Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Kakudha

AN 5.91 Thành Tựu (1) Paṭhamasampadāsutta

“Này các Tỳ kheo, có năm sự thành tựu này. Thế nào là năm? Thành tựu về niềm tin (faith / niềm tin vững chắc vào Tam Bảo và nghiệp báo), thành tựu về giới (ethics / đạo đức, các quy tắc hành vi), thành tựu về văn (learning / sự học hỏi giáo pháp), thành tựu về thí (generosity / sự bố thí, cho đi), và thành tựu về trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn về bản chất sự vật). Đó là năm sự thành tựu.”

X. Phẩm Kakudha

(I) (91) Ðầy Ðủ (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm đầy đủ này. Thế nào là năm?

2. Tín đầy đủ, giới đầy đủ, nghe đầy đủ, thí đầy đủ, tuệ đầy đủ.

Này các Tỷ-kheo, đây là năm đầy đủ.

AN 5.92 Thành Tựu (2) Dutiyasampadāsutta

“Này các Tỳ kheo, có năm sự thành tựu này. Thế nào là năm? Thành tựu về giới, thành tựu về định (immersion / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng), thành tựu về trí tuệ, thành tựu về giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi), và thành tựu về giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / sự thấy biết rõ ràng về trạng thái giải thoát đã đạt được). Đó là năm sự thành tựu.”

II (92) Ðầy Dủ (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm đầy đủ này. Thế nào là năm?

2. Giới đầy đủ, định đầy đủ, tuệ đầy đủ, giải thoát đầy đủ, giải thoát tri kiến đầy đủ.

Này các Tỷ-kheo, đây là năm đầy đủ.

AN 5.93 Tuyên Bố Byākaraṇasutta

“Này các Tỳ kheo, có năm cách tuyên bố chứng đắc A-la-hán (enlightenment / sự đạt được quả vị A-la-hán, giác ngộ hoàn toàn). Thế nào là năm? Do ngu si, khờ dại mà tuyên bố chứng đắc A-la-hán. Hoặc do ước muốn xấu xa, có tâm đầy tham vọng. Hoặc do điên cuồng, loạn tâm. Hoặc do quá tự mãn. Hoặc tuyên bố chứng đắc A-la-hán một cách đúng đắn. Đó là năm cách tuyên bố chứng đắc A-la-hán.”

(III) (93) Trả Lời

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm cách trả lời về chánh trí này. Thế nào là năm?

2. Vì đần độn, vì ngu si, trả lời về chánh trí; vì ác dục, vì bị dục chi phối, trả lời về chánh trí, vì kiêu mạn, vì tâm tán loạn trả lời về chánh trí; vì tăng thượng mạn, trả lời về chánh trí; vì hoàn toàn chơn chánh, trả lời về chánh trí.

Này các Tỷ-kheo, có năm cách trả lời về chánh trí này.

AN 5.94 Sống An Lạc Phāsuvihārasutta

“Này các Tỳ kheo, có năm cách sống an lạc này. Thế nào là năm? Đó là khi một vị Tỳ kheo, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / niềm vui thích qua năm giác quan), ly bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm bất lợi, gây khổ đau), chứng và trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền định thứ nhất, có tầm, tứ, vui vẻ, an vui, nhất tâm), một trạng thái có vui vẻ (rapture / trạng thái hân hoan, phấn khởi của tâm) và an vui (bliss / trạng thái hạnh phúc, dễ chịu của thân và tâm) do ly (seclusion / sự xa lánh các dục lạc và pháp bất thiện) sanh, với tầm (placing the mind / sự hướng tâm ban đầu đến đối tượng thiền) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng thiền một cách liên tục). Khi tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền định thứ hai, không tầm, không tứ, có nội tĩnh nhất tâm, vui vẻ, an vui, định sanh)… tam thiền (third absorption / tầng thiền định thứ ba, ly vui vẻ, trú xả, tỉnh thức, biết rõ, thân cảm giác an vui)… tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền định thứ tư, xả an vui, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, không khổ không an vui, xả niệm thanh tịnh)… Vị ấy tự mình với thắng trí (insight / sự hiểu biết trực tiếp, sâu sắc thông qua tuệ quán) chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi mọi phiền não ô nhiễm), tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát đạt được nhờ trí tuệ thấy rõ Tứ Thánh Đế) do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những phiền não làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi). Đó là năm cách sống an lạc.”

