. Con không còn nghi ngờ đối với các thiện pháp”.

7.- Như vậy là phải, này Tỷ-kheo, khi một người sống với các căn được bảo vệ, với ăn uống có tiết độ, có chú tâm cảnh giác, có quán nhìn các thiện pháp, trước đêm và sau đêm sống chuyên chú tu tập các pháp giác chi. Do vậy, thân không cảm thấy như bị say ngọt, các phương hướng được hiện rõ, và pháp được người ấy nhớ rõ. Hôn trầm thụy miên không còn chinh phục tâm của vị ấy. Với tâm hoan hỷ, vị ấy sống Phạm hạnh. Vị ấy không còn nghi ngờ đối với các thiện pháp. Vậy này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ bảo vệ các căn, có tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm cảnh giác quán nhìn các thiện pháp, trước đêm và sau đêm, ta sẽ sống chuyên chú tu tập các pháp giác chi”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 5.57 Các Pháp Cần Thường Xuyên Quán Xét Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhānasutta

"Này các Tỷ-kheo, người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét năm điều này. Năm điều ấy là gì?

‘Ta có bản chất già, không thoát khỏi già.’ Người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét điều này.

‘Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh.’ …

‘Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết.’ …

‘Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến.’ …

‘Ta là chủ nhân của nghiệp (deeds / hành động có chủ ý), là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy.’ Người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét điều này.

Lợi ích gì cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất già, không thoát khỏi già’? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về tuổi trẻ, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về tuổi trẻ, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất già, không thoát khỏi già’.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh’? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về sức khỏe, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về sức khỏe, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh’.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết’? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về sự sống, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về sự sống, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết’.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến’? Có những chúng sinh, do bị kích động bởi ham muốn và dục vọng đối với những gì thân ái, quý mến, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ ham muốn và dục vọng đối với những gì thân ái, quý mến, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: ‘Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến’.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét như thế này: ‘Ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy’? Có những chúng sinh làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ hành vi xấu ác, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét như thế này: ‘Ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy.’

Khi ấy, vị Thánh đệ tử quán xét: ‘Không chỉ riêng ta có bản chất già, không thoát khỏi già. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất già theo tự nhiên.’ Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc) và loại trừ các tùy miên (underlying tendencies / những khuynh hướng ngấm ngầm).

‘Không chỉ riêng ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất bệnh theo tự nhiên.’ Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

‘Không chỉ riêng ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất chết theo tự nhiên.’ Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

‘Không chỉ riêng ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến theo tự nhiên.’ Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

‘Không chỉ riêng ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp theo tự nhiên.’ Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

Với người khác, bệnh tật là tự nhiên,
Cũng như tuổi già và cái chết.
Dù bản chất của họ là vậy,
Người phàm phu cảm thấy ghê tởm.

Nếu ta cũng ghê tởm
Với những chúng sinh có bản chất như thế,
Điều đó không thích hợp với ta,
Vì đời sống của ta cũng y như vậy.

Sống theo cách như vậy,
Ta hiểu chân lý không còn chấp thủ.
Ta chế ngự mọi kiêu hãnh—
Về sức khỏe, về tuổi trẻ,

Và cả về sự sống—
Thấy sự từ bỏ là nơi ẩn náu an toàn.
Nhiệt tâm khởi lên trong ta
Khi ta hướng về Niết-bàn.

Giờ đây ta không thể
Đắm mình trong dục lạc;
Không còn đường quay lại,
Ta quyết tâm với đời sống phạm hạnh."

(VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát

1.- Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

2. “Ta phải bị già, không thoát khỏi già” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác sẽ phải biến diệt”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

3. Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mãn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

4. Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

5. Có những lời hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

6. Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

7. Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

8. Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị bệnh, không thoát khỏi bệnh, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị chết, không thoát khỏi chết, nhưng phàm có những loài hữu tình nào, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy phải bị chết, không thoát khỏi chết…” … “Không phải chỉ có các pháp khả ái, khả ý của riêng một mình ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, các pháp khả ái, khả ý của tất cả loài hữu tình ấy sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt…”. “Không phải chỉ có một mình ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Do vị ấy thường xuyên quán sát dự kiện ấy, nên con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử dụng được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

Bị bệnh và bị già,
Lại thêm phải bị chết,
Pháp yếu là như vậy,
Hữu tình là như vậy.
Phàm phu sanh nhàm chán,
Thật không hợp cho Ta,
Nếu Ta cũng nhàm chán,
Ðối với các chúng sanh,
Cùng chung một số phận.
Trong khi đời sống Ta,
Không khác gì đời họ,
Ta được sống như vậy,
Biết pháp không sanh y,
Kiêu mạn trong không bệnh,
Trong tuổi trẻ sinh mạng,
Tất cả Ta nhiếp phục
Phát xuất từ an ổn,
Ta thấy hạnh viễn ly,
Ta phát tâm dõng mãnh,
Thấy được cảnh Niết-bàn.
Nay Ta không có thể,
Hưởng thọ các dục vọng,
Ta sẽ không thối đọa,
Chứng cứu cánh Phạm hạnh.