(IV) (94) Lạc Trú

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lạc trú này. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ, làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư… do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm lạc trú.

AN 5.95 Bất Động Akuppasutta

“Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo nào có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động (unshakable / trạng thái tâm không còn lay chuyển bởi bất cứ điều gì). Thế nào là năm? Đó là khi vị Tỳ kheo đạt được sự phân tích nghĩa (textual analysis of meaning / sự hiểu rõ ý nghĩa của giáo pháp), pháp (text / lời dạy của Phật, giáo pháp), từ ngữ (terminology / các thuật ngữ chuyên môn trong giáo pháp), và biện tài (eloquence / khả năng trình bày, giải thích giáo pháp một cách lưu loát, rõ ràng), và vị ấy quán xét mức độ tâm giải thoát (mind’s freedom / trạng thái tâm đã được giải thoát) của mình. Vị Tỳ kheo nào có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động.”

(V) (95) Bất Ðộng

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu thể nhập vào bất động. Thế nào là năm? 2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được nghĩa vô ngại giải, đạt được pháp vô ngại giải, đạt được từ vô ngại giải, đạt được biện tài vô ngại giải, quán sát tâm như đã giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu thể nhập vào bất động.

AN 5.96 Ghi Nhớ Những Gì Đã Học Sutadharasutta

"Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo tu tập niệm hơi thở (mindfulness of breathing / phương pháp thiền định chú tâm vào hơi thở ra vào) mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động. Thế nào là năm?

Đó là khi vị Tỳ kheo ít có yêu cầu và phận sự, sống nhẹ nhàng và biết đủ với các vật dụng cần thiết (life’s necessities / bốn món vật dụng cơ bản của tu sĩ: y, vật thực, chỗ ở, thuốc men).

Vị ấy ăn ít, không chú trọng việc làm đầy bụng.

Vị ấy ít buồn ngủ (drowsiness / trạng thái mơ màng, thiếu tỉnh táo), chuyên tâm vào sự tỉnh giác (wakefulness / trạng thái tâm tỉnh táo, nhận biết rõ ràng).

Vị ấy là bậc đa văn (learned / người đã nghe và ghi nhớ nhiều giáo pháp), ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh, hướng đến giải thoát) hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy là bậc đa văn về những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, suy ngẫm trong tâm, và thông hiểu chúng về mặt lý thuyết.

Vị ấy quán xét mức độ tâm giải thoát của mình.

Vị Tỳ kheo tu tập niệm hơi thở mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động."

(VI) (96) Nghe Pháp

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, công việc không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời, ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử; ít thụy miên, chuyên chú trong giác tỉnh; nghe nhiều, thọ trì nhiều, tích lũy điều đã nghe; các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp ấy, Tỷ-kheo đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến; quán sát tâm như đã được giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.

AN 5.97 Pháp Đàm Kathāsutta

"Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo phát triển niệm hơi thở mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động. Thế nào là năm?

Đó là khi vị Tỳ kheo ít có yêu cầu và phận sự, sống nhẹ nhàng và biết đủ với các vật dụng cần thiết.

Vị ấy ăn ít, không chú trọng việc làm đầy bụng.

Vị ấy ít buồn ngủ, chuyên tâm vào sự tỉnh giác.

Vị ấy được tham dự vào các cuộc pháp đàm về sự tẩy sạch phiền não (self-effacement / sự tu tập làm giảm nhẹ, loại bỏ phiền não, chấp ngã) giúp khai mở tâm trí, bất cứ khi nào muốn, không khó khăn hay trở ngại. Đó là, pháp đàm về thiểu dục (fewness of wishes / sự ít ham muốn về vật chất và danh lợi), tri túc (contentment / sự biết đủ với những gì mình có), ly, sống độc cư (keeping your distance / giữ khoảng cách với đám đông, sống một mình), phát khởi siêng năng (arousing energy / sự nỗ lực, tinh cần trong tu tập), giới, định, trí tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.

Vị ấy quán xét mức độ tâm giải thoát của mình.

Vị Tỳ kheo phát triển niệm hơi thở mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động."

(VII) (97) Nói Chuyện

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, việc làm không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời; ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử; ít thụy miên, chuyên chú vào giác tỉnh; đối với các câu chuyện nghiêm trang, khai tâm, như câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến, các câu chuyện ấy, vị ấy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức; vị ấy quán sát tâm như đã được giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.

AN 5.98 Ở Nơi Rừng Sâu Āraññakasutta

“Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo thực hành niệm hơi thở mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động. Thế nào là năm? Đó là khi vị Tỳ kheo ít có yêu cầu và phận sự, sống nhẹ nhàng và biết đủ với các vật dụng cần thiết. Vị ấy ăn ít, không chú trọng việc làm đầy bụng. Vị ấy ít buồn ngủ, chuyên tâm vào sự tỉnh giác. Vị ấy sống ở rừng sâu (wilderness / nơi hoang vắng, thích hợp cho tu tập ẩn dật), tại những chỗ ở xa vắng (remote lodgings / nơi ở yên tĩnh, cách xa khu dân cư). Vị ấy quán xét mức độ tâm giải thoát của mình. Vị Tỳ kheo thực hành niệm hơi thở mà có năm pháp này sẽ sớm chứng đạt được trạng thái bất động.”

(VIII) (98) Rừng

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho sung mãn Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, việc làm không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời; ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử, ít thụy miên, chuyên chú vào giác tỉnh; sống ở trong rừng, sống tại các sàng tọa xa vắng; quán sát tâm như đã được giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho sung mãn Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.

AN 5.99 Sư Tử Sīhasutta

"Này các Tỳ kheo, vào buổi chiều, sư tử, vua của các loài thú, ra khỏi hang, ngáp, nhìn khắp bốn phương, và rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Rồi nó lên đường đi săn. Nếu nó tấn công một con voi, nó làm điều đó cẩn thận, không bất cẩn. Nếu nó tấn công một con trâu… một con bò… một con báo… hay bất kỳ sinh vật nhỏ hơn nào—ngay cả một con thỏ hay một con mèo—nó cũng làm điều đó cẩn thận, không bất cẩn. Tại sao vậy? Vì nghĩ rằng: ‘Mong rằng ta không mất phương hướng.’

‘Sư tử’ là một thuật ngữ chỉ Như Lai (Realized One / bậc đã đạt đến chân lý như thật, một danh hiệu của Phật), bậc A-la-hán (perfected one / bậc thánh đã diệt tận phiền não, xứng đáng được cúng dường), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ chân lý một cách hoàn toàn và đúng đắn). Khi Như Lai thuyết Pháp (Dhamma / giáo pháp, lời dạy của Phật) cho một hội chúng (assembly / đoàn thể, tăng đoàn), đó là tiếng rống sư tử (lion’s roar / ẩn dụ cho lời tuyên bố chân lý mạnh mẽ) của Ngài. Khi Như Lai thuyết pháp cho các Tỳ kheo (monks / nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc)… các Tỳ kheo ni (nuns / nữ tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc)… các cư sĩ nam (laymen / nam Phật tử tại gia)… các cư sĩ nữ (laywomen / nữ Phật tử tại gia)… hay những người thường (ordinary people / dân thường)—ngay cả những người gánh đồ ăn (food-carriers / người phục vụ) và thợ săn (hunters / người săn bắn)—Ngài cũng thuyết giảng cho họ một cách cẩn thận, không bất cẩn. Tại sao vậy? Bởi vì Như Lai có lòng tôn trọng (respect / sự kính trọng) và kính ngưỡng (reverence / sự tôn kính sâu sắc) đối với giáo pháp."

(IX) (99) Con Sư Tử.

1. - Con sư tử, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, từ hang đi ra, sau khi từ hang đi ra, nó duỗi chân; sau khi nó duỗi chân, nó ngó xung quanh cả bốn phương; sau khi nó ngó xung quanh cả bốn phương, ba lần nó rống tiếng rống con sư tử; sau khi ba lần rống tiếng rống con sư tử, nó ra đi tìm mồi. Nếu nó vồ bắt con voi, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con thủy ngưu, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con báo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt các con vật nhỏ khác như thỏ hay mèo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? “Mong rằng uy lực của ta không có thất bại”.

2. Con sư tử, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác. Khi Như Lai thuyết pháp cho hội chúng, tức là rống tiếng rống con sư tử. Này các Tỷ-kheo, nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo Ni, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nam cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nữ cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng phàm phu, cho các người bắt chim hay xin ăn, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? Vì Như Lai là bậc tôn trọng Pháp, này các Tỷ-kheo, là bậc tôn kính Pháp.