AN 5.58 Các Thanh Niên Licchavi Licchavikumārakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm (Mahāvana), trong Trùng Các Giảng Đường (Kūtāgārasālā).

Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát, vào Vesālī để khất thực. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, Ngài đi sâu vào rừng Đại Lâm và ngồi dưới gốc cây để thiền định ban ngày.

Bấy giờ, một số thanh niên Licchavi mang theo cung đã giương dây, dẫn theo một bầy chó săn, đi dạo trong rừng Đại Lâm thì thấy Đức Phật đang ngồi dưới gốc cây. Khi thấy Ngài, họ đặt cung đã giương dây xuống, buộc chó săn sang một bên, rồi đến gần Ngài. Họ đảnh lễ và lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật.

Bấy giờ, Mahānāma người Licchavi đang đi dạo trong rừng Đại Lâm thì thấy các thanh niên Licchavi ấy đang lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật. Thấy vậy, ông đến gần Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thốt lên lời cảm thán này: “Họ sẽ trở thành người Vajjī! Họ sẽ trở thành người Vajjī!”

“Nhưng này Mahānāma, tại sao ông lại nói rằng họ sẽ trở thành người Vajjī?”

“Bạch Thế Tôn, các thanh niên Licchavi này bạo lực, thô lỗ và xấc xược. Bất cứ khi nào các gia đình để đồ ngọt ra—mía, táo tàu, bánh kếp, bánh nướng, hay bánh rán—chúng lén lấy và ăn hết. Và chúng đánh vào lưng phụ nữ và thiếu nữ con nhà lành. Nhưng bây giờ chúng đang lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật.”

"Này Mahānāma, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, khi tìm thấy năm phẩm chất này ở bất kỳ người thiện gia nào—dù người ấy là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, quan chức được bổ nhiệm hay cha truyền con nối, tướng quân, trưởng làng, trưởng phường hội, hay người đứng đầu gia tộc của mình.

Năm phẩm chất ấy là gì?

Thứ nhất, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình—kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay, thu thập bằng mồ hôi công sức—để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng cha mẹ mình. Được tôn kính như vậy, cha mẹ yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: ‘Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!’ Khi một người thiện gia được cha mẹ yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên. Được tôn kính như vậy, vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: ‘Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!’ Khi một người thiện gia được vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình. Được tôn kính như vậy, những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: ‘Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!’ Khi một người thiện gia được những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng các vị trời thần nhận vật cúng tế. Được tôn kính như vậy, các vị trời thần nhận vật cúng tế yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: ‘Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!’ Khi một người thiện gia được các vị trời thần yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Được tôn kính như vậy, các vị Sa-môn và Bà-la-môn yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: ‘Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!’ Khi một người thiện gia được các vị Sa-môn và Bà-la-môn yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, khi tìm thấy năm phẩm chất này ở bất kỳ người thiện gia nào—dù người ấy là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, quan chức được bổ nhiệm hay cha truyền con nối, tướng quân, trưởng làng, trưởng phường hội, hay người đứng đầu gia tộc của mình.

Người ấy luôn hiếu thảo với cha mẹ,
Và vì lợi ích của vợ con.
Người ấy chăm lo cho những người trong nhà,
Và những người sống nhờ vào mình.

Một người tử tế và có đạo đức
Chăm lo phúc lợi cho quyến thuộc—
Cả những người đã qua đời,
Và những người còn sống hiện tại.

Khi sống tại gia, người khôn ngoan
Dùng phương tiện chính đáng để tạo niềm vui
Cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn,
Và cả chư Thiên nữa.

Sau khi đã làm điều tốt,
Người ấy đáng kính và đáng tán dương.
Người đời ca ngợi người ấy trong đời này,
Và người ấy ra đi để hưởng phúc trên thiên giới."