AN 5.100 Với Kakudha Kakudhatherasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Thế Tôn trú gần Kosambī, tại tu viện Ghosita.

Lúc bấy giờ, người thuộc dòng Koliyan tên là Kakudha—vị thí chủ (supporter / người cúng dường, hỗ trợ vật chất cho Tăng đoàn) của Tôn giả Mahāmoggallāna—vừa mới qua đời và được tái sanh vào một ý sanh thân thiên chúng (host of mind-made gods / một cõi trời nơi chúng sinh được hóa sinh bằng ý nghĩ) nào đó. Vị ấy tái sanh với một tự thể (life-form / hình dạng thân thể) lớn gấp hai hoặc ba lần một ngôi làng ở Magadha cùng với ruộng đất của nó. Nhưng với tự thể đó, vị ấy không gây trở ngại cho mình hay cho người khác.

Rồi vị trời Kakudha đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna, đảnh lễ, đứng sang một bên và nói với Tôn giả: “Thưa Tôn giả, Devadatta đã khởi lên ý muốn cố định này: ‘Ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn Tỳ kheo (mendicant Saṅgha / đoàn thể tu sĩ khất thực).’ Và ngay khi ý nghĩ đó khởi lên, Devadatta đã mất đi thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên) ấy.”

Đó là những gì vị trời Kakudha đã nói. Sau đó, vị ấy đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Tôn giả Mahāmoggallāna theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đã xảy ra.

“Nhưng này Moggallāna, ông có thấu hiểu tâm của vị trời Kakudha, và biết rằng mọi điều vị ấy nói đều đúng sự thật, không sai khác không?”

“Thưa Thế Tôn, con đã làm được như vậy.”

"Hãy ghi nhớ những lời này, Moggallāna! Hãy ghi nhớ những lời này! Giờ đây, người ngu si (futile man / kẻ vô ích, dại dột) Devadatta đó sẽ tự bộc lộ mình qua chính hành động của y.

Này Moggallāna, có năm hạng vị đạo sư (teacher / người thầy dạy đạo) này được tìm thấy trên thế gian. Thế nào là năm?

Thứ nhất, có vị đạo sư có giới hạnh không trong sạch (impure conduct / đạo đức không thanh tịnh) lại tuyên bố: ‘Ta có giới hạnh (ethical conduct / phẩm hạnh đạo đức) trong sạch (pure / thanh tịnh). Giới hạnh của ta trong sạch, sáng chói (bright / rực rỡ), không ô nhiễm (uncorrupted / không tỳ vết).’ Nhưng các đệ tử (disciples / học trò) của vị ấy biết: ‘Vị đạo sư này có giới hạnh không trong sạch, nhưng lại tuyên bố là có giới hạnh trong sạch. Vị ấy sẽ không thích nếu chúng ta nói cho người tại gia (laypeople / người không xuất gia) biết. Và làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy theo cách mà vị ấy không thích? Nhưng vị ấy chấp nhận y (robes / áo cà sa), vật thực khất thực (almsfood / thức ăn xin được), sàng tọa (lodgings / chỗ ở), và dược phẩm trị bệnh (medicines and supplies for the sick / thuốc men và vật dụng cho người bệnh). Một người sẽ được nhận biết qua chính hành động của mình.’ Các đệ tử của một vị đạo sư như vậy che giấu giới hạnh của thầy mình, và vị thầy mong đợi họ làm như vậy.

Hơn nữa, có vị đạo sư có sinh kế không trong sạch (impure livelihood / cách kiếm sống không chân chính) lại tuyên bố: ‘Ta có sinh kế trong sạch. Sinh kế của ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Nhưng các đệ tử của vị ấy biết: ‘Vị đạo sư này có sinh kế không trong sạch, nhưng lại tuyên bố là có sinh kế trong sạch. Vị ấy sẽ không thích nếu chúng ta nói cho người tại gia biết. Và làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy theo cách mà vị ấy không thích? Nhưng vị ấy chấp nhận y, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Một người sẽ được nhận biết qua chính hành động của mình.’ Các đệ tử của một vị đạo sư như vậy che giấu sinh kế của thầy mình, và vị thầy mong đợi họ làm như vậy.

Hơn nữa, có vị đạo sư có giáo pháp không trong sạch (impure teaching / lời dạy không đúng đắn) lại tuyên bố: ‘Ta có giáo pháp trong sạch. Giáo pháp của ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Nhưng các đệ tử của vị ấy biết: ‘Vị đạo sư này có giáo pháp không trong sạch, nhưng lại tuyên bố là có giáo pháp trong sạch. Vị ấy sẽ không thích nếu chúng ta nói cho người tại gia biết. Và làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy theo cách mà vị ấy không thích? Nhưng vị ấy chấp nhận y, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Một người sẽ được nhận biết qua chính hành động của mình.’ Các đệ tử của một vị đạo sư như vậy che giấu giáo pháp của thầy mình, và vị thầy mong đợi họ làm như vậy.

Hơn nữa, có vị đạo sư có cách trả lời không trong sạch (impure answers / sự giải đáp không đúng đắn) lại tuyên bố: ‘Ta có cách trả lời trong sạch. Cách trả lời của ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Nhưng các đệ tử của vị ấy biết: ‘Vị đạo sư này có cách trả lời không trong sạch, nhưng lại tuyên bố là có cách trả lời trong sạch. Vị ấy sẽ không thích nếu chúng ta nói cho người tại gia biết. Và làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy theo cách mà vị ấy không thích? Nhưng vị ấy chấp nhận y, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Một người sẽ được nhận biết qua chính hành động của mình.’ Các đệ tử của một vị đạo sư như vậy che giấu cách trả lời của thầy mình, và vị thầy mong đợi họ làm như vậy.

Hơn nữa, có vị đạo sư có tri kiến không trong sạch (impure knowledge and vision / thấy biết không đúng đắn) lại tuyên bố: ‘Ta có tri kiến trong sạch. Tri kiến của ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Nhưng các đệ tử của vị ấy biết: ‘Vị đạo sư này có tri kiến không trong sạch, nhưng lại tuyên bố là có tri kiến trong sạch. Vị ấy sẽ không thích nếu chúng ta nói cho người tại gia biết. Và làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy theo cách mà vị ấy không thích? Nhưng vị ấy chấp nhận y, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Một người sẽ được nhận biết qua chính hành động của mình.’ Các đệ tử của một vị đạo sư như vậy che giấu tri kiến của thầy mình, và vị thầy mong đợi họ làm như vậy. Đó là năm hạng vị đạo sư được tìm thấy trên thế gian.

Nhưng này Moggallāna, Ta có giới hạnh trong sạch, và Ta tuyên bố: ‘Ta có giới hạnh trong sạch. Giới hạnh của Ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của Ta không che giấu giới hạnh của Ta, và Ta không mong đợi họ làm như vậy. Ta có sinh kế trong sạch, và Ta tuyên bố: ‘Ta có sinh kế trong sạch. Sinh kế của Ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của Ta không che giấu sinh kế của Ta, và Ta không mong đợi họ làm như vậy. Ta có giáo pháp trong sạch, và Ta tuyên bố: ‘Ta có giáo pháp trong sạch. Giáo pháp của Ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của Ta không che giấu giáo pháp của Ta, và Ta không mong đợi họ làm như vậy. Ta có cách trả lời trong sạch, và Ta tuyên bố: ‘Ta có cách trả lời trong sạch. Cách trả lời của Ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của Ta không che giấu cách trả lời của Ta, và Ta không mong đợi họ làm như vậy. Ta có tri kiến trong sạch, và Ta tuyên bố: ‘Ta có tri kiến trong sạch. Tri kiến của Ta trong sạch, sáng chói, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của Ta không che giấu tri kiến của Ta, và Ta không mong đợi họ làm như vậy."

(X) (100) Kakudha

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ Kakudha, người Koliya, là thị giả của Tôn giả Mahàmoggallàna vừa mệnh chung và sanh ra với một thân do ý tạo, thân ấy với tự thể có được (to rộng) ví như hai hay ba thửa ruộng làng ở Magadha. Vị ấy, với tự thể như vậy, không làm cho tự mình hay làm cho người khác bị bệnh. Rồi Thiên tử Kakudha đi đến thời gian Mahàmoggallàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggallàna rồi đứng một bên. Thiên tử Kakudha thưa với Tôn giả Mahàmoggallàna:

− Thưa Tôn giả, Devadatta có khởi lên ý muốn như sau: “Ta sẽ lãnh đạo chúng Tăng”. Với tâm khởi lên như vậy, thưa Tôn giả, thần thông của Devadatta bị thối thất.