(VIII) (58) Thanh Niên Licchavi

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài đi sâu vào Ðại lâm, và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.

Lúc bấy giờ, một số đông thanh niên Licchavi cầm các cung được chuẩn bị sẵn sàng với đàn chó bao vây xung quanh, đang đi qua đi lại ở Ðại Lâm, thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy họ liền bỏ các cung được chuẩn bị sẵn sàng xuống, kéo đàn chó về một phía và đi đến Thế Tôn. Sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn. Lúc bấy giờ, Mahànàma người Licchavi bộ hành đi qua đi lại trong rừng Ðại Lâm, thấy các thanh niên Licchavi đang yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn. Thấy vậy, ông đi đến gần Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahànàma người Licchavi nói lên lời cảm hứng ngữ:

− Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji!

− Này Mahànàma, sao Ông lại nói như vậy: “Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji”? − Bạch Thế Tôn, những thanh niên Licchavi này là hung bạo, thô ác, ngạo mạn. Các đồ vật được các gia đình gửi đi như mía, trái táo, bánh ngọt, kẹo đường, họ cướp giật và ăn; họ đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ các gia đình; nhưng nay họ đứng yên lặng, yên lặng chắp tay hầu hạ Thế Tôn.

− Ðối với thiện nam tử nào, này Mahànàma, năm pháp này được tìm thấy, dầu là vua Sát-đếly đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất trại của người cha, hay là vị tướng trong quân đội hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: “Mong rằng (con ta) được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!” Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm tiếu.

3. Lại nữa, này Mahànàma, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ người làm công. Vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ, người làm công và được người ấy cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương tưởng người ấy: “Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!” Và này Mahànàma, một thiện nam tử được vợ con, người phục vụ, người làm công thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là giảm thiểu.

4. Lại nữa, này Mahànama, vị thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảng lễ, cúng dường các người làm ruộng các chức sắc ở biên cương. Những người làm ruộng các chức sắc ở biên cương được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường… chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

5. Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tải sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế. Chư Thiên nhận lãnh các vật cúng tế được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường… chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

6. Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: “Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài.” Và này Mahànama, với một thiện nam tử được các Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

Ðối với vị thiện nam tử nào, này Mahànama, năm pháp này được tìm thấy, dầu là Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất của người cha, hay là vị tướng trong quân đội, hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

Mẹ cha lo phục vụ,
Vợ con thường thương tưởng,
Vì hạnh phúc nội nhân,
Cùng với kẻ từng sự,
Vì hạnh phúc cả hai,
Lời hòa nhã, giữ giới,
Vì hạnh phúc bà con,
Vì hương linh đi trước,
Vì mạng sống hiện tại,
Vì Sa-môn, Phạm chí,
Vì chư Thiên bậc trí
Thành người ban hạnh phúc.
Sống gia đình, đúng pháp,
Vị ấy làm thiện sự,
Ðược cúng dường tán thán,
Ðời này họ được khen,
Ðời sau sống hoan hỷ,
Trong cảnh giới chư Thiên.

AN 5.59 Xuất Gia Khi Già (1) Paṭhamavuḍḍhapabbajitasutta

“Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất. Năm phẩm chất ấy là gì? Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà tinh tế, có uy nghi, và học rộng, có thể giảng Pháp, và thuộc lòng giới luật. Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất này.”

(IX) (59) Khó Tìm Ðược (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này. Thế nào là năm?

2, Thật khó tìm được, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia tuổi lại tế nhị; thật khó tìm được một người có uy nghi tốt đẹp; thật khó tìm được một người nghe nhiều; thật khó tìm được một người thuyết pháp; thật khó tìm được một người trì luật.

Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này.

AN 5.60 Xuất Gia Khi Già (2) Dutiyavuḍḍhapabbajitasutta

“Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất. Năm phẩm chất ấy là gì? Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà dễ khuyên bảo, ghi nhớ những gì đã học, và học hỏi với lòng kính trọng, có thể giảng Pháp, và thuộc lòng giới luật. Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất này.”

(X) (60) Khó Tìm Ðược (2)

1. Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này. Thế nào là năm?

2. Thật khó tìm được, này các tỷ-kheo, một người xuất gia lớn tuổi lại khéo nói; thật khó tìm được một người có khả năng nắm giữ cái gì khéo năm giữ; thật khó tìm được một người có cử chỉ tốt đẹp; thật khó tìm được một người thuyết pháp; thật khó tìm được một người trì luật.

Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này.