Thiên tử Kakudha nói lên như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggallàna, thân phía hữu hướng về ngài rồi biến mất tại chỗ. Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Kakudha, người xứ Koliya, là thị giả của con, mệnh chung không bao lâu, sanh ra với thân do ý tạo thành, thân ấy với tự thể có được (to rộng) ví như hai hay ba thửa ruộng làng ở Magadha. Vị ấy với tự thể như vậy, không làm cho tự mình hay làm cho người khác bị bệnh. Rồi Thiên tử Kakudha đi đến con; sau khi đến, đảnh lễ con rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, bạch Thế Tôn, Thiên tử Kakudha thưa với con: “Thưa Tôn giả, Devadatta có khởi lên ý muốn như sau: “Ta sẽ lãnh đạo chúng Tăng”. Với tâm khởi lên như vậy. Thưa Tôn giả, thần thông của Devadatta bị thối thất”. Thiên tử Kakudha, bạch Thế Tôn, nói lên như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ con, rồi thân phía hữu hướng về con rồi biến mất.

− Này Moggallàna, có phải Thầy với tâm của mình biết được tâm của Thiên tử Kakudha rằng: “Ðiều gì Thiên tử Kakudha nói lên, tất cả đều là như vậy, không thể khác được”?

− Bạch Thế Tôn, với tâm của con, con biết được tâm của Thiên tử Kakudha rằng: “Ðiều gì Thiên tử Kakudha nói lên, tất cả đều là như vậy, không thể khác được”. − Này Moggallàna, hãy phòng hộ lời nói này! Này Moggallàna, hãy phòng hộ lời nói này. Nay kẻ ngu si ấy sẽ tự mình thấy rõ tự mình. Này Moggallàna, có năm bậc Ðạo sư này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này Moggallàna, có vị Ðạo sư, giới không thanh tịnh lại tự cho rằng: “Ta có giới thanh tịnh. Giới của ta thanh tịnh, chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này có giới không thanh tịnh, lại tự nghĩa rằng: “ta có giới thanh tịnh. Giới của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư sẽ không bằng lòng. Và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở giới cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở về giới cho mình.

3. Lại nữa, này Moggallàna ở đây có bậc Ðạo sư mạng sống không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta có mạng sống thanh tịnh. Mạng sống của ta thanh tịnh chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Vị Tôn giả Ðạo sư này có mạng sống không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta có mạng sống thanh tịnh. Mạng sống của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư ấy không bằng lòng, và nếu vị ấy không bằng lòng thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã Sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở mạng sống cho bậc Ðạo sư và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở mạng sống cho mình.

4. Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư thuyết pháp không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta thuyết pháp thanh tịnh. Thuyết pháp của ta thanh tịnh, chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này thuyết giảng không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta thuyết pháp thanh tịnh. Thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị đạo sư sẽ không bằng lòng. Và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử phòng hộ sự thuyết pháp cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở thuyết pháp cho mình.

5. Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư trả lời không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta trả lời thanh tịnh. Trả lời của ta thanh tịnh, chới sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này trả lời không thanh tịnh, lại nghĩ rằng: “Ta trả lời thanh tịnh. Trả lời của ta thanh tịnh, chói sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư sẽ không bằng lòng và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở trả lời cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở trả lời cho mình.

6. Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư tri kiến không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta có tri kiến thanh tịnh. Tri kiến của ta thanh tịnh, chới sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này tri kiến không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta có tri kiến thanh tịnh. Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư sẽ không bằng lòng và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở trả lời cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở tri kiến cho mình. 7. Này Moggallàna, Ta có giới thanh tịnh, và Ta tự biết: “Giới của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về giới, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về giới. Mạng sống của Ta thanh tịnh. Ta tự rõ biết: “Mạng sống của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về mạng sống, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở cho Ta về mạng sống. Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về thuyết pháp và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về thuyết pháp. Các câu trả lời của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết :” Các câu trả lời của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về các câu trả lời, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về các câu trả lời. Tri kiến của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Tri kiến của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về tri kiến, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về tri kiến.